Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ tư, 20/09/2006 14:58 (GMT+7)

Giao đất, giao rừng - Kết quả và những giải pháp cần bổ sung

Chủ trương và quá trình thể chế hoá

Chủ trương giao đất, giao rừng của Đảng đã hình thành từ rất sớm. Ngay từ năm 1983, Ban Bí thư (khoá V) đã có Chỉ thị 29-CT/TW ngày 12/11/1983 về việc đẩy mạnh giao đất, giao rừng, xây dựng rừng và tổ chức kinh doanh theo phương thức nông - lâm kết hợp nhằm bảo vệ bằng được diện tích rừng hiện có và phát triển mạnh vốn rừng, sử dụng có hiệu quả đất trống, đồi núi trọc và bãi cát ven biển, phát huy tốt chức năng phòng hộ, bảo vệ môi trường sống và cung cấp của rừng, đáp ứng nhu cầu ngày càng to lớn của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và nâng cao đời sống của nhân dân, tăng cường an ninh quốc phòng... Chỉ thị nhấn mạnh: làm cho mỗi khu đất, mỗi cánh rừng, mỗi quả đồi đều có người làm chủ cụ thể...

Từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, với đường lối đổi mới của Đảng, ngành lâm nghiệp từ chỗ dựa vào quốc doanh nay chuyển sang lâm nghiệp xã hội, nhân dân trở thành lực lượng chủ yếu bảo vệ và phát triển rừng. Nghị quyết 10 Bộ Chính trị (khoá VI) ngày 5/4/1988 đã chỉ rõ: Thực hiện việc giao rừng và đất rừng cho hợp tác xã, tập đoàn sản xuất và hộ nông dân bảo vệ, chăm sóc, nuôi trồng, khai thác và tận dụng sản phẩm của rừng, tạo điều kiện cho dân cư ở vùng có rừng, đất rừng sinh sống và làm giầu bằng kinh doanh tổng hợp các thế mạnh của rừng. Luật Bảo vệ và phát triển rừng ban hành năm 1991 đã ghi rõ tại điều 2: Nhà nước giao rừng, đất trồng rừng cho tổ chức, cá nhân để bảo vệ, phát triển và sử dụng rừng ổn định, lâu dài...

Như vậy, Luật Bảo vệ và phát triển rừng (năm 1991) đã thể chế hoá một bước chủ trương giao đất, giao rừng với đối tượng được giao là tổ chức và cá nhân. Nghị định số 02/ CP ngày 15/1/1994 của Thủ tướng Chính phủ, đã có thêm một bước tiến khi quy định các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân được giao đất lâm nghiệp để sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích lâm nghiệp. Cho tới lúc này, luật pháp mới chính thức công nhận hộ gia đình là một trong những đối tượng được giao đất, giao rừng. Từ sau Đại hội VIII của Đảng, nhằm đẩy mạnh quá trình xã hội hoá ngành lâm nghiệp, Luật Bảo vệ và phát triển rừng được sửa đổi, bổ sung và ban hành năm 2004. Ngoài các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân được giao, cho thuê rừng (điều 5 Luật Bảo vệ và phát triển rừng) thì cộng đồng dân cư thôn, bản cũng trở thành đối tượng được giao rừng với những quy định về quyền, nghĩa vụ (điều 29,30 Luật Bảo vệ và phát triển rừng).

Có thể nói rằng, qua quá trình trên 20 năm, thực hiện quan điểm và nhận thức về ngành lâm nghiệp của các cấp, các ngành đã có nhiều chuyển biến mang tính cơ bản. Trước hết, đó là sự thay đổi về nhận thức từ chủ trương phát triển sản xuất lâm nghiệp dựa vào quốc doanh là chính, chuyển sang phát triển ngành lâm nghiệp dựa trên cơ sở xã hội hoá ngày càng cao. Nhà nước và Nhân dân cùng bảo vệ và phát triển rừng, trong đó nhân dân là lực lượng chủ yếu.

Sự thay đổi về nhận thức đó đã góp phần mở rộng đối tượng được giao đất, giao rừng, giúp họ sử dụng ổn định, lâu dài. Từ chỗ chỉ có các lâm trường quốc doanh, các hợp tác xã mới được giao đất, giao rừng thì sau này các tổ chức, cá nhân và tiếp theo là hộ gia đình, cộng đồng dân cư thôn, bản cũng là đối tượng được giao đất, giao rừng. Mặt khác, ngoài việc giao đất, giao rừng còn có việc cho thuê rừng (điều 5 khoản 2 và 3 quy định tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân trong nước được Nhà nước giao rừng, cho thuê rừng, giao đất, cho thuê đất để phát triển rừng..). Trong đó, các tổ chức được thuê rừng đặc dụng, phòng hộ, sản xuất và hộ gia đình, cá nhân thuê rừng sản xuất.

Đây là bước tiến quan trọng trong quan điểm, nhận thức thừa nhận các thành phần kinh tế đều được tham gia bảo vệ, phát triển rừng. Điều này phù hợp với chủ trương phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa.

Một số kết quả đạt được

Chủ sử dụng đất lâm nghiệp ngày càng được xã hội hoá. Diện tích rừng và đất rừng đã được giao ngày càng nhiều cho hộ gia đình, cộng đồng trong khi diện tích giao cho doanh nghiệp nhà nước giảm dần. Năm 1999, trên tổng diện tích 10.915.592 ha đất có rừng của cả nước đã giao cho các chủ rừng là 7.956.592 ha (72,89%), trong đó: doanh nghiệp nhà nước và các ban quản lý rừng phòng hộ, đặc dụng: 5.730.577 ha (52,50%), hộ gia đình và các đơn vị tập thể: 2.006.464 ha (18,38%). Năm 2004, trên đất có rừng của cả nước là 12.306.858 ha, đã giao cho một số chủ rừng sau: doanh nghiệp nhà nước và các ban quản lý rừng phòng hộ, đặc dụng: 6.092.753 ha (49,51%), hộ gia đình và các đơn vị tập thể: 3.155.797 ha (25,64%), UBND xã: 2.707.140 ha (22%).

Nhìn chung, đất có rừng giao cho hộ gia đình và tập thể đã tăng, trong khi diện tích giao cho doanh nghiệp nhà nước và các ban quản lý giảm. Trong các đối tượng được giao rừng, cộng đồng dân cư thôn, bản ... hiện đang tham gia quản lý trên 2 triệu ha đất có rừng. Độ che phủ rừng tăng. Diện tích rừng trồng mới tăng, diện tích rừng tự nhiên được khoanh nuôi, bảo vệ phục hồi nhanh, nâng cao đáng kể năng lực phòng hộ. Đời sống của một bộ phận nhân dân được nâng cao do phát triển kinh tế vườn, trang trại rừng.

Bên cạnh đó, vẫn còn một số hạn chế trong quá trình thực hiện: Tiến độ giao đất, giao rừng chậm. Tính đến cuối tháng 3/2006 mới giao và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp cho 17% số hộ và gần 30% diện tích đất lâm nghiệp cho các hộ gia đình. Diện tích do uỷ ban nhân dân xã quản lý lên tới 2,7 triệu ha (22% diện tích đất có rừng) nhưng trách nhiệm không rõ ràng, quản lý còn nhiều lỏng lẻo vì cấp xã chưa đủ năng lực quản lý, thiếu cán bộ, lực lượng và phương tiện bảo vệ. Mặt khác, tình trạng rừng không có chủ cụ thể đã góp phần gia tăng tệ phá rừng.

Thiếu các quy định cụ thể trong giao đất giao rừng. Cho đến nay, loại rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, rừng sản xuất nào có thể giao hoặc cho các thành phần kinh tế, hộ gia đình thuê cũng chưa thực sự rõ ràng.

Thiếu các giải pháp để đưa đất đã giao cho các hộ vào phục vụ sản xuất. Phần lớn nhân dân sống trên địa bàn miền núi thiếu vốn và các kỹ năng sản xuất để trồng, chăm sóc làm giầu rừng nhưng ít được hỗ trợ có hiệu quả. Đến nay, thực trạng sử dụng đất đã giao chưa được làm rõ việc khi lập dự án triển khai các chương trình kinh tế thường gặp nhiều khó khăn về quỹ đất. Chương trình 661 là một minh chứng rõ cho trường hợp này. Phần lớn các địa phương báo cáo có quỹ đất để trồng rừng nhưng trong thực tế khi triển khai thì đất đai đều đã có chủ, dẫn đến tiến độ trồng mới rừng không đạt chỉ tiêu đặt ra.

Mặc dù chủ trương giao đất, giao rừng đã có từ nhiều năm nay nhưng chính sách trong lĩnh vực này đến nay còn chưa đồng bộ, chưa tạo được động lực cho người nhận đất nhận rừng. Việc giao đất, giao rừng có nhiều điểm khác với giao đất nông nghiệp. Trong khi đất nông nghiệp, sau khi giao cho hộ nông dân sử dụng ổn định, lâu dài ngay lập tức đã tạo ra sự chuyển biến mạnh mẽ thì đối với đất lâm nghiệp, việc giao đất cho dân mới chỉ là bước đi đầu tiên.

Quản lý ngành còn bất cập, chưa có sự thống nhất trong toàn quốc, chưa đủ mạnh, nhất là cấp cơ sở. Công tác khuyến lâm còn rất yếu cả về tổ chức và nội dung tiến hành. Giữa cơ quan phát triển lâm nghiệp và kiểm lâm chưa có được sự phối hợp chặt chẽ, giải quyết hài hoà mối quan hệ giữa phát triển và bảo vệ rừng.

Một số giải pháp

Để công tác giao đất, giao rừng đạt được kết quả tốt hơn trong thời gian tới, các cấp, các ngành từ trung ương đến địa phương cần tiếp tục tạo được sự thống nhất trong nhận thức chủ trương phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Theo đó, trong lâm nghiệp, các thành phần kinh tế đều được khuyến khích tham gia bảo vệ, phát triển rừng. Việc giao đất, giao rừng cần được coi là nội dung cốt lõi trong quá trình xã hội hoá ngành lâm nghiệp.

Đổi mới chính sách giao đất giao rừng: Các thành phần kinh tế, hộ gia đình, cộng đồng thôn bản đều có thể được giao, thuê cả ba loại rừng kể cả rừng sản xuất là rừng tự nhiên trên cơ sở các chế tài chặt chẽ, rõ ràng. Với mục tiêu giải phóng sức sản xuất, cần giao, cho thuê đất lâm nghiệp cho các doanh nghiệp, hộ gia đình có năng lực sản xuất. Đối với các hộ khác, chỉ giao đủ diện tích đất để làm kinh tế hộ.

Sửa đổi chính sách tín dụng trong trồng rừng. Theo đó, người trồng rừng phải được nhận các khoản tài chính về những đóng góp của họ cho phòng hộ, tạo nguồn nước và môi trường.Trước mắt, có thể hỗ trợ giống cây ngắn ngày, tạo điều kiện thực hiện nông, lâm kết hợp, lấy ngắn nuôi dài; hỗ trợ đầu tư trồng rừng. Về chính sách hưởng lợi trong giao, khoán rừng cần đa dạng hoá nguồn thu nhập của người nhận đất, nhận rừng đối với từng loại rừng cụ thể như: tạo thu nhập trực tiếp từ rừng và đất rừng; nơi rừng và đất rừng chưa có khả năng sinh lợi có thể hỗ trợ để sản xuất nông, lâm kết hợp, hỗ trợ lương thực và trả tiền công giao khoán thoả đáng.

Rà soát, đánh giá thực trạng sử dụng đất lâm nghiệp hiện nay kể cả các ban quản lý rừng để nắm chắc được quỹ đất hiện có, sớm đưa những diện tích đất bị bao chiếm, không sử dụng hoặc sử dụng kém hiệu quả cho những doanh nghiệp, hộ gia đình có năng lực sản xuất.

Về khoa học công nghệ: tập trung nghiên cứu để xác định được tập đoàn cây lâm nghiệp mang lại hiệu quả kinh tế có sức cạnh tranh với các loại cây nông nghiệp khác, nâng cao thu nhập người trồng rừng, giảm sức ép phá rừng để trồng cây nông nghiệp như hiện nay. Đối với công nghệ chế biến, cần đẩy mạnh ứng dụng công nghệ bảo quản, sơ chế nâng cao chất lượng gỗ rừng trồng.

Hoàn thiện bộ máy quản lý nhà nước về lâm nghiệp thống nhất từ Trung ương đến cơ sở. Trong đó, hình thành cơ quan quản lý đủ mạnh ở Trung ương, giải quyết tốt mối quan hệ giữa hai cơ quan phát triển và bảo vệ rừng với việc đặt hai cơ quan này vào một đầu mối quản lý thống nhất. Tiếp tục thực hiện cải cách hành chính, giảm thiểu tối đa các thủ tục hành chính gây ách tắc, phiền hà cho người hành nghề lâm nghiệp.

Nguồn: cpv.org.vn 18/7/2006

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Quyết định số 185-QĐ/TW: Bộ Chính trị giao 1.878.362 biên chế năm 2026
Thay mặt Bộ Chính trị, đồng chí Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú đã ký ban hành Quyết định số 185-QĐ/TW ngày 02/6/2026, về biên chế các ban, cơ quan, đơn vị sự nghiệp của Đảng ở Trung ương; cơ quan Mặt trận Tổ quốc, cơ quan tham mưu, giúp việc Đảng uỷ Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương, Đảng uỷ các cơ quan Đảng Trung ương và các tỉnh, thành phố năm 2026.
GS.VS.TSKH Trần Đình Long: Khoa học chỉ thật sự có giá trị khi đến được với người dân
Từ một cậu học trò nghèo đất Tổ Phú Thọ đến nhà khoa học được quốc tế ghi nhận, được vinh danh Công dân Thủ đô ưu tú năm 2025, hành trình của ông là câu chuyện đẹp về lòng say mê tri thức, tinh thần cống hiến và niềm tin bền bỉ vào tương lai của nền nông nghiệp Việt Nam.
VUSTA - cầu nối thúc đẩy hợp tác khoa học, giáo dục giữa cơ sở đào tạo của Việt Nam và Tatarstan
Chiều ngày 08/6, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) cùng Trường Đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội (USTH) đã có cuộc làm việc, trao đổi trực tuyến với Bộ Giáo dục và Khoa học Cộng hòa Tatarstan (Liên bang Nga) cùng đại diện nhiều viện nghiên cứu, trường đại học hàng đầu của Tatarstan nhằm thúc đẩy hợp tác trong lĩnh vực khoa học, công nghệ và giáo dục đào tạo.
Chủ tịch Phan Xuân Dũng: VUSTA luôn ủng hộ, hỗ trợ Hội Cơ học Việt Nam tổ chức các sân chơi bổ ích cho sinh viên
Ngày 07/6/2026, tại Trường Đại học Xây dựng Hà Nội, Hội Cơ học Việt Nam đã long trọng tổ chức Lễ Tổng kết và Trao giải Olympic Cơ học toàn quốc lần thứ 36 năm 2026 khu vực phía Bắc. Đây là sự kiện thường niên có ý nghĩa quan trọng nhằm đánh giá kết quả kỳ thi, biểu dương những thành tích nổi bật của sinh viên, giảng viên và các cơ sở đào tạo trên cả nước.
Bắc Ninh: Ông Ngô Chí Vinh giữ chức Chủ tịch Liên hiệp Hội Khóa I
Trong 02 ngày 05 và 06/6, Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Bắc Ninh đã tổ chức Đại hội đại biểu lần thứ nhất, nhiệm kỳ 2026-2031. Phiên thứ nhất của Đại hội diễn ra chiều ngày 05/6; phiên chính thức được tổ chức vào sáng ngày 06/6/2026 với sự tham dự của đông đảo đại biểu đại diện cho đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trên địa bàn tỉnh.
Hải Phòng: Xác định tiêu chí chuyên gia, nhà khoa học người nước ngoài
Sáng 05/6, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (Liên hiệp Hội) thành phố Hải Phòng đã tổ chức hội thảo tư vấn, góp ý vào dự thảo Nghị quyết quy định tiêu chí đối với người nước ngoài là chuyên gia, nhà khoa học, người có tài năng, nhà quản lý, người lao động có trình độ cao làm việc tại doanh nghiệp có trụ sở chính trong Khu thương mại tự do thành phố Hải Phòng.
Thủ tướng Lê Minh Hưng hội đàm với Thủ tướng Lào Sonexay Siphandone
​Nhận lời mời của Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng, chiều 7/6, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào Sonexay Siphandone dẫn đầu Đoàn đại biểu cấp cao Chính phủ Lào đến Thủ đô Hà Nội, bắt đầu chuyến thăm chính thức Việt Nam và tham dự Diễn đàn Tương lai ASEAN 2026 từ ngày 7-9/6.