Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ sáu, 30/03/2012 17:07 (GMT+7)

Ghe bầu Phan Thiết

Tác giả Trần Văn An đã đưa ra 3 căn cứ để cho rằng ban đầu ghe thuyền Chămpa chịu ảnh hưởng của Mã Lai – Nam Đảo, sau đó quá trình đó được tiếp nối ở ghe thuyền Đại Việt ở đàng Trong. Đầu tiên là người Chămpa vốn giỏi về hàng hải, đã có giao lưu buôn bán tận Địa Trung Hải, Trung Cận Đông, Trung Hoa. Kế đến là cho đến đầu thế kỷ XX, các bến đậu của ghe bầu chỉ phân bố từ Cửa Lò vào đến những bến cảng lớn của vương quốc Chămpa trước đây. Ngoài ra còn lưu hành rộng rãi truyền thuyết về cặp vợ chồng người Chăm là Thầy Thím chuyên đóng ghe bầu cho người Việt. Và sự tương đồng về tên gọi của ghe bầu như: gay/ghe, nga lan/ ngà làn, càn làn… Đây cũng là một minh chứng cho mối giao lưu giữa văn hoá Việt – Chăm trên lĩnh vực văn hoá dân gian.

Trong kỹ thuật đóng ghe bầu, các thợ xảm ghe và thợ mộc của Mũi Né (1)(Phan Thiết) nổi tiếng đóng khéo và có trách nhiệm. Các ghe bầu của họ là khuôn mẫu cho thợ đóng ghe ở Hội An (Quảng Nam ) và Phổ An (huyện Đức Phổ, Quảng Ngãi). Ghe bầu Mũi Né có đặc điểm là sàn với mạn ghe ngang 40cm và lao về phía trước. Cùng với ghe mành của Quảng Bình và ghe của Phú Quốc, ghe bầu Mũi Né có sàn mang đặc trưng kiểu Việt. Vỏ ghe bầu ở đáy với một chỗ phẳng nhẹ để dễ dàng vào bờ. Ghe bầu Mũi Né có tải trọng 120 tấn, dài 30m, chiều ngang có thể lên đến 6m, chiều sâu 4m. Từ 80 năm nay, một vài ghe bầu đã đạt và vượt 300 tấn. Ghe bầu trọng tải lớn ngày nay không còn nữa.

Ghe bầu Phan Thiết có tải trọng 80-100 tấn được xếp là loại to, thậm chí chiếc lớn nhất đến 135 tấn, loại trung bình 70 – 80 tấn và loại nhỏ dưới 70 tấn. Những năm 1960-1967, ghe bầu được đóng ở đây có chiều dài 19m, chiều rộng 5m.

Một cách phân loại khác là dựa vào khối lượng hàng hoá chở được. Ghe loại 1 chở được 1.200 bao gạo chỉ xanh (1 bao nặng 100kg) hay 22.000 tĩn (2)nước mắm; loại 2 chở 1.000 bao gạo hay 18.000 tĩn nước mắm; loại 3 chở từ 500-600 bao gạo hay 9.000-10.000 tĩn nước mắm.

Ghe loại 1 dài 20m, chiều ngang 6m, đóng dưới hai dạng: dạng nan và dạng ván. Ghe bầu nan đóng bằng ván, lườn mê ghe bằng nan. Nhưng do mê nan không chịu nổi sức nặng của trọng tải nên người ta thay thế bằng ghe bầu ván.

Mỗi chiếc ghe bầu còn có 1 chiếc xuồng nhỏ chạy kéo theo để di chuyển gần, chở được 10 người.

Tại Mũi Né, ngư dân dùng ghe bầu đáy nan, được thiết kế thành 2 phần. Phần trên là lườn ván, hai lộng dọc ngang với những cây chèo, dầm lớn nhỏ làm bằng gỗ sao, chịu được nước mặn. Phần dưới chỉ gồm mỗi đáy dài và hẹp, đan bằng nan tre rồi sơn trước khi trét lớp dầu chai đặc biệt. Đây là chỗ đựng cá đánh bắt được, giữ cho cá tươi cho đến khi vào bờ.

Buồm ghe có 3 cột: 1 buồm lớn ở giữa, buồm mũi và buồm ưng ở sau. Buồm lớn gồm 1 cột cao 16m, có trục thượng để kéo ngạch buồm, 8 sợi dây chằng (2 sợi cột thang, 6 sợi để giằng cột chính). Trục hạ để cột buồm. Buồm mũi hình bình hành, không dây, lớn hơn buồm ưng với tỷ lệ 6/10. Buồm ưng cũng có hình bình hành, có tác dụng bọc gió để đẩy ghe đi nhanh thêm, có 1 sợi dây kéo buồm này.

Khoảng 500-600 khúc buồm được kết thành 3 cánh buồm của ghe bầu. Nếu trời nắng, 14 người may trong vòng 3 ngày mới xong. Còn nếu trời mưa thì phải mất đến 5-6 ngày vì buồm được may bằng sơ dừa nên thường se dúm lại. Cạnh buồm cũng may bằng sơ dừa.

Buồm sử dụng sản phẩm của nghề dệt đệm lá buông. Loại đặc sản này được phân bố tập trung ở Hàm Tân và một phần ở Đức Linh, Phan Thiết. Trước đây, ở khu vực giáp giới hai tỉnh Bình Thuận và Đồng Nai, dọc theo quốc lộ 1 có đến 11ha rừng lá buông. Rừng cây lá buông tập trung nhiều nhất ở các xã Tân Minh, Tân Lập, Tân Thắng thuộc huyện Hàm Tân. Riêng xã Tân Minh có 2.600ha. Nghề thủ công này đã tồn tại trên 2 thế kỷ ở Bình Thuận, tạo nguồn thu cho địa phương, kể cả có giá trị xuất khẩu. Đệm buôn được đông đảo ngư dân trong vùng sử dụng, cung cấp cho cả khu vực Nam Trung Bộ và Đông nam bộ.

Cột buồm duy nhất trên ghe bầu đóng bằng gỗ sao. Trên cao có vòng thau đút bù lon để keo. Có 2 sợi dây, 1 dây dọi to bằng bắp tay để kéo trục thượng lên cao nhất, 1 dây Nam Tào để kéo trục thượng lên. Để kéo trục thượng lên phải đấu dây dọi lên trước mũi thuyền kéo bằng con tán hay cây xoay. Trong con tán có 2 cây quay để kéo buồm lên.

Khi trời thuận gió, từ Phan Thiết vào đến Vũng Tàu, ghe bầu chạy chỉ mất một đêm hoặc nửa ngày, trung bình 18km/giờ. Gặp mùa gió ngược, khoảng đường đó đi mất ba ngày đêm. Nếu nước xuôi thì 2 ngày là đến cầu Ông Lãnh (Sài Gòn). Khi gặp nước ròng thì neo ghe lại. Dân ghe bầu Mũi Né rất thành thạo kỹ thuật chạy “vát” tức chạy xiên ngược gió.

Mỗi tháng ghe đi về được ba chuyến, mỗi chuyến 7 ngày. Có những chuyến mất cả 2 tháng, do mỗi nơi phải ghe lại từ 5 đến 10 ngày. Mỗi chiếc ghe bầu lớn thường do một thuyền trưởng điều khiển và giữ tay lái được gọi là “lái phụ”, cùng 13 lao động (thường gọi là “bạn”) được chủ ghe trả lương cố định. Một “tổng khậu” lo việc ăn uống, tiếp tế hàng ngày, số còn lại chia thành 6 phiên, mỗi phiên 2 người làm đủ mọi việc để ghe luôn luôn xuôi buồm thuận gió.

Ghe nhỏ thì có 9-10 người. Chủ ghe thường không đi theo ghe buôn. Độ tuổi của lái phụ là 50-60 tuổi. Còn các bạn đi ghe từ 20 tuổi trở lên. Tỷ lệ “ăn chia” là: lái phụ 10, phiên khống 8, bạn 7. Những khi rảnh rỗi sau những cuộc mua bán, khi vào Sài Gòn họ cũng tranh thủ đi coi hát bội, cải lương, xinê. Có người mê đánh bạc với các ghe chài miền Tây đến thua sạch túi. Ông Lê Mao đến nay vẫn còn nhớ (không đầy đủ) bài Vè lái vô do một người đi bán vải kể lại cho ông nghe, xin trích ra đây một đoạn:

… Hòm Rơm, Quán Thí thương thay

Ngang lao Mũi Né gác ngoài ra khơi

Phố Hài, Phan Thiết tách rời

Nam là tại Sảnh là nơi Quán Thùng

Hòn Lang, cửa Cạn bao xa

Lagi nằm đó, hòn Bà gần ghê

Nhắm chừng hồ Đắng thẳng luôn

Ngang cửa Chúa Hòn lại luôn hồ Tràm

Hồ Tràm đương bỏ Lưới Rê

Anh em thấy thúc thương nhau…

Phan Thiết là địa bàn tập trung ghe bầu đông nhất để vận chuyển nước mắm nổi tiếng một thời (3). Hầu hết các chủ hàm hộ (hộ làm nước mắm cá thể) ở đây đều sắm ghe bầu để vận chuyển nước mắm. Trước năm 1945, Công ty Liên Thành có 3 chiếc ghe bầu lớn mang tên Vị thuyền, Phan Thiết, Hải Thuyền trị giá mỗi chiếc hàng trăm nghìn đồng (4).Ghe bầu Phan Thiết mỗi chiếc chở được “muôn mốt”, “muôn hai” tĩn nước mắm (5). Mỗi tĩn sành chữa 3,7 lít, tính cả vỏ ruột khoảng 5kg. Đôi khi nước mắm được vận chuyển bằng các toa hàng của xe lửa vào Sài Gòn, nhưng chi phí cao hơn so với vận chuyển bằng ghe bầu. Mỗi toa đôi (wagon double) xe lửa chỉ chở được 2.000 tĩn nước mắm, bằng 1/10 sức chở của một ghe bầu, mà lại dễ bị xóc bể dọc đường. Khi từ Sài Gòn trở về, ghe bầu chở theo gạo, đường, vải và các thứ hàng hoá khác. Cũng có chuyến buôn thẳng ra các tỉnh miền Trung, đến tận các tỉnh đồng bằng sông Hồng. Mỗi chuyến đi của họ kéo dài hàng 2-3 tháng, ra tận Phú Yên, Bình Định, Đà Nẵng. Sau thời thịnh hành của ghe bầu, nước mắm mới được chở bằng những ghe máy nhỏ, mỗi chiếc chở được 60-70 thùng phuy, mỗi thùng 200lít.

Nước mắm Phan Thiết được vận chuyển bằng đường ghe bầu đến chợ Ông Lãnh, xóm Các Lái (Sài Gòn), Lái Thiêu (Thủ Dầu Một), sông Tra (Bến Lức, Long An), Mỹ Tho, Gò Công, Gia Hoà, Gia Quới, Bình Đại (Bến Tre)… Ghe to đi mỗi chuyến từ 15-30 ngày.

Do có 3 chiếc ghe bầu, nên công ty Liên Thành được nhà cầm quyền cho quản suất hơn 100 chiếc ghe bầu chuyên chở gạo. Thập niên 1940, được xem là thời kỳ vàng son của ghe bầu Phan Thiết. Năm 1943-1944, gạo được ghe bầu của Liên Thành chở từ Nam kỳ ra Phan Thiết. Ghe chở gạo của công ty bị lính Nhật trưng dụng để chở than đá Nông Sơn (Quảng Nam ) vào cho nhà máy nhiệt điện Sài Gòn. Liên Thành cũng được phép chở trà theo một tỷ lệ nhất định. Một chiếc ghe bầu của công ty bị ném bom, phải chạy xuống cửa Tiểu (tỉnh Mỹ Tho) và bị chìm tại đó; thiệt hại đến 406.350 đồng, trong đó hàng hoá là 256.350 đồng. Chiếc thứ hai, cũng từ Đà Nẵng vào, chở hàng cho quân Nhật, có ghé Phan Thiết chở thêm 3.000 tĩn nước mắm. Chiếc này cập bến Sài Gòn không được, phải lánh nạn ở Ba Tri (tỉnh Bến Tre) và bị chìm tại đó, thiệt hại cả 100.000 đồng.

Ngoài nước mắm, một đặc sản nổi tiếng của Phan Thiết được trao đổi mua bán, các mặt hàng khác như muối, cá mặn, sàn vải, đậu phộng, heo sống, da thú các loại… được những chuyến ghe bầu chuyên chở vào Sài Gòn – Gia Định và đến tận Singapore buôn bán.

Thời Pháp thuộc, để cạnh tranh với hãng nước mắm Liên Thành danh tiếng, hãng Fontaine chuyên độc quyền nấu và bán rượu đế đã thành lập cơ sở chế biến nước mắm ở Hà Nội (đường Jean Dupuis) trước cổng có treo tấm bảng hiệu về hình “chiếc ghe bầu có buồm”.

Ghe bầu Phan Thiết được tiếp thu từ kỹ thuật đóng ghe của Mã Lai, Chămpa và có những sáng tạo riêng trong chế tác cũng như vận hành. Trải qua hơn 2 thế kỷ tồn tại, ghe bầu Phan Thiết đã đóng góp rất lớn vào việc giao thương cận duyên ở miền Trung Việt Nam, hình thành nên “con đường ghe bầu miền Trung”, có thể xem là một hiện tượng độc đáo trong lịch sử hàng hải thế giới. Qua đó, nó cũng góp phần chuyển tải những giá trị văn hoá giữa các vùng miền trong cả nước trong điều kiện giao thông đường bộ chưa phát triển. Đây là một di sản văn hoá quý giá cần được đầu tư nghiên cứu và có thể tái tạo lại thành những giá trị văn hoá để phục vụ cuộc sống hiện đại. Ghe bầu miền Trung nói chung và ghe bầu Phan Thiết nói riêng cần có một vị thế xứng đáng trong lịch sử hàng hải Việt Nam .

Chú thích:

(1) Trước năm 1975, nơi đây gọi là bến Bờ Đê, xã Khánh Thiện, quận Hải Long, tỉnh Bình Thuận

(2) 1 tĩn = 3,7 lít. Ở về phía Nam Phan Thiết, có một địa danh là xóm Tĩn. Nghề làm tĩn Phan Thiết phát triển rất mạnh. Nơi đây có đủ chất đốt, đất sét và bùn non để làm tĩn.

(3) Năm 1922, công ty nước mắm Liên Thành giới thiệu sản phẩm nước mắm Phan Thiết tại Hội chợ đấu xảo quốc tế ở Massetll (Pháp). Năm 1930, sản lượng nước mắm của tỉnh Bình Thuận lên tới 40 triệu lít, đựng trong 13 triệu tĩn. Riêng trung tâm ngư nghiệp Phan Thiết chiếm 7/10 sản lượng.

(4) Năm 1916, hãng nước mắm Liên Thành đã lập trại đóng ghe bầu ở Hội An để làm phương tiện vận tải nước mắm và gạo.

(5) 1 muôn = 10.000 lít

Tài liệu tham khảo:

- Tô Quyên, Trần Ngọc Trác, Phan Minh Đạo (chủ biên), Địa chí Bình Thuận, Sở Văn hoá Thông tin Bình Thuận, 2006.

- P. Paris, Esquisse dune ethnog-raphie navale des pays Annamites, B.A.V.H, No4, Octobre-Décembre, 1942.

- J.B. Pietri, Voiliers d’Indochine, SILI, Sai Gon, 1949.

- Lê Hải Đăng, Nghề làm nước mắm ở Phan Thiết, Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 1,2004

- Nhiều tác giả, Văn hoá sông nước miền Trung, Nxb KHXH, 2006.

- Tô Quyên, Ghe bầu Phan Thiết và bài vè thủy trình Huế - Sài Gòn , Báo Sài gòn giải phóng, ngày 18-9-1994

- Hồ Tá Khanh, Thông sử Công ty Liên Thành, Boulogne, 1984.

- 100 năm thị xã Phan Thiết (1898-1998), Thị uỷ - HĐND- UBND-UBMTTQVN Thị xã Phan Thiết, 1998.

Xem Thêm

Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

Thế hệ trẻ và bản lĩnh chính trị trên không gian số: Chủ động đối thoại, phản biện và “phủ xanh” thông tin tích cực
Trong kỷ nguyên số, không gian mạng tác động sâu sắc đến nhận thức, tư tưởng của xã hội, đặc biệt là thế hệ trẻ. Trước tin giả, thông tin xấu độc và các luận điệu sai trái, thù địch, tuổi trẻ Việt Nam thông qua các diễn đàn chính luận đã khẳng định bản lĩnh chính trị vững vàng, chủ động đối thoại, phản biện các luận điệu sai trái và góp phần “phủ xanh” không gian mạng bằng những giá trị tích cực.
Phản biện để hoàn thiện, không phải để phủ định
Hoạt động tư vấn, phản biện (TVPB) của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã trở thành một phương thức quan trọng để tập hợp trí tuệ đội ngũ trí thức, cung cấp luận cứ khoa học tin cậy cho Đảng, Nhà nước. Để hiểu rõ hơn về sự phát triển, phương pháp tổ chức và những bài học thực tiễn từ hoạt động này, phóng viên đã có cuộc trao đổi với ThS Bùi Kim Tuyến, Trưởng ban TVPB, VUSTA
Liên hiệp Hội Việt Nam hợp tác với doanh nghiệp công nghệ, hiện thực hóa các mục tiêu chuyển đổi số
Ngày 28/9, tại Hà Nội, Lãnh đạo Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã có buổi trao đổi, làm việc với Công ty CP Tập đoàn Truyền thông StarWorld (Starworld Group) về các giải pháp chuyển đổi số, hướng tới xây dựng nền tảng công nghệ khoa học phục vụ chiến lược phát triển của VUSTA trong giai đoạn 2026 - 2031.
Phó Chủ tịch Trương Xuân Lam: Đưa khoa học, công nghệ vào giải quyết những bài toán thực tiễn ngành hàng không
Ngày 26/9, tại Hà Nội, Hội Khoa học và Công nghệ Hàng không Việt Nam tổ chức Đại hội đại biểu lần thứ VII, nhiệm kỳ 2026-2031. Phát biểu tại Đại hội, GS.TS Trương Xuân Lam, Phó Chủ tịch LHHVN nhấn mạnh yêu cầu Hội tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, tập hợp và phát huy đội ngũ trí thức, đưa KHCN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vào giải quyết những vấn đề của ngành hàng không.
Ngày hội Đổi mới sáng tạo quốc gia 2026: Kết nối nguồn lực, thúc đẩy công nghệ
Theo Nghị định số 268/2025/NĐ-CP ngày 14/10/2025 của Chính phủ, ngày 1/10 hằng năm là Ngày hội Đổi mới sáng tạo quốc gia (INNOVATION DAY) do Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì. Quy định này nhằm tạo một dấu mốc thường niên để lan tỏa tinh thần đổi mới sáng tạo trong xã hội, đồng thời thúc đẩy ứng dụng, phát triển và thương mại hóa công nghệ.
Liên hiệp Hội Việt Nam tổ chức chương trình làm việc, khảo sát thực tế tại Trung tâm Đa dạng Sinh học Mê Linh
Ngày 25/9, Cơ quan Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã tổ chức chương trình thăm, làm việc và khảo sát thực tế tại Trung tâm Đa dạng Sinh học Mê Linh (thuộc Viện Sinh học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam). Chương trình diễn ra với chủ đề “Trí thức khoa học và công nghệ với bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển bền vững”.
Hội Tự động hóa Việt Nam và Đại học Công nghệ Quế Lâm hợp tác tạo cơ hội phát triển công nghệ và chuyển đổi số
Hội Tự động hóa Việt Nam (VAA) và Đại học Công nghệ Quế Lâm (Trung Quốc) ký biên bản ghi nhớ, hướng tới xây dựng phòng thí nghiệm trọng điểm chung về ứng dụng công nghệ và chuyển đổi số, đồng thời đưa kết quả nghiên cứu vào thử nghiệm, chuyển giao và ứng
Tuyên bố chung về quan hệ Đối tác Chiến lược giữa Việt Nam và Canada
Chuyến thăm cấp Nhà nước tới Canada của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm thể hiện cam kết mạnh mẽ của lãnh đạo hai nước trong việc đưa quan hệ song phương bước vào kỷ nguyên mới hợp tác sâu rộng, thực chất và bền vững hơn. Trân trọng giới thiệu toàn văn Tuyên bố chung về quan hệ Đối tác Chiến lược giữa Việt Nam và Canada:
Trung thu – Một miền ký ức
…Tôi cũng không nhớ đã bao lần đón trung thu nữa, thế nhưng mỗi lần tháng Tám về, dắt con đi qua những phố thị đầy ắp đèn hoa, bánh kẹo trong tôi lại ùa về những cảm xúc khỏ tả, một miền ký ức sâu thẳm thân thương biết bao giờ trở lại ….
Kết luận số 83-KL/TW: Chuyển từ lợi thế tài nguyên sang làm chủ công nghệ vật liệu
Ngày 24/9, Ban Tuyên giáo Trung ương và Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp tổ chức Hội thảo tuyên truyền, phổ biến, quán triệt Kết luận số 83-KL/TW của Bộ Chính trị về phát triển công nghiệp vật liệu Việt Nam. Hội thảo tập trung làm rõ định hướng phát triển ngành vật liệu theo hướng làm chủ công nghệ, nâng cao giá trị gia tăng, tăng năng lực tự chủ và sức cạnh tranh.
Đồng chí Nguyễn Phi Long: Các đồng chí được trao tặng Huy hiệu Đảng là tấm gương sáng cho đảng viên, nhà khoa học trẻ
Sáng ngày 24/9, Đảng ủy Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam) đã trang trọng tổ chức Lễ trao tặng Huy hiệu Đảng đợt 02/9/2026. Đồng chí Nguyễn Phi Long, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương đã đến dự và phát biểu chúc mừng 111 đồng chí được trao tặng Huy hiệu Đảng.
Tư vấn, phản biện Đề án tăng cường hợp tác công - tư và phát triển y tế tư nhân, hiện đại hóa hệ thống y tế Tp. Bắc Ninh
Ngày 23/9/2026, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật TP Bắc Ninh tổ chức Hội thảo tư vấn, phản biện: “Đề án tăng cường hợp tác công - tư và phát triển y tế tư nhân hiện đại hóa hệ thống y tế thành phố Bắc Ninh giai đoạn 2026 - 2030, tầm nhìn 2045”.
Hội nghị BCH Đảng bộ Liên hiệp Hội Việt Nam tháng 9/2026: Tập trung hoàn thành các nhiệm vụ trọng tâm cuối năm 2026
Chiều 23/9, Ban Chấp hành Đảng bộ Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam) tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ tháng 9/2026, nhằm đánh giá kết quả công tác 9 tháng đầu năm, xác định nhiệm vụ trọng tâm những tháng cuối năm; đồng thời triển khai một số nội dung quan trọng về công tác xây dựng Đảng, tổ chức cán bộ và thực hiện các nhiệm vụ sau Đại hội IX.
GS.VS Châu Văn Minh: Phát huy nguồn lực trí thức, đồng hành cùng Hà Tĩnh giải quyết những bài toán phát triển
Chiều 21/9, GS.VS Châu Văn Minh, Phó Chủ tịch không chuyên trách Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam) đã thăm, làm việc với Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Hà Tĩnh (Liên hiệp Hội tỉnh Hà Tĩnh).