Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ tư, 01/07/2026 10:04 (GMT+7)

Một năm chính quyền địa phương hai cấp: Nhìn từ chiều sâu văn hóa làng xã

Một năm thực hiện chính quyền địa phương hai cấp không chỉ là câu chuyện về tinh gọn bộ máy, tổ chức lại địa giới hành chính màcòn là phép thử về năng lực quản trị những giá trị mềm: tên làng, ký ức cộng đồng, di sản, thiết chế văn hóa, không gian tín ngưỡng và cảm giác thuộc về của người dân.

Khi một cấu trúc hành chính mới được hình thành, điều quan trọng không chỉ là bộ máy vận hành thông suốt hơn, mà còn là làm sao để mỗi làng, mỗi bản, mỗi cộng đồng không cảm thấy mình bị mờ đi trong tiến trình phát triển.

tm-img-alt

PGS.TS Bùi Hoài Sơn, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa, Xã hội của Quốc hội

KHI CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH CHẠM VÀO TẦNG SÂU VĂN HÓA

Nhìn lại một năm thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, chúng ta thường nghe nhiều đến những con số về tinh giản bộ máy, giảm đầu mối, rút ngắn quy trình, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý. Những con số ấy rất cần thiết, bởi một bộ máy cồng kềnh, nhiều tầng nấc trung gian sẽ khó đáp ứng được yêu cầu phát triển nhanh, quản trị hiện đại và phục vụ người dân tốt hơn. Nhưng nếu chỉ dừng lại ở đó, chúng ta mới nhìn thấy phần “vỏ” của cải cách.

Nhìn từ văn hóa, đây là một cuộc chuyển dịch sâu hơn rất nhiều. Đó là sự chuyển dịch từ quản lý theo địa giới hành chính sang quản trị theo cộng đồng; từ tư duy hành chính hóa đời sống văn hóa sang tư duy phục vụ, kiến tạo và đồng hành với người dân; từ việc coi văn hóa là một lĩnh vực chuyên môn riêng lẻ sang nhận thức rằng văn hóa chính là nền tảng tinh thần, là phần mềm của mọi cải cách thể chế.

Điểm thay đổi lớn nhất là cấp xã, phường trở thành không gian quản trị văn hóa trực tiếp hơn. Di tích, lễ hội, nhà văn hóa, thư viện cơ sở, câu lạc bộ dân gian, hương ước, quy ước, không gian tín ngưỡng, nghĩa trang, đình làng, nhà thờ họ, nghề truyền thống, các thực hành văn hóa cộng đồng… đều nằm gần hơn với chính quyền chịu trách nhiệm. Điều này mở ra cơ hội rất lớn để những vấn đề văn hóa ở cơ sở được nhận diện nhanh hơn, xử lý sát hơn, ít phải đi qua nhiều tầng nấc trung gian hơn.

Một ngôi đình xuống cấp, một lễ hội có nguy cơ bị thương mại hóa, một nhà văn hóa hoạt động hình thức, một tên làng cổ có nguy cơ bị lãng quên, một nghề truyền thống cần được kết nối với du lịch, một nghệ nhân cần được hỗ trợ để truyền dạy cho lớp trẻ… tất cả những việc ấy đều đòi hỏi chính quyền cơ sở phải gần dân, hiểu dân, hiểu phong tục và có khả năng hành động nhanh. Ở góc nhìn này, mô hình hai cấp có thể tạo ra một năng lực quản trị mới, năng động hơn và thực chất hơn.

Tuy nhiên, cơ hội bao giờ cũng đi liền với thách thức. Khi cấp xã được trao nhiều việc hơn, nhiệm vụ văn hóa cũng trở nên nặng hơn. Cán bộ văn hóa cơ sở không chỉ làm phong trào văn nghệ, thể thao hay tổ chức các ngày lễ kỷ niệm. Họ phải biết quản trị di sản, làm việc với cộng đồng, xử lý những xung đột mềm liên quan đến tín ngưỡng, tên gọi, ký ức làng xã, thiết chế văn hóa, không gian sinh hoạt chung; đồng thời phải biết kết nối văn hóa với du lịch, chuyển đổi số, giáo dục địa phương và phát triển kinh tế sáng tạo. Đây là yêu cầu rất mới, trong khi năng lực cán bộ, hạ tầng dữ liệu, nguồn lực tài chính và cơ chế phối hợp ở nhiều nơi vẫn chưa đồng đều.

Vì vậy, bức tranh một năm qua có thể nhìn bằng hai gam màu. Một mặt, bộ máy gọn hơn tạo điều kiện để văn hóa không bị chia cắt bởi quá nhiều tầng nấc quản lý. Mặt khác, sự thay đổi ranh giới hành chính cũng có thể làm xáo trộn những “ranh giới mềm” của ký ức, tập quán, tín ngưỡng và tình làng nghĩa xóm. Văn hóa không nằm trên bản đồ hành chính theo cách khô cứng. Văn hóa nằm trong trí nhớ của người dân, trong tên làng, mái đình, cây đa, bến nước, nghĩa trang, dòng họ, lễ hội, nghề truyền thống, trong những câu chuyện ông bà kể lại cho con cháu. Nếu không nhìn thấy tầng sâu ấy, cải cách hành chính có thể đúng về tổ chức nhưng lại thiếu độ ấm trong đời sống cộng đồng.

Điều đáng mừng là sau một năm, nhiều địa phương đã nhận ra điều đó. Việc sắp xếp không thể chỉ là cộng gộp cơ học các đơn vị hành chính cũ, càng không thể chỉ là thay đổi con dấu, biển tên, địa chỉ trên giấy tờ. Sáp nhập hành chính là một quá trình dung hợp văn hóa. Một xã, phường mới có thể rộng hơn, đông dân hơn, có nguồn lực lớn hơn, nhưng cũng chứa trong nó nhiều lớp ký ức, nhiều không gian văn hóa, nhiều cộng đồng cư dân với lịch sử, phong tục, tập quán khác nhau. Nếu không biết dung hợp, rất dễ tạo ra cảm giác bên này – bên kia, cũ – mới, trung tâm – ngoại vi. Nếu biết dung hợp, đó lại là cơ hội để tạo ra một bản sắc phong phú hơn, một nguồn lực phát triển lớn hơn.

Tôi cho rằng, bài học quan trọng nhất sau một năm là: năng lực thích ứng văn hóa của chính quyền mới không chỉ nằm ở khả năng ban hành văn bản hay hoàn thành quy trình tổ chức bộ máy, mà nằm ở khả năng lắng nghe những điều không ghi trong văn bản. Người dân có thể không nói bằng những khái niệm như “bản sắc”, “di sản”, “thiết chế văn hóa”, nhưng họ nói bằng nỗi nhớ tên làng, bằng sự gắn bó với đình chùa, bằng thói quen đi lễ hội, bằng niềm tự hào về nghề truyền thống, bằng cảm giác thuộc về một cộng đồng cụ thể.

Ở đâu chính quyền biết lắng nghe, đối thoại, tôn trọng người cao tuổi, nghệ nhân, chức sắc tôn giáo, trưởng họ, người có uy tín trong cộng đồng, ở đó việc sắp xếp diễn ra êm hơn. Ở đâu chỉ làm theo tiến độ hành chính, coi văn hóa là việc có thể “xử lý sau”, ở đó dễ phát sinh khoảng cách tâm lý. Cải cách bộ máy muốn bền vững phải đi qua lòng dân; mà lòng dân trong văn hóa không thể đo chỉ bằng số phiếu đồng ý, mà phải đo bằng sự yên tâm, sự gắn bó và niềm tin rằng quê hương mình không bị mất tên trong tiến trình phát triển.

BIẾN SÁP NHẬP THÀNH CƠ HỘI ĐỊNH VỊ LẠI BẢN SẮC ĐỊA PHƯƠNG

Trong quá trình sắp xếp, có một “dòng chảy ngầm” rất đáng lắng nghe. Người dân có thể đồng thuận với chủ trương lớn, nhưng vẫn không khỏi băn khoăn: tên làng mình có còn không, lễ hội cũ sẽ tổ chức thế nào, đình làng có bị mờ đi không, nhà văn hóa đặt ở đâu, người già đi sinh hoạt có xa quá không, con cháu sau này còn biết mình thuộc về đâu không. Những câu hỏi ấy không phải là tâm lý cục bộ, càng không phải là sự níu kéo quá khứ. Đó là nhu cầu chính đáng được bảo vệ ký ức, căn tính và cảm giác thuộc về của cộng đồng.

Vì thế, điều quan trọng là phải phân biệt rõ giữa đổi mới quản trị và xóa bỏ ký ức. Ta có thể thay đổi địa giới hành chính để quản lý hiệu quả hơn, nhưng không thể coi ký ức làng xã chỉ là vài ký tự trên giấy tờ. Những tên làng cổ nếu không còn là tên đơn vị hành chính thì vẫn cần được trân trọng giữ lại trong đời sống văn hóa: trên biển chỉ dẫn, trong phòng truyền thống, trong bản đồ số, trong hồ sơ di sản, trong tên đường, tên trường, tên nhà văn hóa, trong các sản phẩm du lịch cộng đồng, trong chương trình giáo dục địa phương.

Một chủ trương hành chính bao giờ cũng mang tính “cứng”: có mốc thời gian, có tiêu chí, có quy trình, có thẩm quyền, có quyết định. Nhưng văn hóa lại là phần “mềm”: chậm hơn, sâu hơn, nhạy cảm hơn, gắn với cảm xúc, ký ức và lòng tự trọng cộng đồng. Muốn cái cứng vận hành trơn tru thì phải biết nâng niu cái mềm. Đó chính là nghệ thuật quản trị văn hóa trong cải cách hành chính hiện nay.

Từ thực tiễn một năm qua, có thể thấy những địa phương làm tốt thường có một điểm chung: không coi người dân là đối tượng thụ hưởng thụ động, mà coi họ là chủ thể cùng kiến tạo. Khi lấy ý kiến đặt tên, tổ chức lại thiết chế văn hóa, bảo tồn lễ hội, bố trí trung tâm sinh hoạt cộng đồng, hay xây dựng định hướng phát triển du lịch văn hóa, nếu người dân được tham gia ngay từ đầu, họ sẽ không có cảm giác bị “sắp xếp”. Ngược lại, họ thấy mình đang cùng chính quyền tạo dựng một không gian phát triển mới trên nền tảng ký ức cũ.

Trong thời gian tới, theo tôi, việc đầu tiên cần làm là xây dựng “bản đồ văn hóa” cho từng xã, phường sau sáp nhập. Bản đồ ấy không chỉ ghi di tích đã được xếp hạng, mà phải ghi cả tên làng cổ, lễ hội, nghề truyền thống, nghệ nhân, nhà thờ họ, nghĩa trang, không gian tín ngưỡng, câu lạc bộ dân gian, thiết chế văn hóa, ký ức cộng đồng, các món ăn, làn điệu dân ca, phong tục tập quán, nhân vật tiêu biểu của địa phương. Không có bản đồ văn hóa, chúng ta rất dễ quản lý bằng địa giới mới nhưng lại bỏ sót những lớp trầm tích cũ.

Thứ hai, cần có nguyên tắc đặt tên, đổi tên thật thận trọng. Tên gọi mới phải ưu tiên giá trị lịch sử, văn hóa, sự đồng thuận và khả năng nhận diện lâu dài. Không nên đặt tên theo kiểu ghép cơ học, khó nhớ, thiếu hồn. Một cái tên hay phải giúp người dân thấy mình trong đó, thấy quá khứ của mình trong đó, thấy niềm tự hào và tương lai của địa phương trong đó. Tên gọi không chỉ để quản lý. Tên gọi còn để nhớ, để thương, để nhận diện, để kể lại với con cháu.

Thứ ba, phải tổ chức lại thiết chế văn hóa cơ sở theo không gian mới. Sau sáp nhập, có nơi nhà văn hóa trở nên xa dân hơn; có nơi nhiều thiết chế chồng chéo; có nơi lại thiếu điểm sinh hoạt chung. Vì vậy, cần rà soát toàn bộ mạng lưới thiết chế văn hóa, không phải để xóa bỏ giản đơn, mà để bố trí lại theo nguyên tắc thuận tiện, công bằng, đa năng và có bản sắc. Nhà văn hóa trong giai đoạn mới không chỉ là nơi họp dân, mà phải trở thành không gian học tập cộng đồng, không gian sáng tạo, không gian sinh hoạt văn nghệ, thể thao, chuyển đổi số và kết nối các thế hệ.

Thứ tư, phải nâng cao năng lực cán bộ văn hóa cấp xã. Cán bộ văn hóa trong mô hình mới cần được đào tạo về quản trị di sản, quản lý lễ hội, truyền thông cộng đồng, chuyển đổi số, phát triển du lịch văn hóa, xây dựng sản phẩm sáng tạo, xử lý xung đột văn hóa và làm việc với các chủ thể cộng đồng. Nếu cán bộ cơ sở không đủ năng lực, những chủ trương rất đúng ở tầm vĩ mô sẽ khó đi vào đời sống. Giao nhiệm vụ phải đi đôi với giao nguồn lực, giao thẩm quyền, giao dữ liệu và giao công cụ thực thi.

Thứ năm, cần số hóa ký ức cộng đồng. Mỗi địa phương sau sáp nhập nên có cơ sở dữ liệu văn hóa mở, trong đó lưu giữ hình ảnh, tư liệu, câu chuyện, nhân vật, lễ hội, địa danh, nghề truyền thống, món ăn, làn điệu dân ca, phong tục tập quán. Đây không chỉ là việc lưu trữ, mà còn là cách trao lại ký ức cho thế hệ trẻ bằng ngôn ngữ của thời đại số. Khi một em nhỏ có thể quét mã QR để biết tên làng mình có từ bao giờ, lễ hội quê mình bắt nguồn từ đâu, nghề truyền thống của cha ông từng phát triển ra sao, lúc đó cải cách hành chính đã gặp được giáo dục văn hóa, chuyển đổi số đã gặp được căn tính cộng đồng.

Cuối cùng, cần nhìn sáp nhập không chỉ như một việc tổ chức lại bộ máy, mà như cơ hội định vị lại bản sắc địa phương. Khi một xã, phường mới hình thành từ nhiều làng, nhiều bản, nhiều không gian văn hóa, điều quan trọng không phải là làm cho tất cả giống nhau, mà là biết cộng hưởng những khác biệt. Một địa phương mạnh trong kỷ nguyên mới không phải là địa phương có ít tên gọi hơn, mà là địa phương biết biến mỗi tên gọi, mỗi di sản, mỗi ký ức thành nguồn lực phát triển.

Nếu làm được như vậy, mô hình chính quyền địa phương hai cấp sẽ không chỉ tạo ra một bộ máy gọn hơn, mà còn tạo ra một năng lực quản trị văn hóa sâu hơn; không chỉ sắp xếp lại không gian hành chính, mà còn khơi dậy sức mạnh mềm của làng xã, di sản và con người Việt Nam. Cải cách khi ấy không chỉ là tinh gọn để mạnh hơn, mà còn là biết giữ lại những gì làm nên hồn cốt của cộng đồng, để mỗi bước đi về phía tương lai vẫn có gốc rễ bền sâu trong ký ức, bản sắc và niềm tự hào quê hương.

Xem Thêm

Khai mạc hội nghị Khoa học và Triển lãm quốc tế về Điều khiển và Tự động hóa lần thứ 8
Với chủ đề “Tự động hoá thông minh - công nghệ chiến lược của Kỷ nguyên số”, hội nghị Khoa học và Triển lãm quốc tế về Điều khiển và Tự động hóa lần thứ 8 (VCCA 2026) đã khai mạc sáng 16/7 tại Trường Đại học Quy Nhơn (tỉnh Gia Lai). Sự kiện quy tụ gần 400 trăm nhà khoa học, chuyên gia, doanh nghiệp trong nước và quốc tế nhằm chia sẻ các xu hướng công nghệ chiến lược.
Chỉ thị số 07-CT/TW của Bộ Chính trị về "Đẩy mạnh học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn phát triển mới"
Thay mặt Bộ Chính trị, đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã ký ban hành Chỉ thị số 07-CT/TW ngày 13/7/2026 về "Đẩy mạnh học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn phát triển mới". Trân trọng giới thiệu toàn văn Chỉ thị.
Bí thư Châu Văn Minh dâng hương tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ và tặng quà gia đình chính sách tại Quảng Trị
Nhân kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2026), ngày 13/7, GS.VS Châu Văn Minh, Bí thư Đảng ủy Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam đã dẫn đầu Đoàn công tác đến dâng hương tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ tại tỉnh Quảng trị và thăm hỏi, tặng quà các gia đình chính sách, người có công với cách mạng có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn.
Tạp chí Việt Nam Hội nhập đạt chuẩn Tạp chí khoa học năm 2026
Vừa qua, Bộ Khoa học và Công nghệ đã ban hành Quyết định số 2244/QĐ-BKHCN và Quyết định 2823/QĐ-BKHCN để công bố danh mục tạp chí đạt tiêu chuẩn khoa học Việt Nam năm 2026. Sự kiện này đánh dấu một bước tiến quan trọng trong quá trình chuẩn hóa hệ thống xuất bản học thuật nước nhà, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về chất lượng nghiên cứu, phản biện và các chuẩn mực công bố khoa học hiện đại.
Viện Chính sách, Pháp luật và Quản lý khẳng định vị thế là một tổ chức khoa học uy tín
Trong bối cảnh đất nước đang đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, hoàn thiện thể chế phát triển và thúc đẩy đổi mới sáng tạo, hoạt động nghiên cứu khoa học về chính sách, pháp luật và khoa học quản lý ngày càng giữ vai trò quan trọng trong việc cung cấp luận cứ khoa học phục vụ quá trình hoạch định chủ trương, chính sách, cũng như hoàn thiện hệ thống pháp luật.
Đắk Lắk: Mở ra không gian phát triển, nhiều tiềm năng cho đội ngũ trí thức khoa học
Việc hợp nhất tỉnh Đắk Lắk và Phú Yên đã mở ra không gian phát triển mới với nhiều tiềm năng về kinh tế, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Trong bối cảnh khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trở thành động lực quan trọng của tăng trưởng, phát huy vai trò đội ngũ trí thức KH&CN là yêu cầu cấp thiết, tạo nền tảng cho sự phát triển nhanh, bền vững của tỉnh Đắk Lắk.
Nghị quyết 57/NQ-TW: Đột phá là đời sống của người dân được cải thiện rõ rệt hơn
Mọi hệ thống số, cơ sở dữ liệu và nền tảng số phải được thiết kế theo yêu cầu an toàn, an ninh ngay từ đầu; coi đào tạo kỹ năng số, năng lực đổi mới sáng tạo và ứng dụng AI là nhiệm vụ lâu dài. Khi những điều đó được thực hiện đồng bộ, Nghị quyết 57/NQ-TW sẽ tạo nền tảng quan trọng để Việt Nam bứt phá.

Tin mới

Khai mạc hội nghị Khoa học và Triển lãm quốc tế về Điều khiển và Tự động hóa lần thứ 8
Với chủ đề “Tự động hoá thông minh - công nghệ chiến lược của Kỷ nguyên số”, hội nghị Khoa học và Triển lãm quốc tế về Điều khiển và Tự động hóa lần thứ 8 (VCCA 2026) đã khai mạc sáng 16/7 tại Trường Đại học Quy Nhơn (tỉnh Gia Lai). Sự kiện quy tụ gần 400 trăm nhà khoa học, chuyên gia, doanh nghiệp trong nước và quốc tế nhằm chia sẻ các xu hướng công nghệ chiến lược.
Chỉ thị số 07-CT/TW của Bộ Chính trị về "Đẩy mạnh học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn phát triển mới"
Thay mặt Bộ Chính trị, đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã ký ban hành Chỉ thị số 07-CT/TW ngày 13/7/2026 về "Đẩy mạnh học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn phát triển mới". Trân trọng giới thiệu toàn văn Chỉ thị.
Bí thư Châu Văn Minh dâng hương tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ và tặng quà gia đình chính sách tại Quảng Trị
Nhân kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2026), ngày 13/7, GS.VS Châu Văn Minh, Bí thư Đảng ủy Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam đã dẫn đầu Đoàn công tác đến dâng hương tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ tại tỉnh Quảng trị và thăm hỏi, tặng quà các gia đình chính sách, người có công với cách mạng có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn.
Tạp chí Việt Nam Hội nhập đạt chuẩn Tạp chí khoa học năm 2026
Vừa qua, Bộ Khoa học và Công nghệ đã ban hành Quyết định số 2244/QĐ-BKHCN và Quyết định 2823/QĐ-BKHCN để công bố danh mục tạp chí đạt tiêu chuẩn khoa học Việt Nam năm 2026. Sự kiện này đánh dấu một bước tiến quan trọng trong quá trình chuẩn hóa hệ thống xuất bản học thuật nước nhà, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về chất lượng nghiên cứu, phản biện và các chuẩn mực công bố khoa học hiện đại.
Viện Chính sách, Pháp luật và Quản lý khẳng định vị thế là một tổ chức khoa học uy tín
Trong bối cảnh đất nước đang đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, hoàn thiện thể chế phát triển và thúc đẩy đổi mới sáng tạo, hoạt động nghiên cứu khoa học về chính sách, pháp luật và khoa học quản lý ngày càng giữ vai trò quan trọng trong việc cung cấp luận cứ khoa học phục vụ quá trình hoạch định chủ trương, chính sách, cũng như hoàn thiện hệ thống pháp luật.
Đắk Lắk: Mở ra không gian phát triển, nhiều tiềm năng cho đội ngũ trí thức khoa học
Việc hợp nhất tỉnh Đắk Lắk và Phú Yên đã mở ra không gian phát triển mới với nhiều tiềm năng về kinh tế, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Trong bối cảnh khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trở thành động lực quan trọng của tăng trưởng, phát huy vai trò đội ngũ trí thức KH&CN là yêu cầu cấp thiết, tạo nền tảng cho sự phát triển nhanh, bền vững của tỉnh Đắk Lắk.
Nghị quyết 57/NQ-TW: Đột phá là đời sống của người dân được cải thiện rõ rệt hơn
Mọi hệ thống số, cơ sở dữ liệu và nền tảng số phải được thiết kế theo yêu cầu an toàn, an ninh ngay từ đầu; coi đào tạo kỹ năng số, năng lực đổi mới sáng tạo và ứng dụng AI là nhiệm vụ lâu dài. Khi những điều đó được thực hiện đồng bộ, Nghị quyết 57/NQ-TW sẽ tạo nền tảng quan trọng để Việt Nam bứt phá.
Thanh Hoá: Hội nghị sơ kết 6 tháng đầu năm 2026
Ngày 10/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Thanh Hóa (Liên hiệp hội) tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành mở rộng lần thứ VII, khoá VII, nhiệm kỳ 2024 - 2029; sơ kết 6 tháng đầu năm, triển khai nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm 2026.
Lâm Đồng: Kết nối sức mạnh - Khơi thông nguồn lực phát triển năng lượng tái tạo
Chiều ngày 09/7, tại Đà Lạt, Hiệp hội Điện gió và Mặt trời tỉnh Lâm Đồng (Hội thành viên Liên hiệp Hội) tổ chức Hội nghị thường niên năm 2026 nhằm đánh giá kết quả hoạt động năm 2025 và 6 tháng đầu năm 2026, đồng thời đề ra phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm cho 6 tháng cuối năm.
Liên hiệp Hội tỉnh Hà Tĩnh và Quảng Trị tăng cường trao đổi kinh nghiệm
Chiều ngày 09/7, Đoàn công tác Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (LHH) tỉnh Quảng Trị do Tiến sĩ Trần Văn Tuân – Chủ tịch Liên hiệp Hội làm Trưởng đoàn đã có buổi thăm, làm việc và trao đổi kinh nghiệm tại LHH tỉnh Hà Tĩnh. Tiếp và làm việc với đoàn có Tiến sĩ Bùi Khắc Bằng – Chủ tịch LHH tỉnh Hà Tĩnh cùng đại diện các ban chuyên môn.
Đắk Lắk: Liên hiệp hội sơ kết công tác 6 tháng đầu năm
Chiều ngày 09/7, Liên hiệp hội tỉnh Đắk Lắk đã tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành (mở rộng) nhằm sơ kết công tác 6 tháng đầu năm và triển khai phương hướng, nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026; đồng thời cho ý kiến đối với các nội dung chuẩn bị Đại hội Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031.