Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ năm, 30/08/2007 15:20 (GMT+7)

Sự biến đổi hàm lượng amôniăc của ghẹ xanh khai thác tại vùng biển Khánh Hòa

Ghẹ là loài giáp xác thuộc ngành Arthopada, lớp Crustacea, bộ Decapoda, họ Portuniedie, giống Portunus. Ghẹ nguyên liệu rất dễ bị biến đổi chất lượng sau khi chết do có cấu trúc cơ thịt lỏng lẻo, hàm lượng dinh dưỡng cao. Sự biến đổi các chỉ tiêu chất lượng xảy ra rất nhanh so với các loài thuỷ sản khác, có mùi khai đặc trưng do thành phần amôniăc sinh ra. Hiện nay, việc bảo quản ghẹ sau khi chết của ngư dân và các đại lý cung cấp thường được thực hiện không đúng kỹ thuật. Ðiều này dẫn đến tình trạng nhiều lô hàng bị biến đổi chất lượng trầm trọng, làm giảm lợi ích kinh tế của ngư dân cũng như các doanh nghiệp, thậm chí gây ngộ độc cho con người.

I.Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành với loài ghẹ xanh hay còn gọi là ghẹ nhàn, có tên khoa học là Portunus pelagicus. Ðây là loài ghẹ biển được khai thác tự nhiên với sản lượng lớn, đem lại giá trị thương phẩm cao, sống phổ biến ở các vùng biển Việt Nam . Ghẹ dùng trong thí nghiệm được thu hoạch ở vùng biển Khánh Hoà.

II. phương pháp nghiên cứu

- Thu và bảo quản mẫu ban đầu:

Ghẹ xanh được thu hoạch vào tháng 8, 9. Yêu cầu còn nguyên vẹn, không ốp, không bị bệnh, đồng đều về kích cỡ. Tất cả các mẫu đều còn sống. Mẫu được rửa bằng nước biển lạnh, sạch. Tiếp đó, bảo quản gián tiếp bằng nước đá vụn có nhiệt độ 1±1 0C, xếp ngay ngắn vào các thùng xốp cách nhiệt và phủ lớp đá xay ở trên cùng, nhanh chóng chuyển về phòng thí nghiệm.

- Bố trí thí nghiệm:

Nguyên liệu ghẹ sau khi thu nhận được rửa sạch bằng nước sạch có nhiệt độ 5±1 0C và chia thành 4 nhóm:

Nhóm 1: bảo quản trong thùng cách nhiệt có lỗ ở đáy, dùng nước đá để duy trì nhiệt độ 1±1 0C trong các khoảng thời gian 0,5-1-1,5-2-2,5-3-3,5-4-4,5-5-5,5-6-6,5-7 ngày.

Nhóm 2: bảo quản ở nhiệt độ 10±1 0C bằng máy lạnh trong các khoảng thời gian 0,5-1-1,5-2-2,5-3-3,5-4 ngày

Nhóm 3: bảo quản ở nhiệt độ 20±1 0C bằng máy lạnh trong các khoảng thời gian 0,5-1-1,5-2-2,5-3 ngày

Nhóm 4: bảo quản ở nhiệt độ thường (27±1 0C) trong các khoảng thời gian 0,25-0,5-0,75-1 ngày.

Các giới hạn nhiệt độ được dựa trên các khảo sát về thực trạng tình hình bảo quản ghẹ nói chung của ngư dân và các đại lý cung cấp nguyên liệu. Trong quá trình nghiên cứu, sử dụng nhiệt kế điện tử để kiểm soát nhiệt độ tâm của nguyên liệu. Tại những thời điểm nhất định, lấy mẫu ghẹ để xác định hàm lượng amôniăc.

- Phương pháp phân tích:

Hàm lượng amôniăc được xác định theo phương pháp chưng cất lôi cuốn.

- Phương pháp xử lý số liệu:Mỗi thí nghiệm tiến hành song song 3 lần, mỗi lần 3 thí nghiệm, sau đó lấy kết quả trung bình cộng của 3 lần thí nghiệm.

III. Kết quả nghiên cứu

Nhiệt độ ảnh hưởng rất lớn đến quá trình hình thành amôniăc, khi nhiệt độ càng tăng hàm lượng amôniăc càng tăng. Kết quả nghiên cứu được trình bày tại bảng trên.

Biến đổi hàm lượng amôniăc theo thời gian ở các nhiệt độ bảo quản khác nhau

Quá trình thối rữa luôn kèm theo sự hình thành các sản phẩm cấp thấp, trong đó điển hình là amôniăc. Ở giai đoạn đầu tiên của các chế độ bảo quản, trong nguyên liệu đồng thời xảy ra hai quá trình, đó là quá trình phân giải các hợp chất phức tạp - chủ yếu là prôtêin và lipit - tạo ra các sản phẩm đơn giản (peptit, aminô axit, axit béo,) và quá trình thối rữa dưới tác dụng của hệ vi sinh vật tồn tại trong nguyên liệu.

Ngay sau khi ghẹ chết, khả năng kháng thể không còn nữa, các enzyme có trong ghẹ bắt đầu hoạt động phân giải prôtêin, cấu trúc cơ thịt ghẹ dần bị phá huỷ. Ðó chính là những điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của hệ vi sinh vật. Ðầu tiên, các vi sinh vật sử dụng thành phần chất ngấm ra trong nguyên liệu làm dinh dưỡng cho sự tăng sinh số lượng, trong quá trình hoạt động, chúng tiết ra các enzyme tiếp tục quá trình phân giải các hợp chất phức tạp tạo ra nguồn dinh dưỡng dồi dào. Quá trình cứ tiếp tục như vậy, cho đến khi cấu trúc cơ thịt, mùi, vị tự nhiên của nguyên liệu bị phá huỷ hoàn toàn. Theo Nguyễn Trọng Cẩn, Ðỗ Minh Phụng (1996), quá trình hình thành amôniăc có thể đi theo các đường hướng như: Phản ứng làm mất gốc amin bao gồm sự thuỷ phân aminô axit thành ôxit axit và amôniăc, sự khử aminô axit thành axit béo và amôniăc, tác dụng trực tiếp của eznyme và aminô axit bị ôxy hoá tạo cetô axit và amôniăc. Theo H.Huss (1995), sự tạo thành amôniăc trong quá trình bảo quản là do quá trình deamin các aminô axit. Giới hạn 3035 mg/100 g nguyên liệu tươi nói chung được công nhận như là giới hạn chấp nhận cho thuỷ sản bảo quản lạnh trong nước đá, có ý kiến cho rằng nồng độ các base bay hơi có quan hệ với pH và hệ vi sinh vật trong nguyên liệu.

Nhìn chung, khi ghẹ xanh còn tươi, hàm lượng amôniăc khoảng 5,63mg%. Sau 6 ngày bảo quản ở nhiệt độ 1±1 0C, hàm lượng amôniăc đã lên tới 30,85mg%, cao hơn giới hạn của đa số nguyên liệu thuỷ sản (30mg%). Ở nhiệt độ 10±1 0C, sau 2 ngày bảo quản, hàm lượng amôniăc đã vựơt giới hạn cho phép, đạt 31,5mg%. Ở nhiệt độ 20±1 0C, tốc độ tăng amôniăc rất nhanh, chỉ trong một ngày bảo quản, hàm lượng amôniăc đã tăng đến 31,96 mg%, sau 2 ngày, đã lên tới 63,59mg%. Quá trình này xảy ra mãnh liệt hơn nữa ở điều kiện nhiệt độ thường (27±1 0C), chỉ sau 0,5 ngày, ghẹ đã hư hỏng hoàn toàn, hàm lượng amôniăc lên tới 60,89mg%. Ở giai đoạn đầu, tốc độ tăng hàm lượng amôniăc không lớn, do lúc này đa số vi sinh vật bị ức chế bởi nhiệt độ lạnh. Hơn nữa, các biến đổi hoá học xảy ra trong nguyên liệu rất chậm do nhiệt độ thấp đã ức chế hoạt động của các enzyme, vì vậy việc xúc tác cho các phản ứng deamin tạo ra amôniăc xảy ra không lớn. Tuy nhiên, ở giai đoạn đầu, quá trình phân giải glycogen trong cơ thịt ghẹ xanh tạo ra lactic axit làm cho pH trong cơ thịt giảm; theo thời gian bảo quản, giá trị dinh dưỡng và giá trị sử dụng của nguyên liệu bị suy giảm. Trường hợp ghẹ xanh bảo quản lạnh trong 7 ngày ở nhiệt độ 11 0C, hàm lượng amôniăc là 49mg%. Ðiều này giải thích vì sao ghẹ xanh đưa đến các công ty thường bị giảm cấp một cách trầm trọng, nhiều lô hàng xuất đi nước ngoài bị trả về, thậm chí còn phải bồi thường thiệt hại vì lý do phân hủy. Nhìn vào bảng số liệu có thể thấy thời gian tối đa cho phép bảo quản ở điều kiện 1±1 0C; 10±1 0C; 20±1 0C; 27±1 0C lần lượt là 5,5; 1,5; 0,5 và 0,25 ngày.

Kết luận

Ðể có đủ thời gian cho công việc bảo quản và vận chuyển (khoảng năm ngày), nên duy trì nhiệt độ bảo quản ở 1±1 0C. Như vậy, hàm lượng amôniăc sẽ nằm trong giới hạn cho phép (dưới 30mg%).

Ghẹ đã chết, nếu được áp dụng nguyên tắc bảo quản: Nhanh - Sạch - Lạnh thì chất lượng ghẹ gần như không thay đổi.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

GS.VS. Châu Văn Minh, Bí thư Đảng ủy Liên hiệp Hội Việt Nam tham dự Đại hội Hội Hàng không - Vũ trụ Việt Nam lần thứ V
Sáng 18/7, tại Hà Nội, Hội Hàng không - Vũ trụ Việt Nam đã long trọng tổ chức Đại hội lần thứ V, nhiệm kỳ 2026-2031. Đây là sự kiện chính trị quan trọng nhằm đánh giá kết quả hoạt động nhiệm kỳ 2020-2026, xác định phương hướng, nhiệm vụ nhiệm kỳ mới và kiện toàn tổ chức lãnh đạo của Hội.
Chuẩn hóa nghiên cứu và ứng dụng tế bào gốc vì sự phát triển bền vững của y học tái tạo
Sáng 18/7, tại Khách sạn Melia Hà Nội, Viện Nghiên cứu và Ứng dụng Công nghệ Tế bào (tổ chức KH&CN trực thuộc VUSTA) phối hợp cùng Longevity Medical System (LMS) và Báo Sức khỏe và Đời sống tổ chức hội thảo khoa học quốc tế với chủ đề “Tế bào gốc: Từ nghiên cứu lâm sàng đến ứng dụng thực tiễn”.
Khai mạc hội nghị Khoa học và Triển lãm quốc tế về Điều khiển và Tự động hóa lần thứ 8
Với chủ đề “Tự động hoá thông minh - công nghệ chiến lược của Kỷ nguyên số”, hội nghị Khoa học và Triển lãm quốc tế về Điều khiển và Tự động hóa lần thứ 8 (VCCA 2026) đã khai mạc sáng 16/7 tại Trường Đại học Quy Nhơn (tỉnh Gia Lai). Sự kiện quy tụ gần 400 trăm nhà khoa học, chuyên gia, doanh nghiệp trong nước và quốc tế nhằm chia sẻ các xu hướng công nghệ chiến lược.
Chỉ thị số 07-CT/TW của Bộ Chính trị về "Đẩy mạnh học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn phát triển mới"
Thay mặt Bộ Chính trị, đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã ký ban hành Chỉ thị số 07-CT/TW ngày 13/7/2026 về "Đẩy mạnh học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn phát triển mới". Trân trọng giới thiệu toàn văn Chỉ thị.
Bí thư Châu Văn Minh dâng hương tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ và tặng quà gia đình chính sách tại Quảng Trị
Nhân kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2026), ngày 13/7, GS.VS Châu Văn Minh, Bí thư Đảng ủy Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam đã dẫn đầu Đoàn công tác đến dâng hương tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ tại tỉnh Quảng trị và thăm hỏi, tặng quà các gia đình chính sách, người có công với cách mạng có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn.
Tạp chí Việt Nam Hội nhập đạt chuẩn Tạp chí khoa học năm 2026
Vừa qua, Bộ Khoa học và Công nghệ đã ban hành Quyết định số 2244/QĐ-BKHCN và Quyết định 2823/QĐ-BKHCN để công bố danh mục tạp chí đạt tiêu chuẩn khoa học Việt Nam năm 2026. Sự kiện này đánh dấu một bước tiến quan trọng trong quá trình chuẩn hóa hệ thống xuất bản học thuật nước nhà, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về chất lượng nghiên cứu, phản biện và các chuẩn mực công bố khoa học hiện đại.
Viện Chính sách, Pháp luật và Quản lý khẳng định vị thế là một tổ chức khoa học uy tín
Trong bối cảnh đất nước đang đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, hoàn thiện thể chế phát triển và thúc đẩy đổi mới sáng tạo, hoạt động nghiên cứu khoa học về chính sách, pháp luật và khoa học quản lý ngày càng giữ vai trò quan trọng trong việc cung cấp luận cứ khoa học phục vụ quá trình hoạch định chủ trương, chính sách, cũng như hoàn thiện hệ thống pháp luật.
Đắk Lắk: Mở ra không gian phát triển, nhiều tiềm năng cho đội ngũ trí thức khoa học
Việc hợp nhất tỉnh Đắk Lắk và Phú Yên đã mở ra không gian phát triển mới với nhiều tiềm năng về kinh tế, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Trong bối cảnh khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trở thành động lực quan trọng của tăng trưởng, phát huy vai trò đội ngũ trí thức KH&CN là yêu cầu cấp thiết, tạo nền tảng cho sự phát triển nhanh, bền vững của tỉnh Đắk Lắk.
Nghị quyết 57/NQ-TW: Đột phá là đời sống của người dân được cải thiện rõ rệt hơn
Mọi hệ thống số, cơ sở dữ liệu và nền tảng số phải được thiết kế theo yêu cầu an toàn, an ninh ngay từ đầu; coi đào tạo kỹ năng số, năng lực đổi mới sáng tạo và ứng dụng AI là nhiệm vụ lâu dài. Khi những điều đó được thực hiện đồng bộ, Nghị quyết 57/NQ-TW sẽ tạo nền tảng quan trọng để Việt Nam bứt phá.
Thanh Hoá: Hội nghị sơ kết 6 tháng đầu năm 2026
Ngày 10/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Thanh Hóa (Liên hiệp hội) tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành mở rộng lần thứ VII, khoá VII, nhiệm kỳ 2024 - 2029; sơ kết 6 tháng đầu năm, triển khai nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm 2026.
Lâm Đồng: Kết nối sức mạnh - Khơi thông nguồn lực phát triển năng lượng tái tạo
Chiều ngày 09/7, tại Đà Lạt, Hiệp hội Điện gió và Mặt trời tỉnh Lâm Đồng (Hội thành viên Liên hiệp Hội) tổ chức Hội nghị thường niên năm 2026 nhằm đánh giá kết quả hoạt động năm 2025 và 6 tháng đầu năm 2026, đồng thời đề ra phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm cho 6 tháng cuối năm.
Liên hiệp Hội tỉnh Hà Tĩnh và Quảng Trị tăng cường trao đổi kinh nghiệm
Chiều ngày 09/7, Đoàn công tác Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (LHH) tỉnh Quảng Trị do Tiến sĩ Trần Văn Tuân – Chủ tịch Liên hiệp Hội làm Trưởng đoàn đã có buổi thăm, làm việc và trao đổi kinh nghiệm tại LHH tỉnh Hà Tĩnh. Tiếp và làm việc với đoàn có Tiến sĩ Bùi Khắc Bằng – Chủ tịch LHH tỉnh Hà Tĩnh cùng đại diện các ban chuyên môn.
Đắk Lắk: Liên hiệp hội sơ kết công tác 6 tháng đầu năm
Chiều ngày 09/7, Liên hiệp hội tỉnh Đắk Lắk đã tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành (mở rộng) nhằm sơ kết công tác 6 tháng đầu năm và triển khai phương hướng, nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026; đồng thời cho ý kiến đối với các nội dung chuẩn bị Đại hội Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031.