Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ năm, 01/11/2007 17:42 (GMT+7)

“Cổng làng Hà Nội xưa và nay”

Là dân Việt, khi nghĩ về quê hương, nói đến quê hương, người ta thường liên tưởng ngay tới “cây đa - bến nước - mái đình”; và cũng không bao giờ lại không nhớ đến cái cổng làng đầy ấn tượng, nhất là mỗi khi rảo bước về thôn. Cổng làng là điểm nhấn, là dấu tích, là ranh giới khởi đầu của một cộng đồng cư trú, mà trong xã hội cổ truyền thường quần tụ theo quan hệ thân - thích. Vì thế, cổng làng là cái ngưỡng cửa để mỗi người trở về tổ ấm gia đình.

Là dân Việt xưa, ai cũng có một thời để yêu, thương và nhớ tới cổng làng. Đó là nơi hóng mát vào những ngày hè oi ả, khuất sau cổng làng là không gian ấm áp, tránh gió mùa đông. Đó cũng là nơi chơi chò trốn tìm của bầy trẻ nhỏ. Và hơn thế, ở mỗi miền quê, cổng làng luôn là Bến đợi đến nao lòng: đợi mẹ, đợi bà đi chợ; đợi cha đi xa lâu mới về nhà; đợi anh, đợi chị đi học trường huyện về; đợi khách quý từ xa tới; trai làng kia đợi gái làng này ê ấp ngóng trông, thấp thoáng sau trụ cổng làng. Là Bến đợinên cổng làng cũng là nơi hằng xao xuyến dừng chân để diễn ra những cuộc chia tay nhiều khi phải rướm lệ! Ai mà chẳng biết cái cổng làng thân thiết đến thế!

“ … Ngày nay dù ở nơi xa

Mỗi khi nhớ đến cây đa đầu làng

Thì bao nhiêu cảnh mơ màng

Hiện lên khi thoáng cổng làng trong tre”

(Bàng Bá Lân)

Trên đây là một khổ thơ nói về tình cảm của những kẻ xa quê; còn đối với người Hà Nội - dân của 36 phố phường xưa thì chắc hẳn là: “Ở giữa quê nhà, nhớ cố hương”, vì trong quá trình cận kề nghìn năm tuổi đô thị hoá, mở rộng Hà Thành, đa số các cổng làng ấm tình quê ấy, đã lần lượt đi vào dĩ vãng, đi cả vào quên lãng! Một số cổng làng còn nhưng cũng tiềm ẩn không ít răn đe sẽ bị xoá sổ vào một tương lai gần!

Di tích cổng làng Đồng Trì, xã Tứ Hiệp, huyện Thanh Trì.
Di tích cổng làng Đồng Trì, xã Tứ Hiệp, huyện Thanh Trì.
Trong bối cảnh ấy, Vũ Kiêm Ninh đã đón nhận được tình quê, những thuần phong mỹ tục của các làng Việt cổ truyền được tạc vào và được ánh lên từ kiến trúc cổng làng. Bằng công trình sưu tầm,nghiên cứu này, anh đã giúp bạn đọc, nhất là bạn đọc Hà Thành một thoáng nhìn vọng về quá khứ hình ảnh kiến trúc cổng làng Việt nói chung, kiến trúc cổng làng ở Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội xưa vànay nói riêng. Bằng cách này, anh đã làm thức dậy một tình yêu quê hương, đất nước, đã lấp vào một ô trống khi tư liệu ảnh về kiến trúc công cộng ở làng Việt cổ truyền. Tôi được biết với một cỗ xeđạp kiểu “hiện vật bảo tàng ngoài trời”, anh đã luồn lách qua nhiều ngõ ngách thuộc các quận, huyện Hà Nội đương đại để săn tìm những cổng làng còn ép mình bên những cây cột điện dây dợ lằng nhằnghay bên những toà nhà cao tầng lấn chiếm không gian…, khó khăn tìm một góc đứng để có thể đưa vào tác phẩm 109 cổng làng qua “ống kính nhà nghèo”, nhưng vẫn hiện lên những công trình kiến trúc cổkính với tư cách là cánh cửa đi vào một khuôn viên “Văn hoá làng xã” của cư dân Việt trên đồng bằng Bắc bộ xưa.

Thực ra, hiểu cho đúng, cổng làng là một công trình kiến trúc phòng vệ, nó là hiện thân của những làng xã khép kín theo kiểu “Đất lề - quê thói”, “Trâu ta ăn cỏ đồng ta”, “Ta về ta tắm ao tao - Dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn!”… Do vậy cổng xóm không phải là cổng làng, nó không bao chứa nội dung của cổng làng. Là công trình kiến trúc phòng vệ thì phải có vọng gác, lầu quan sát như cửa Ô Quan Chưởng (phố Hàng Chiếu, Q. Hoàn Kiếm - tr 21); cổng làng Vĩnh Trung (xã Đại Áng, H. Thanh Trì - tr 236)… số cổng làng còn lưu lại yếu tố “lầu quan sát” chỉ chiếm khoảng 1/10 trong số 109 bức ảnh trong sách. Thế mới biết “Vật đổi sao dời”. Rất tiếc, có vài ba bức ảnh tác giả không chú ý để lấy hết chiều cao của cổng làng, vô hình trung đã cắt mất “lầu quan sát” - vị trí cảnh giới từ xa của công trình phòng ngự (tr 47, 50).

Mặt khác, cổng hay cửa là chỗ ra - vào, ắt có đóng, có mở thì phải có cánh cổng. Ở đầu thế kỷ XX, có không ít nơi, cổng làng vẫn còn cánh cổng và đóng, chốt về đêm, do lực lượng quần phòng canh giữ. Trải qua biến đổi của lịch sử, sự khép kín trong các làng xã được tháo cởi dần, an ninh làng xã cũng ngày càng được bảo đảm, nên 109 cổng làng ở đây đều không có cánh cửa. Tính chất “phòng vệ” của cổng làng đã hoàn toàn biến mất. Ngày nay, nó chỉ tồn tại với tư cách là vết tích của một cổng làng xưa. Cái còn “lầu quan sát” thì cũng chỉ là lầu hoang.

Cuốn sách giới thiệu về một loại hình kiến trúc công cộng trong xã hội cổ truyền, song tác giả lại ít quan tâm đến mặt kiến trúc với mối quan hệ hữu cơ vốn có của công trình. Điều này dẫn đến hệ quả đáng tiếc là anh đã đưa vào cuốn sách hàng chục cái “cổng chào” (các trang 75, 76, 79, 80, 83, 86, 89, 92, 93, 269…). Cổng chào chỉ là cái giá đỡ của biểu ngữ: lời chúc tụng hay biển báo, chỉ dẫn. Nó khác với cổng làng cả về hình thức và nội dung văn hoá lẫn giá trị sử dụng.

Bên cạnh hình ảnh về mỗi cổng làng, Vũ Kiêm Ninh đã thuyết phục độc giả bằng những ghi chép, mô tả một ít nét khái quát về lai lịch công trình. Anh chú ý nhiều hơn đến lịch sử, xã hội và văn hoá tâm linh của cộng đồng là chủ nhân của mỗi cổng làng. Vì thế, cuốn sách “Cổng làng Hà Nội xưa và nay” lại hé mở ra nhiều cách tiếp cận khác cho đồng nghiệp khi “trò chuyện” với cổng làng.

Trong cuộc săn tìm những cổng làng ở Hà Nội theo bán kính mới, tác giả đã chớp được và đưa vào cuốn sách hàng trăm dáng vẻ của một loại hình kiến trúc có cùng chức năng (đã biến đổi) như nhau, không ít những cổng làng bắt mắt hoặc được xây dựng ở cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX (tr 69, 100, 101, 128, 129…); hoặc mới mọc lên ngay ở đầu thế kỷ XXI trong trào lưu phục cổ còn đang tiếp diễn (tr 115, 120, 126, 151, 154, 173, 174…).

Vũ Kiêm Ninh đã thực hiện khá thành công một sưu tập ảnh công phu được bổ sung bằng những tư liệu điền dã phong phú cả về chiều sâu và bề rộng để nhận biết về một số làng Việt trên đất Hà Thành xưa và nay qua kiến trúc cổng làng.

Xem Thêm

Kỷ niệm 5 năm thành lập báo điện tử Tầm nhìn
Tại Lễ kỷ niệm thay mặt Đoàn Chủ tịch Liên hiệp các Hội khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, ông Phan Tùng Mậu đã chúc mừng tập thể cán bộ, phóng viên báo điện tử Tầm Nhìn nhân dịp 5 năm thành lập, ghi nhận những thành quả mà...
Chiến thắng vĩ đại mùa Xuân 1975
Chiến dịch lịch sử  Lúc này, tập đoàn phòng ngự lớn của địch ở Sài Gòn - Gia Định tuy số lượng còn đông nhưng đã bị chia cắt, cô lập cao độ và sức chiến đấu đã giảm sút hẳn. 
Vẻ đẹp đặc hiệu của nhà trí thức
Vàng là đẹp, là quý giá. Nhưng không phải vàng nào cũng giá trị như nhau? Có vàng thật, có vàng giả, có cả mạ vàng như thật. Học thức và bằng cấp cũng vậy. Có học thật, có học giả, có bằng thật, có bằng giả như thật. Đại...
Mùa Xuân là Tết trồng cây
Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đã đề xướng, tổ chức, xây dựng Tết trồng cây trở thành một phong trào quần chúng rộng rãi, sôi nổi và bền vững. Tháng 11-1959, nhân đợt thi đua lấy thành tích mừng Đảng ta 30 tuổi, Chủ tịch Hồ Chí Minh...
Bác Hồ vui Tết đón Xuân trong lòng Tổ quốc
Tết Mậu Tý (1948) Tết mừng chiến thắng Thu Đông năm Đinh Hợi phá tan cuộc tấn công của giặc Pháp lên Việt Bắc và phấn khởi mừng thọ Bác Hồ 58 tuổi: Chính phủ họp nghe Bộ Quốc phòng báo cáo chiến thắng giặc Pháp tại An toàn khu.
Đại tướng Lê Trọng Tấn - Những ngày đầu cách mạng
Giữa năm 1942, tôi đến một cơ sở cách mạng ở làng Lương Yên. Đang nói chuyện thì một quân nhân trong bộ đồ nhà binh Pháp ở phía cổng đi vào. Tôi lánh sang buồng bên cạnh nói chuyện với các em đang học. Khi người ấy về, chủ...

Tin mới

Thủ tướng mong muốn đối tác quốc tế không chỉ đầu tư, sản xuất tại Việt Nam mà cùng kiến tạo chuỗi giá trị mới
Phát biểu tại Diễn đàn Kinh tế mùa Thu 2026, Thủ tướng Lê Minh Hưng khẳng định Việt Nam mong muốn các đối tác quốc tế không chỉ đầu tư, sản xuất tại Việt Nam mà cùng nghiên cứu, phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo và kiến tạo những chuỗi giá trị mới.
Tạo động lực tăng trưởng xanh từ khoa học, công nghệ
Chính phủ Việt Nam nhiều lần khẳng định quan điểm "không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế". Trong bối cảnh đó, việc giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa yêu cầu tăng trưởng nhanh và bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu thông qua các giải pháp khoa học, công nghệ đang trở thành yêu cầu cấp thiết hiện nay.
Hội nghị Đoàn Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam lần thứ nhất (khóa IX)
Chiều 28/10, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức Hội nghị Đoàn Chủ tịch lần thứ nhất (khóa IX), nhiệm kỳ 2026 - 2031. Hội nghị tập trung thảo luận, đóng góp ý kiến vào các dự thảo văn bản nền tảng quan trọng, đánh giá kết quả hoạt động từ sau Đại hội IX, đồng thời đề ra nhiệm vụ trọng tâm đến cuối năm 2026.
Hội nghị BCH Đảng bộ Liên hiệp Hội Việt Nam tháng 10/2026: Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo triển khai các nhiệm vụ trọng tâm
Sáng 28/10, tại Hà Nội, Đảng ủy Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam) tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ nhằm đánh giá kết quả công tác tháng 10, xác định nhiệm vụ trọng tâm tháng 11/2026 và triển khai một số nội dung quan trọng liên quan đến công tác xây dựng Đảng.
GS.VS. Châu Văn Minh: Tăng cường kết nối khoa học, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân
Ngày 25/10/2026, tại Hà Nội, GS.VS. Châu Văn Minh, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam), đã tham dự và phát biểu tại Hội nghị khoa học “Cập nhật các tiến bộ mới trong quản lý bệnh tiêu hóa và gan mật”, kết hợp kỷ niệm 8 năm thành lập Viện Nghiên cứu và Đào tạo Tiêu hóa, Gan mật.
TECHFEST Việt Nam 2026 đưa sản phẩm công nghệ đến gần người dân
TECHFEST Việt Nam 2026 sẽ diễn ra tại Hà Nội từ ngày 13 đến 15/11, khu vực hồ Hoàn Kiếm và phố đi bộ là trung tâm với mô hình không gian mở, đưa các hoạt động trình diễn công nghệ, triển lãm sản phẩm khởi nghiệp và kết nối đầu tư đến gần hơn với người dân, doanh nghiệp, nhà đầu tư.
Liên hiệp Hội Thành phố Hồ Chí Minh và 7 giải pháp phát huy vai trò trí thức
Tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh là một hoạt động quan trọng nhằm phát huy trí tuệ, kinh nghiệm và trách nhiệm xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong quá trình hoạch định chính sách, quy hoạch và triển khai các chương trình, dự án phát triển.
Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Đưa tri thức số về bản, giúp người dân làm chủ công nghệ
Phổ biến kiến thức khoa học, kỹ thuật chỉ thực sự phát huy giá trị khi người dân có thể vận dụng vào đời sống. Từ hoạt động giảng dạy của chuyên gia Hội Mã số Mã vạch Việt Nam trong chương trình tập huấn “Người bản số” tại Lào Cai, có thể thấy rõ cách tiếp cận lấy kỹ năng thực hành, khả năng tự chủ và an toàn trên môi trường số làm trọng tâm.
VUSTA tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ tại cơ sở
Nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm và kỹ năng xử lý tình huống cháy, nổ cho cán bộ, nhân viên làm việc tại tòa nhà, ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức tập huấn công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn. Chương trình kết hợp phổ biến quy định pháp luật với hướng dẫn kỹ năng thực hành, góp phần chủ động phòng ngừa và hạn chế thiệt hại khi có sự cố xảy ra.