Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ hai, 28/08/2006 14:36 (GMT+7)

Phan tuẫn thần và Phan công thần trong tâm thức dân gian Nam Bộ

Điều quan trọng hơn, hai cách gọi này còn bao hàm thái độ bình giá của tác giả dân gian về Phan Thanh Giản:

Vĩnh Long có cặp rồng vàng

Nhất Bùi Hữu Nghĩa, nhì Phan tuẫn thần (a)

Vĩnh Long có cặp rồng vàng

Nhất Bùi Hữu Nghĩa, nhì Phan công thần (b)

Cả hai bản (a) và (b) đều được in trong Văn học dân gian đồng bằng sông Cửu Long, Nhà xuất bản Giáo dục, 1997.

1. Đối với một số thể loại văn học dân gian như truyền thuyết và vè, lịch sử được coi là đối tượng phản ánh chuyên biệt của chúng. Nếu truyền thuyết phản ánh những sự kiện và nhân vật lịch sử thời quá khứ thì vè phản ánh lịch sử đang diễn ra. Tuy nhiên, không phải sự kiện, nhân vật lịch sử nào cũng được phản ánh mà phải là những sự kiện và nhân vật thu hút được sự chú ý của nhân dân. Nếu âm hưởng chung của truyền thuyết là ca ngợi, tôn vinh (cho nên nó gắn với việc thờ cúng và thực hành nghi lễ, chẳng hạn như lễ hội đền thờ Nguyễn Trung Trực ở Rạch Giá, Kiên Giang…) thì vè còn có cả cảm hứng phê phán. Như vậy, dù tôn vinh hay phê phán, một khi phản ánh lịch sử, các thể loại văn học dân gian này đều biểu thị và lưu giữ thái độ của nhân dân. Lịch sử không phải là đối tượng chuyên biệt của tục ngữ và ca dao, nhưng không vì thế mà phủ nhận nội dung lịch sử trong các thể loại này. Nhìn chung, các nhà nghiên cứu văn học dân gian Việt Nam đều thừa nhận rằng ca dao - dân ca “đã bao quát được toàn bộ cuộc sống nhân dân và trở thành một pho lịch sử nhân dân theo sát nghĩa của khái niệm này” [1, 146].

2. Trên nền tảng vừa nêu, chúng tôi trở lại hai dị bảncủa một bài ca dao về Phan Thanh Giản. Âm hưởng chung của hai dị bản là đề cao cụ Phan qua hình ảnh “rồng vàng”: Phan Thanh Giản là niềm tự hào của người Nam Bộ nói chung, của đất Vĩnh Long xưa nói riêng.

Cuộc đời và sự nghiệp của cụ Phan có một mốc lịch sử cực kỳ quan trọng gắn với lịch sử đất nước nói chung, với lịch sử Nam bộ nói riêng, đó là năm kí Hoà ước 1862 nhượng 3 tỉnh miền Đông cho Pháp. Giai đoạn 1862 - 1867 là giai đoạn cuối đời đầy gian truân, đầy bi kịch mà ngài Kinh lược cuối cùng đã không thể nào vượt qua bế tắc, đành kết thúc bằng chén thuốc độc định mệnh. Tác giả dân gian qua dị bản (a) nêu trên chắc hẳn đã cúi đầu bên mộ bia người quân tử thất thế, thấu hiểu phẩm giá, nỗi lòng người xưa tương tự như nhận xét trong Đại Nam chính biên liệt truyện: “Thanh Giản là người ngay thực, giữ lòng liêm khiết, làm quan cần mẫn, thận trọng, gặp việc dám nói. Trải thờ ba triều vẫn được yêu quý. Đến khi mang cờ tiết đi Nam , thế không làm sao được, biết tội tự uống thuốc độc chết. Thực là ở vào chỗ người ta khó xử. Xem tờ sớ để lại thì lòng trung ái chứa chan ở ngoài lời nói”. (dẫn theo Phan Huy Lê). Một nhà Nho hết lòng yêu nước thương dân, nhưng buộc phải kí Hoà ước cắt một phần đất nước cho kẻ thù (1862) rồi sau đó không thể giữ được phần giang sơn còn lại (1867). Kí Hoà ước nhượng đất là dựa trên lập trường “chủ hoà” của triều Nguyễn lúc đó, mất phần đất còn lại là vì rơi vào tình thế không thể giữ nổi. Có người đặt câu hỏi, nếu “chủ chiến” liệu triều đình Huế và Phan Thanh Giản có giữ được Nam kì trước hoạ xâm lăng của thực dân Pháp không. Câu trả lời là không, vì lúc ấy chưa thể đạt tới một chiến lược “chiến tranh nhân dân” đúng đắn để có thể phát huy sức mạnh tổng hợp của cả dân tộc.

Cái chết của ông thật đáng khâm phục, chết vì ý thức trách nhiệm cao của một công dân đối với đất nước. Từ nội dung của cả bài ca dao đến ý nghĩa của nhóm từ “Phan tuẫn thần”, ta thấy tác giả dân gian thiên về cảm hứng ca ngợi chứ không phê phán, hay phê phán một cách nặng nề như một số (chứ không phải là tất cả) nhà sử học những năm 1962-1963 và sau này.

3. Năm Bính Tuất - 1826 (31 tuổi), Phan Thanh Giản thi đậu tiến sĩ. “Ông là người đỗ đại khoa trước nhất của Nam kỳ. Lực học tinh thuần, tính hạnh chính trực” ( Quốc triều đăng khoa lục- dẫn theo Phan Huy Lê). Từ đây ông bước vào con đường hoan lộ với những bước thăng trầm, phụng sự đất nước qua ba triều vua: Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức.

Giai đoạn 1826 – 1862, Phan Thanh Giản giữ nhiều chức vụ trọng yếu trong triều và nhiều địa phương, tham gia vào các hoạt động chính trị, ngoại giao, kinh tế (từng là Thượng thư bộ Hình sung Cơ mật viện đại thần, Thượng thư bộ Lại, Thị lang bộ Lễ, Thị lang bộ Hộ, Phó sứ sang Thanh… làm quan cai trị ở nhiều địa phương như Nghệ An, Ninh Bình, Thừa Thiên, Quảng Nam… làm Kinh lược phó sứ Nam kỳ lĩnh Tuần phủ Gia Định…). Đặc biệt, những cống hiến của ông trên lĩnh vực văn hoá rất đáng trân trọng. Trong những năm 1856 - 1859, ông làm Tổng tài phụ trách việc biên soạn Khâm định Việt sử thông giám cương mục. Đây là bộ quốc sử đồ sộ, 52 quyển, ghi lại lịch sử dân tộc từ thời Hùng Vương cho đến 1789 (năm chiêu Thống thứ 3). Qua đây, Phan Thanh Giản được đánh giá là một nhà sử học lớn, vì bộ sách được chú giải tên đất, tên người, giám định các sự kiện, niên đại một cách công phu. Sau khi mất ba tỉnh miền Đông, ông cùng với Nguyễn Thông xây Văn Thánh miếu, lập Văn Xương các ở Vĩnh Long để quy tụ sĩ phu Nam kỳ. Việc này một lần nữa chứng tỏ tấm lòng vì dân tộc của cụ Phan. Và không chỉ là tấm lòng mà tất cả còn là công lao.

Vùng đồng bằng sông Cửu Long đã từng có đền thờ Phan Thanh Giản, tượng Phan Thanh Giản, trường Phan Thanh Giản… Đây là một cách đánh giá nhân vật lịch sử, thể hiện thái độ đề cao. Thái độ này về căn bản phù hợp với đánh giá của tác giả ca dao ở dị bản (b): Phan Thanh Giản là “Phan công thần”. Dĩ nhiên, đối với các nhà sử học, đây chỉ mới là một trong nhiều kênh thông tin tham khảo. Nếu những vấn đề này được trình bày trong sách thì cũng chỉ là “sách tham khảo” chứ không phải là “giáo trình”. Ngoài ra, đức hạnh và tinh thần hiếu học của cụ Phan được sử sách ghi chép, được truyền tụng trong dân gian bằng những giai thoại đã từng gây xúc động bao thế hệ học sinh đồng bằng. Chỉ bấy nhiêu thôi cũng tạm đủ để ngài Kinh lược xứ Nam Kì trở thành tấm gương sáng.

____________

Tài liệu tham khảo

1. Đỗ Bình Trị (1995) - Phân tích tác phẩm văn học dân gian, NXB Giáo dục.

2. Phan Huy Lê (1999) - “Phan Thanh Giản con người, sự nghiệp & bi kịch cuộc đời”,Nam Bộ Xưa & Xay, tr 193-214.

Nguồn: Ngôn ngữ & Đời sống, số 5 (127), 2006, tr 27 - 28

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

GS.TSKH Nguyễn Đức Cương: Khoa học là một hành trình dài và không phải lúc nào cũng có kết quả ngay
Sinh năm 1945 tại Huế, ông là nhà khoa học hàng đầu về hàng không - vũ trụ của Việt Nam, đã có hơn nửa thế kỷ cống hiến cho ngành khoa học kỹ thuật hàng không vũ trụ. Không chỉ là người đặt nền móng cho các sản phẩm bay tiết kiệm chi phí cho Việt Nam, ông còn là người thầy tâm huyết, truyền cảm hứng và kiến thức cho nhiều thế hệ, góp phần đưa ngành hàng không Việt Nam đạt được những bước tiến mới.
Đắk Lắk: Ứng dụng AI “nghe” độ chín sầu riêng
TS. Lê Minh Tân và CN. Hoàng Ngọc Trung Nguyên (Trường Đại học Tây Nguyên) đã nghiên cứu thành công giải pháp: “Máy phân loại quả sầu riêng theo độ chín sử dụng AI phân tích âm thanh”. Giải pháp này đã đọat giải Nhì Hội thi Sáng tạo Kỹ thuật tỉnh Đắk Lắk (2024-2025) khu vực phía Tây.
Toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị quán triệt và triển khai Nghị quyết 10-NQ/TW
Sáng 30/6, tại Hà Nội, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dự và phát biểu chỉ đạo Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 8/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Ban biên tập vusta.vn trân trọng giới thiệu toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị.
Một năm chính quyền địa phương hai cấp: Nhìn từ chiều sâu văn hóa làng xã
Một năm thực hiện chính quyền địa phương hai cấp không chỉ là câu chuyện về tinh gọn bộ máy, tổ chức lại địa giới hành chính màcòn là phép thử về năng lực quản trị những giá trị mềm: tên làng, ký ức cộng đồng, di sản, thiết chế văn hóa, không gian tín ngưỡng và cảm giác thuộc về của người dân.