Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ tư, 12/07/2006 14:20 (GMT+7)

Những kết quả sử dụng thiên địch để phòng trừ sâu tơ hại rau cải ở Đông Nam Á

Nhằm giúp cho nông dân tại các vành đai xanh đô thị hạn chế dùng thuốc trừ sâu trên rau cải, chúng tôi xin lược dịch các báo cáo kết quả của một số nước lân cận với chúng ta và bài báo của Giáo sư Tôn Thất Trình.

Những loại rau cải thuộc họ Thập tự ( Brassiceae) như bắp cải ( B. oleraceavar. capitataL.), cải bông ( B. oleraceavar. botrytisL.), brocoli ( B. oleraceavar. i talicaL .),cải thảo (B. campestria spp. pekinensis Rupr.)và nhiều loại tương tự là những loại rau quan trọng được trồng nhiều ở miền Đông Nam châu Á, bao gồm Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Philippines, Taiwan, Việt Nam, Lào, Campuchia.

Sâu tơ Plutella xylostellae(L.) - ấu trùng của DBM (Diamond Back Moth) - là loại côn trùng phá hoại trên rau cải, chúng là mối đe dọa chính cho những vùng sản xuất rau. Côn trùng này có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, hiện nay đã phân bố khắp thế giới. Tại trung tâm cội nguồn của chúng, một phức hợp những kẻ thù tự nhiên đã giữ chúng dưới mức phòng chống. ở những vùng mới, côn trùng này phát triển nhanh chóng vì thiếu kẻ thù tự nhiên (thiên địch). Sâu tơ ăn trên tán lá từ giai đoạn nảy mầm cho đến khi thu hoạch và làm giảm sản lượng 100% nếu không phòng trừ được. Mặt khác, loại côn trùng này có thể sống và hoạt động trong một phổ khí hậu rộng từ nhiệt đới ẩm đến ôn đới, vì vậy việc khống chế chúng là một vấn đề hết sức khó khăn.

Việc sử dụng những loại thuốc trừ sâu hữu cơ tổng hợp để phòng chống sâu tơ vào đầu những năm năm mươi đã đạt được hiệu quả bước đầu, do đó những phương pháp phòng chống khác ít được chú ý, sâu tơ đã hình thành tính kháng với các loại thuốc hóa học. Thay vì nghiên cứu một phương pháp phòng trừ thay thế, người ta lại cố gắng đưa vào vùng Đông Nam Á những hóa chất mới hơn, kết quả là những điều kiện lý tưởng của vùng nhiệt đới đã dẫn đến việc chọn lọc ra những nòi sinh học kháng thuốc ở vùng này nhanh hơn bất kỳ nơi nào.

Trước tình hình này, Trung tâm nghiên cứu và phát triển rau màu châu Á (AVRDC) đã tập trung vào việc tìm kiếm một phương pháp phòng chống thay thế để giảm bớt sự phụ thuộc vào thuốc hóa học. Sự thay thế có ý nghĩa nhất là sử dụng những tác nhân phòng chống sinh học: "Khi vật gây hại là một côn trùng ngoại lai, hình thức tương tự là nhập những kẻ thù tự nhiên từ bản xứ của nó".

Chương trình Quản trị dịch hại tổng hợp "IPM" áp dụng cho sâu tơ đã được tiến hành đồng loạt từ Indonesia, Taiwan, Philippines, Malaysia ... Các nước này đã di nhập nhiều loại thiên địch ký sinh trên sâu tơ như Costesia plutellae(CP), Diadegma semiclausum(DS), Diadromus collaris(DC), Trichogramatoidae bactrea(TB) ... và thả ra những vùng chúng không được tìm thấy hoặc có số lượng thấp. Hiện tại, dạng ký sinh được củng cố ở vùng cao của hầu hết các nước là Diadegma semiclausum(DS). Chúng thường đẻ trứng lên ấu trùng sâu tơ tuổi 2, khoảng 8 ngày sau, sâu non của ký sinh sẽ chui ra khỏi sâu tơ và kéo kén bên cạnh chủ đang chết dần. Sau khi thoát kén, con trưởng thành sẽ tiếp tục việc đẻ trứng lên sâu tơ. Một con cái ký sinh trung bình 117 ấu trùng sâu tơ.

Năm 1985, AVRDC nhập DS vào Taiwantừ Indonesia , tại đây ký sinh chỉ thích hợp ở vùng cao nguyên, nơi có khí hậu tương đối lạnh. DS ký sinh mức độ cao ở nhiệt độ từ 15 đến 25 oC và giảm khi nhiệt độ lớn hơn 25 oC. Thí nghiệm trên bắp cải ngoài đồng cho thấy mức độ ký sinh tăng dần từ 13,1% đến 64,5% (từ khi trồng đến 6 tuần trước khi thu hoạch) và sản lượng gia tăng một cách rõ ràng.

Việc giảm sử dụng thuốc hóa học cũng làm xuất hiện lại một số ký sinh địa phương. Năm 1988, tại Wuling (1.700 m so với mặt biển), 2 năm sau khi thả DS, quần thể DBM bị ký sinh bởi cả 2 loài: DS 46% và CP 11%. Việc di nhập thiên địch ký sinh vào Taiwan đã tiết kiệm hơn 10 tỷ NT (370.000 USD) tiền thuốc diệt côn trùng trong một năm. Tuy nhiên, chỉ với DS không đủ để khống chế quần thể DBM khi nhiệt độ lên cao, khi đó chỉ bổ sung một ít thuốc trừ sâu sinh học như BT là đạt được mức phòng trừ bằng ký sinh.

Tại Malysia, con đường đấu tranh sinh học được bắt đầu từ Viện nghiên cứu và phát triển nông nghiệp Malaysia (MARDI). Người ta phát hiện ở vùng cao nguyên Cameron một loài thiên địch ký sinh là CP, không giống với loài CP ở địa phương. Nó đến một cách ngẫu nhiên vào cuối những năm 1960. Mức độ ký sinh trung bình từ 12,3 đến 19,1%, cho thấy đó là ký sinh không mấy hiệu quả.

Chương trình IPM sẽ tốt hơn nếu có nhiều loài ký sinh cũng hoạt động trên DBM ở những giai đoạn khác nhau. Vì vậy, trong 4 loài ký sinh đã được nhập vào Cameron từ Ấn Độ, Úc, Indonesiachỉ có hai loài được củng cố là DS và DC (DC là loại ký sinh nhộng). Từ đây đã hình thành một phức hợp kẻ thù tự nhiên liên kết với DBM. DS và CP là 2 ký sinh chính tấn công lên giai đoạn ấu trùng, những ấu trùng trốn thoát sự ký sinh này sẽ bị DC tấn công ở giai đoạn nhộng, tất cả các ký sinh làm việc với nhau để đạt mức điều khiển sinh học tự nhiên và BT được dùng như một yếu tố bổ sung. Thực nghiệm ở cao nguyên Cameron đã nhấn mạnh vai trò của thiên địch trong phòng chống DBM.

Tại Philippines, chỉ có một kẻ thù tự nhiên là CP có tầm quan trọng trong điều khiển DBM, mức độ ký sinh đạt đến 70% nhưng hiệu quả của nó giảm đến 80% do bị siêu ký sinh và bị ảnh hưởng của thuốc hóa học.

Vào tháng 3.1989, dự án bảo vệ thực vật Philippines - German cho nhập DS từ Taiwan để thử khả năng ký sinh của nó trong điều kiện của Philippines, thử nghiệm ngoài đồng cho thấy mức độ ký sinh đạt 12-15% và gia tăng đến 64% ở thời gian gần thu hoạch. Việc nhập khẩu và thả ra đồng để củng cố giống DS mới này thường không đạt do DS nhanh chóng lẫn vào trong hệ thống cân bằng sinh thái, nó có thể bị tấn công bởi siêu ký sinh. Cân bằng tự nhiên của quần thể DBM và thiên địch chỉ có thể đạt đến ngưỡng kinh tế, nghĩa là thiệt hại cho cây trồng ở mức độ chấp nhận được, trước mức này việc sử dụng BT là cần thiết.

Những kết quả trong phòng chống DBM đã đưa đến mục tiêu cho chiến lược IPM, chiến lược hợp nhất những vấn đề xã hội, kinh tế, sinh thái. Đẩy mạnh việc sử dụng thiên địch được nhập và thiên địch bản xứ, phối hợp với BT khi quần thể DBM đạt đến ngưỡng kinh tế (ETL), chắc chắn quần thể DBM sẽ được điều khiển có hiệu quả. Chiến lược IPM đã thành công ở nhiều quốc gia, nhờ vậy chúng ta mới tránh được những hậu quả của thuốc hóa học và phức hợp cân bằng giữa vật gây hại với kẻ thù tự nhiên có thể được duy trì. Tuy nhiên, dự án hoạt động này chỉ có thể đạt hiệu quả khi có sự ủng hộ của chính quyền một cách tương xứng và đầy đủ.

Lược dịch từ các báo cáo:

- Pio A. Javier and Jose R. Medina, IPM đối với vật gây hại cây họ thập tự ở các tỉnh miền núi.

- Andreas Poelking, DBM ở Philippines và việc phòng chống nó bằng DS.

- Peter A. C. Ooi, Vai trò của ký sinh trong khống chế DBM ở cao nguyên Malaysia .

- Tôn Thất Trình, Ngừa trị sâu tơ hại cải,Phụ san Khoa học phổ thông, số 234, 1994.  

Nguồn: Thông tin khoa học, công nghệ Lâm Đồng, 1995, số 1

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Khởi động Cuộc thi Samsung Solve for Tomorrow 2026: Lan tỏa tinh thần sáng tạo STEM trong học sinh
Sáng 11/4, tại Khu Công nghệ cao Hòa Lạc, Trung tâm Đổi mới sáng tạo Quốc gia (NIC) phối hợp cùng Công ty TNHH Samsung Electronics Việt Nam (Samsung) tổ chức Lễ khởi động Cuộc thi Samsung Solve for Tomorrow 2026. Đây là sân chơi sáng tạo quy mô toàn quốc dành cho học sinh trung học cơ sở và trung học phổ thông, hướng tới thúc đẩy tư duy khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong thế hệ trẻ.
Tuyên Quang: Góp ý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng
Chiều ngày 07/4, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (Liên hiệp hội) tỉnh tổ chức hội thảo góp ý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng. Tham dự hội thảo có lãnh đạo đại diện các sở, ban ngành, UBMTTQ Việt Nam tỉnh, các hội thành viên Liên hiệp hội tỉnh.
Quảng Trị: Tập huấn Khởi nghiệp Đổi mới sáng tạo
Ngày 07/4, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh đã tổ chức Hội nghị “Tập huấn Khởi nghiệp Đổi mới sáng tạo” với mục tiêu nâng cao nhận thức về đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế. Qua đó, phát huy vai trò của đội ngũ trí thức, các hội thành viên trong thúc đẩy hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo tại địa phương.
Hải Phòng: Tập huấn nâng cao năng lực cho tổ chức hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa
Trong hai ngày 02 - 03/4, Cục Phát triển doanh nghiệp tư nhân và kinh tế tập thể - Bộ Tài chính phối hợp với Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố đã tổ chức khoá đào tạo “Nâng cao năng lực cho tổ chức hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa thông qua thông qua chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, hướng đến cải thiện nâng suất và việc làm thỏa đáng”.
Đồng chí Nguyễn Phi Long giữ chức Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương
Chiều 8/4, tại Hà Nội, Đảng ủy MTTQ, các đoàn thể Trung ương tổ chức Hội nghị triển khai quyết định của Bộ Chính trị về công tác cán bộ. Đồng chí Bùi Thị Minh Hoài, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Bí thư Đảng ủy MTTQ, các đoàn thể Trung ương, Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam chủ trì Hội nghị.