Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ năm, 26/03/2009 16:16 (GMT+7)

Bước đầu nghiên cứu về phân bố và độ phủ của một số loài rong vôi ở quần đảo Trường Sa

Mở đầu

Rong vôi là nhóm rong mà tế bào của chúng có tẩm canxi, hầu hết các loài thuộc nhóm này đều luôn có mặt trên rạn san hô và chúng cùng với các nhóm sinh vật khác trên rạn (san hô, thân mềm, giáp xác). Nhóm rong vôi đóng vai trò rất quan trọng trong việc hình thành, phát triển và bảo vệ rạn san hô. Chính vì vậy một vài chi, nhất là chi Halimeda, được sử dụng làm chỉ thị cho sức khoẻ của rạn và các nghiên cứu quan trắc có liên quan đến rạn san hô [9, 10, 11, 12].

Quần đảo Trường Sa là quần đảo san hô, nằm ở khoảng vĩ độ 6 030’ - 12 000’N, 111 030’ - 117 003’E, là huyện Trường Sa tỉnh Khánh Hoà, bao gồm khoảng gần 100 hòn đảo, đá ngầm và bãi san hô trên diện tích rộng khoảng 594000 km .

Các công trình nghiên cứu về Rong biển từ trước đến nay còn quá ít. Công trình đầu tiên nghiên cứu về rong biển quần đảo Trường Sa là công bố của Josephine Th. Koster (1936) với 23 loài Rong biển tại đảo Nam Yết [7, 8]. Năm 1996, Đàm Đức Tiến, Nguyễn Văn Tiến có công bố 66 loài ở đảo Trường Sa. Phạm Hữu Trí (1996) có công bố 79 loài ở hai đảo Nam Yết và Trường Sa…

Đáng kể nhất là công bố của Đàm Đức Tiến (2002) về khu rong biển quần đảo Trường Sa tại các đảo Trường Sa lớn, Nam Yết, Sơn Ca, Song Tử Tây, Thuyền Chài, Tốc Tan và Phan Vinh. Ngoài ra còn các công bố khác của Đàm Đức Tiến [3, 4, 5, 6].

Nhìn chung các công trình này chủ yếu nghiên cứu chung về thành phần loài, phân bố và đặc trưng khu hệ của rong biển tại quần đảo Trường Sa chứ chưa có công trình nào chuyên vể rong vôi. Đây là công bố đầu tiên về nhóm rong vôi tại quần đảo Trường Sa.

Bài báo này giới thiệu kết quả nghiên cứu bước đầu về thành phần loài, phân bố và độ phủ của một số nhóm rong vôi tại quần đảo Trường Sa. Đây là kết quả khảo sát trong nhiều năm (từ 1994 - 2008) tại 9 đảo thuộc quần đảo Trường Sa là: Trường Sa lớn, Nam Yết, Sơn Ca, Song Tử Tây, Thuyền Chài, Tốc Tan, Đá Tây, Sinh Tồn và Đá Nam (Sơ đồ).

Tài liệu và phương pháp nghiên cứu

Tài liệu

Bài báo sử dụng kết quả của các đề tài được thực hiện từ năm 1993 - 2008, cụ thể:

- Điều tra nguồn lợi sinh vật tại các đảo thuộc quần đảo Trường Sa (1993 - 1996).

- Nghiên cứu sinh học và kỹ thuật nuôi trồng Rong kinh tế ở quần đảo Trường Sa.

- Đánh giá nguồn lợi sinh vật biển và hiện trạng môi trường vùng biển quanh đảo Trường Sa (2002 - 2003).

- Xây dựng cơ sở khoa học xây dựng các khu bảo tồn biển quần đảo Trường Sa (2006 - 2008).

- Luận án tiến sĩ: Nghiên cứu khu hệ rong biển quần đảo Trường Sa năm 2002 của Đàm Đức Tiến.

Ngoài ra có tham khảo tài liệu của chuyên khảo sát hỗn hợp Việt Nam - Philippin (JOM -SRE -SCS) ở biển Đông và quần đảo Trường Sa (1996).

Phương pháp

Ngoài thực địa

Ngoài thực địa, mẫu được thu dựa vào quy phạm điều tra tổng hợp biển của Uỷ ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước (nay là Bộ Khoa học và Công nghệ) ban hành năm 1991 [9] (vùng triều) và của S. English & nnk… 1997 [12] (dưới triều). Mẫu vùng dưới triều được thu bằng thiết bị lặn SCUBA.

Độ phủ và tần số xuất hiện của các loài rong tạo rạn chúng tôi đã sử dụng phương pháp nghiên khung định lượng cho rong biển của các tác giả Saito and Atobe (1970) [11] để tính độ phủ và tần số xuất hiện của các loài rong tạo rạn trên các mặt cắt vuông góc với bờ (transects). Khung định lượng có kích thước 0,5 x 0,5m, trên đó chia thành 25 ô nhỏ có kích thước 0,1 x 0,1m.

Trong phòng thí nghiệm

Trong phòng thí nghiệm, việc tính toán các giá trị như tần số xuất hiện, độ phủ dựa trên phương pháp của Saito và Atobe (1970). Cụ thể, tần số xuất hiện được tính theo công thức F = qn/25 x 100. Trong đó: qn: số ô nhỏ (0,1 x 0,1m). Độ phủ của rong tính theo công thức C = (qn5 x c5) + (qn4 x x4) + (qn3 x c3) + (qn2 x c2) + (qn1 x c1). Trong đó: qn1 - qn5 là số lượng các ô có độ phủ của rong biển trên bề mặt giá thể ở các giá trị với bội số mặc định từ 0,1875 - 3,0(Bảng 1).

Sau khi có được các kết quả riêng rẽ, sẽ được tính chung trong các hàm của Exell.

Phần định loại dựa vào các tài liệu của các tác giả trong và ngoài nước [1, 2, 13, 14, 15, 16].

Kết quả nghiên cứu

Thành phần loài

Qua việc phân tích các mẫu thu được, chúng tôi đã xác định được 50 loài rong vôi. Trong đó có 32 loài thuộc ngành rong Đỏ (Rhodophyta), chiếm 64% tổng số loài và 18 loài thuộc ngành rong Lục (Cholorophyta), 36% (Bảng 2).

Phân bố của rong tạo rạn tại quần đảo Trường Sa

Phân bố rộng

Trong số 50 loài rong vôi đã phát hiện được ở quần đảo Trường Sa, phân bố rộng của các loài có sự sai khác rất lớn, dao động trong khoảng 8 loài (đảo Song Tử Tây) đến 29 loài (đảo Đá Tây) và trung bình là 19,0 loài/ đảo. Nguyên nhân chính có thể do cấu tạo nền đáy của đảo Phan Vinh chủ yếu là đá san hô dạng khối hoặc đá san hô chết tạo thành các rãnh chạy theo hình phóng xạ từ mép đảo ra ngoài không thuận tiện cho sự tồn tại và phát triển của các loài rong vôi còn tại các đảo khác có rạn san hô khá lớn rong vôi dễ dàng phát triển được (Bảng 2).

Phân bố sâu

Kết quả ở Bảng 2 cũng chỉ ra rằng, với 50 loài đã phát hiện tại 9 đảo thì tổng số lần xuất hiện là 68. Trong đó, vùng triều là 32 lần chiếm 47% và dưới triều là 36 lần (53%). Tổng số lần xuất hiện của các loài rong vôi ở vùng triều và dưới triều không có sự sai khác lớn. Như vậy, môi trường vùng triều và dưới triều tương đối đồng nhất (đặc biệt là cường độ ánh sáng) nên sự phân bố theo độ sâu tại các điểm khảo sát tương đối giống nhau.

Độ phủ

Tại 9 đảo khác nhau, tổng độ phủ của 50 loài rong vôi nằm trong khoảng 8 - 12% và trung bình là 11,94%. Và tỷ lệ độ phủ trung bình của một loài là 0,23%. Từ kết quả này cho ta thấy rằng, hiện trạng rạn san hô tại các đảo này đang ở tình trạng tương đối giống nhau vì phần lớn các loài rong vôi chỉ có thể tồn tại và phát triển tốt trên các rạn san hô đã chết. Tỷ lệ độ phủ này cũng cho ta thấy, rạn san hô đã bị suy thoái nhiều và đã đến lúc phải được quan tâm đến (Xem bảng 3).

Riêng tại đảo Thuyền Chài, tổng độ phủ của 50 loài rong vôi đạt tới 22,5% (cao gần gấp đôi giá trị trung bình của các đảo khác) là do Thuyền Chài là bãi cạn, có diện tích lớn nên rất thuận lợi cho san hô phát triển. Tuy nhiên phần lớn diện tích có san hô ở dải trên của vùng dưới đều đã bị tàn phá và đây chính là cơ hội cho các loài rong vôi phát triển.

Kết luận

Tại 9 đảo thuộc quần đảo Trường Sa đã phát hiện được 50 loài rong vôi, trong đó có 32 loài thuộc ngành rong Đỏ (Rhodophyta), chiếm 64% tổng số loài và 18 thuộc ngành rong Lục (Chlorophyta), chiếm 36%.

Sự phân bố rộng của các loài tại 9 đảo có sự sai khác rất lớn, dao động từ 8 loài (đảo Song Tử Tây) đến 29,0 loài (đảo Đá Tây) và trung bình là 19,0 loài/ đảo.

Tổng số lần xuất hiện của các loài rong vôi là 68 và số lần xuất hiện của rong vôi tại vùng triều là 32 loài (47%) và dưới triều là 36 (53%).

Độ phủ của các loài rong vôi nằm trong khoảng 8 - 12% và trung bình là 11,94%. Riêng tại đảo Thuyền Chài, tổng độ này đạt tới 22,5% (cao gần gấp đôi giá trị trung bình của các đảo khác).

Tài liệu tham khảo

1. Nguyễn Hữu Dinh, Huỳnh Quang Năng, Trần Ngọc Bút, Nguyễn Văn Tiến (1993), Rong biển Việt Nam (phần phía Bắc), Nxb, KH&KT, Hà Nội, 364 tr.

2. Phạm Hoàng Hộ (1969) Rong biển Việt Nam(phần phía Nam ). Trung tâm học liệu, Sài Gòn, 558 tr.

3. Đàm Đức Tiến (1999), Thành phần loài và phân bố của Rong lục (Chlorophyta) ở một số đảo thuộc quần đảo Trường Sa Hội nghị Khoa học Công nghệ biển toàn quốc lần thứ IV, II, Nxb. KH&KT, Hà Nội, tr 988 – 993.

4. Đàm Đức Tiến (1999), Thành phần loài và phân bố Rong biển đảo Thuyền Chài. Hội nghị Khoa học Công nghệ biển toàn quốc lần thứ IV, II. Nxb. KH&KT, Hà Nội, tr 993 - 999.

5. Đàm Đức Tiến (2001) Một số loàii Rong lục mới cho khu hệ Rong biển Việt Nam . Sinh học (4)… Nxb KH&KT, Hà Nội.

6. Đàm Đức Tiến (2000), Rong kinh tế quần đảo Trường Sa. Tài nguyên và Môi trường biển. VII. Nxb KH&KT, Hà Nội, tr 235 - 247.

7. Đàm Đức Tiến, Nguyễn Văn Tiến (1996), Thành phần loài và phân bố của rong biển đảo Trường Sa. Tài nguyên và Môi trường biển, III. Nxb KH&KT, Hà Nội, tr 236 - 271.

8. Phạm Hữu Trí (1996), Góp phần nghiên cứu Rong biển quần đảo Trường Sa (hai đảo Trường Sa lớn và Nam Yết), Tuyển tập nghiên cứu biển tập VII. Nxb KH&KT, Hà Nội, tr 147 - 162.

9. Uỷ ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước (1980), Quy phạm tạm thời điều tra tổng hợp biển (phần Rong biển), Nxb KH&KT, Hà Nội, tr 205.

10. Cribb A. B (1983), Marine Algae of the Southem Great Barrier Reef - Rhodophyta. Australian Coral Reef Society, the Great Barrier ReefCommittee. Handbook no 2, 173 p.

11. Edna Ganzon Fortes, 2004. Seaweed Research Methodology: Ecological Sampling Using Transecst – Quadrat Method. The lecture for marine algae and seagrass group of JSPSs seminar.

12. English S. C. Wilkinson and V. Baker (1997), Survey manual for tropical marine resources, 2 ndEdition. Australian institute of marine science, Townsville.

13. TaylorW. R (1960), Marine algae of the Eastern tropical and subtropical coasts of the Americas . The Universityof Michiganpress. 870p.

14. Tseng C. K (1983) Common Seaweeds of China . Scien. Press, Beijing, China, 316 p.

15. Yoshida, T. (1998), Tân Nhật Bản Hải tảo chí. Nội điền Lão hạc phố, Nhật Bản, 1202p (Tiếng Nhật).

16. Yu. J. Sorokin, 1990. coral Reef Ecosystems. H. P. Moscow Nauka. 502 p.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Liên hiệp Hội Việt Nam chủ trì tổ chức họp các đoàn dự Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ XI
Căn cứ Thông tri số 10/TT-MTTQ-UB của Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam về việc triệu tập đại biểu dự Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ XI, với vai trò là Trưởng các Đoàn của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức Liên hiệp, Liên hiệp Hội Việt Nam đã chủ trì tổ chức họp các đoàn để triển khai thực hiện thông tri của MTTQ Việt Nam.
Thủ tướng Lê Minh Hưng lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Philippines
Nhận lời mời của Tổng thống nước Cộng hòa Philippines Ferdinand Romualdez Marcos Jr, Chủ tịch ASEAN năm 2026, ngày 7/5, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Lê Minh Hưng dẫn đầu Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Cebu, Philippines từ ngày 7 đến 8/5/2026.
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam: Điểm tựa khoa học công nghệ gắn với chuyển đổi số quốc gia
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam với gần 40 năm phát triển đang thể hiện rõ vai trò tổ tổ chức xã hội - nghề nghiệp uy tín trong lĩnh vực vô tuyến, điện tử, viễn thông, công nghệ thông tin đồng thời đóng góp thực chất vào tiến trình chuyển đổi số quốc gia theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Đầu tư khoa học công nghệ giải quyết điểm nghẽn của ngành Thủy sản Việt Nam
Phát biểu tại Hội nghị khoa học công nghệ thủy sản và kiểm ngư toàn quốc năm 2026, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến đã nhấn mạnh sự cần thiết của đổi mới sáng tạo khoa học công nghệ trong giải quyết điểm nghẽn về logistics, môi trường, nâng cao sức cạnh tranh của ngành Thủy sản trong nước.
Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng nhận danh hiệu Giáo sư danh dự Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga
Sáng 30/4/2026, tại Trường Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga (MPEI), TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã vinh dự đón nhận danh hiệu Giáo sư danh dự của MPEI. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng là công dân đầu tiên của Việt Nam được trao tặng danh hiệu Giáo sư tại MPEI, đứng trong bảng danh dự cùng với các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới.
51 năm thống nhất đất nước: Khơi thông nguồn lực tri thức trong kỷ nguyên mới
Thông tấn xã Việt Nam giới thiệu bài phỏng vấn với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) về vai trò của lực lượng trí thức và những giải pháp đột phá để hiện thực hóa khát vọng hùng cường vào năm 2030 và 2045.