Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ tư, 08/04/2009 00:08 (GMT+7)

Tính hợp và tính mở của ngôn ngữ học đối chiếu

Cũng cần nói thêm rằng gần 20 năm trước, vào năm 1989, trong chuyên luận thực hiện loại nghiên cứu này ở Việt Nam, bấy giờ chúng tôi dịch là “ Ngôn ngữ học xuyên các nền văn hoá”. Dịch là “xuyên” có ý hạn chế hơn. Nay cách dich “qua các nền văn hoá” có ý nghĩa bao quát hơn nên công trình của chúng tôi tái bản 2004 đã dùng cách dịch này (2).

Sự thực như đã biết, nghiên cứu đối chiếu các ngôn ngữ đã có từ rất lâu đời. Phôi thai của nó từ khi con người biết học ngoại ngữ, bắt đầu thực hiện bản dịch đầu tiên, từ công việc biên soạn những từ điển song ngữ đối dịch ra đời. Hoạt động này càng phát triển mạnh trong các thời kì có sự giao lưu tiếp xúc sâu rộng của các cộng đồng người nói các ngôn ngữ khác nhau từ thời cổ xưa cho đến đương đại. Về mặt lý thuyết thì cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến, ví dụ như trong “Tuyên ngôn” của trường phái ngôn ngữ học cấu trúc - chức năng Praha, trong công trình Sa. Balli “Ngôn ngữ học đại cương và một số vấn đề của tiếng Pháp” có đối chiếu động từ tiếng Pháp với động từ tiếng Đức, hay công trình “Thử nghiệm một lí luận từ điển học” của viện sĩ Nga L. V. Secba từ những năm 30 của thế kỉ trước (3). Tuy nhiên công trình của Lađô 1957 có cách đặt vấn đề toàn diện hơn cả. Đã hơn 50 năm trôi qua, nhiều công trình, nhiều thành tựu đã được xác lập. Ngày nay NNHĐC đã trở thành một phân môn độc lập. Vì vậy việc nhìn nhận tìm hiểu sâu hơn vào tính chất của lĩnh vực nghiên cứu này là cần thiết để tiếp tục phát triển, khai thác vận dụng…

Để thấy rõ tính chất tổng hợp và tính mởcủa ngôn ngữ học đối chiếu cần thiết so sánh nó với những phân môn đã phát triển trong ngôn ngữ học về: định hướng đối tượng, mục đích, phương pháp nghiên cứu, triển vọng đóng góp về lí luận và thực tiễn cũng như khả năng khắc phục hạn chế, mở đường cho sự phát triển của ngôn ngữ học nói chung. Có một sự thực hiển nhiên được mọi người thừa nhận rằng ngôn ngữ học của nửa đầu thế kỉ XX là thời kì phát triển rực rỡ nhất của ngôn gữ học cấu trúc. Khởi đầu từ F. de Saussure với “Giáo trình ngôn ngữ đại cương”, ngôn ngữ học cấu trúc đã phát triển từ Tây Âu qua Hoa Kì, từ những năm 30 đến những năm 60, với hàng loạt công trình của các tác giả tiêu biểu như A. Martinet L. Hjemslev, R. Jacopson… Z. Harris, L. Bloomfield, những tên tuổi đã làm nên danh tiếng và uy tín cho trường phái Ngôn ngữ học cấu trúc chức năng Praha, trường phái cấu trúc phân bố luận Mĩ. Tuy nhiên, do sự đối lập cực đoan giữa ngôn ngữ (langue) và lời nói (parole) do sa vào cấu trúc luận thuần tuý, sa vào một thứ “ngôn ngữ học tự nó và vì nó”, chủ nghĩa phân loại luận cứng nhắc… Nói khái quát là “hướng vào đơn ngữ luận” tức là hướng vào phân tích từng ngôn ngữ một tách rời, từng cấp độ tách tầm nhìn và thành tựu ứng dụng của ngôn ngữ học thời kì này. Đó là các lí do làm xuất hiện ngôn ngữ học tạo sinh cải biến của N. Chomsky, và nhiều thứ ngôn ngữ học khác, trong đó có Ngôn ngữ học đối chiếulà thứ ngôn ngữ học đặt vấn đề “cần thiết phải so sánh có hệ thống các ngôn ngữ và các nền văn hoá (tiêu đề chương I cuốn sách của R. Lado). Rõ ràng đây là một cách đặt vấn đề mới, cách nhìn mới có tính tổng hợp và cởi mở “đa ngữ luận”, đa ngành thoát khỏi đóng kín, cấu trúc cực đoan, “đơn ngữ luận” trước đó.

Tính chất tổng hợp của NNHĐC có nhiều mặt, nhiều phạm vi, xét cơ bản có thể chỉ ra một số điểm sau đây.

Về khách thể nghiên cứu phân tích, NNHĐC thực hiện khảo sát phân tích đồng thời một lúc nhiều ngôn ngữ, thường là hai ngôn ngữ, không phân biệt các ngôn ngữ đó thuộc hay không thuộc cùng ngữ hệ, loại hình.

Những phân tích đối chiếu thường là diện đồng loại. Mục đích phân tích nghiên cứu là tìm những giống/ tương đồng và khác/ dị biệt các hiện tượng, phạm trù đối chiếu. Hướng đóng góp không chỉ thuần lí luận (như ngôn ngữ học lí thuyết) mà cả các ứng dụng thực tiễn, thiết thực (dạy/ học ngoại ngữ, dịch thuật, soạn sách công cụ…). Như vậy là khách thể tiếp cận đa ngữ/ liên ngữ, đồng đại, thiết thực được quan tâm thực hiện trong NNHĐC.

Nghiên cứu đối chiếu là thực hiện so sánh, chuyển đổi đồng thời hai hay nhiều ngôn ngữ nhằm tìm tương đồng/ dị biệt, tương đồng, tương ứng các ngôn ngữ, nên nó không bị giới hạn cứng nhắc sự phân biệt ngôn ngữ - lời nói - hành động ngôn từ mà có thể tổ hợp, tổng hợp những thuộc tính, đặc điểm của các phạm vi này, đồng thời kết quả phân tích các phạm vi đó không chỉ nhằm mục đích lí luận mà cả ứng dụng, nên nó thể hiện tính hiện thực linh hoạt và biện chứng trong tiếp cận đối tượng nghiên cứu.

Khi thực hiện tìm tương đương, tương ứng hai hay nhiều ngôn ngữ trên cơ sở đồng nhất lí luận xuất phát, NNHĐC nhận thấy không nhiều những đồng xuất hoàn toàn, vì vậy việc tìm những khác biệt là hết sức cần thiết và thú vị. Trong trường hợp như vậy các tương đương, tương ứng có thể không cùng cấp độ mà có hiện tượng xuyên, chuyển cấp độ là thường gặp và kết quả rất có ích cho việc học ngoại ngữ, cho lí luận và thực tiễn dịch thuật.

Có điều hiển nhiên là, để có ngữ liệu đối chiếu, tất yếu phải sử dụng kết quả phân tích miêu tả trên cơ sở lí luận đồng nhất. Trường hợp cần thiết phải phân tích lại, phân tích đồng thời trong quá trình đối chiếu. Điều này cho thấy NNHĐC có lợi thế sử dụng thành tựu của ngôn ngữ học miêu tả và khi kết quả xác định tương đồng và dị biệt đủ lớn có thể mở đường cho xây dựng ngữ pháp phổ quát hay quy nạpcác ngôn ngữ. Tính tổng hợp của NNHĐC nhằm mục đích này được tận dụng tối đa và có thể là một hướng tổng hợp rộng lớn mà ngày nay với phương tiện tin học hiện đại có khả năng trở thành hiện thực. Như vậy là tính tổng hợp, tích hợp kết quả, tri thức nghiên cứu nhiều ngôn ngữ thuộc diện đồng đại làm nên một lợi thế, một tính chất quan trọng của NNHĐC so với các lĩnh vực ngôn ngữ học khác. Tính chất này càng được nổi rõ nếu kết hợp với tính chất mở của ngôn ngữ học đối chiếu.

Về tính chất mở có thể nhận thấy ở một số điểm sau:

Như trên đã nói tính tổng hợp của NNHĐC thể hiện ở việc mở rộng phạm vi đối tượng, khắc phụ đối tượng bị thu hẹp, với khả năng bao quát tích hợp tài liệu, kết quả nghiên cứu miêu tả… thì tính mở thể hiện ở tính đa/ liên ngành trong nghiên cứu và tính ứng dụng của kết quả nghiên cứu vào cuộc sống. Những trải nghiệm của loài người cho thấy trong những giá trị xã hội và nhân văn cao quý, văn hoá là hệ gía trị tổng hợp, cao quý bậc nhất. Ngày xưa có câu ngạn ngữ “mọi con đường đều dẫn đến thành Rôm” thì ngày nay, sau bao biến thiên thăng trầm, phát triển và huỷ diệt có thể nói “mọi dân tộc muốn trường tồn đều cần đến văn hoá”. Tính mở của NNHĐC là gắn nghiên cứu này với văn hoá, qua văn hoá. Ngôn ngữ dân tộc không chỉ được xem là công cụ, phương tiện giao tiếp và tư duy, là công cụ chuyển tải sáng tạo văn hoá, cố định lưu giữ văn hoá mà còn là một thành tố, một bộ phận của văn hoá dân tộc. Nghiên cứu ngôn ngữ cần gắn với văn hoá và văn hoá dân tộc không thể thiếu ngôn ngữ dân tộc. Văn hoá là nền tảng tinh thần của dân tộc một phần lớn định hình trong ngôn ngữ và thông qua ngôn ngữ dân tộc. Tính chất mở của NNHĐC còn thể hiện ở khả năng ở hiệu lực ứng dụng kết quả nghiên cứu vào các hoạt động thực tiễn có liên quan trực tiếp. Từ đầu những năm 70 trong công trình “ Cấu trúc ngôn ngữ trong đối chiếu” Di Pietro đã chỉ rõ “ngôn ngữ học đối chiếu ra đời từ đúc kết kinh nghiệm dạy ngoại ngữ. Mỗi người học và dạy ngoại ngữ dễ dàng nhận ra một điều là trong nhiều trường hợp, tiếng mẹ đẻ cản trở không nhỏ việc hiểu và nắm thuần thục ngoại ngữ. Vì vậy, việc tích luỹ những tri thức và kinh nghiệm sẽ giúp chúng ta khắc phục một cách có hiệu quả khó khăn này” (4). Trong việc vận dụng phương pháp so sánh chung nhằm mục đích tìm những tương đồng/ dị biệt giữa các ngôn ngữ ở diện đồng đại, NNHĐC có lợi thế hơn Ngôn ngữ học so sánh - lịch sử, Loại hình học, Ngôn ngữ học khu vực, khắc phục các giao thoa ngôn ngữ, khắc phục lỗi học tiếng nước ngoài mà còn giúp ích nhiều cho biên/ phiên dịch, biên soạn từ điển song ngữ, soạn sách dạy ngoại ngữ.

Đi sâu hơn, nghiên cứu đối chiếu các ngôn ngữ có thể góp phần xây dựng lí luận và giải quyết hàng loạt các vấn đề thực tiễn dịch thuật, góp phần tìm hiểu quá trình thụ đắc ngôn ngữ thứ hai, khảo sát hiệu quả các quá trình song ngữ/ đa ngữ…. Như vậy với tính chất mở, tính chất tổng hợp và có khả năng ứng dụng kết quả nghiên cứu thiết thực, NNHĐC không chỉ khắc phục được hạn chế của Ngôn ngữ học cấu trúc cực đoan mà còn mở đường tổng hợp, tích hợp những kết quả phong phú đa dạng, sâu sắc của Ngôn ngữ học cấu trúc, NNHĐC cũng phân biệt và bổ sung cho NNHSS - LS, cho Loại hình học, cho Ngôn ngữ học khu vực, nó tìm được địa bàn ứng dụng giáo dục pháp sư phạm thiết thực, hiệu quả trong giảng dạy ngoại ngữ cũng như hoạt động dịch thuật vô cùng rộng rãi và phổ biến ngày nay. Khả năng tổng hợp, tích hợp tri thức ngôn ngữ với văn hoá để xây dựng ngữ pháp phổ quát quy nạp cũng là một đường hướng, mục tiêu đầy triển vọng của lĩnh vực nghiên cứu này, nhất là trong điều kiện công nghệ tin học ngày càng phát triển nhanh chóng mạnh mẽ hiện nay.

Chú thích

1. Robert Lado (1957), Linguistics across cultures. Michigan University Press. Ngôn ngữ học qua các nền văn hoá. Bản dịch của Hoàng Vân Vân, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội, 2003.

2. Lê Quang Thiêm (1989), Nghiên cứu đối chiếu các ngôn ngữ. Nxb Đại học và trung học chuyên nghiệp, Hà Nội, 336 trang.

(Tái bản có bổ sung 2004, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội, 360 trang.

Tái bản lần thứ 2 quý II – 2008. Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội 360 trang).

3. S. Balli (1935), Ngôn ngữ học đại cương và một số vấn đề của tiếng Pháp. Nxb Tiến bộ. Mạc Tư Khoa, 1956.

4. L. V. Secba (1939), Thử nghiệm một lí luận từ điển học.

5. Di Pietro (1971), Language structures in contract. Ronley Mass. 1971.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Liên hiệp Hội Việt Nam chủ trì tổ chức họp các đoàn dự Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ XI
Căn cứ Thông tri số 10/TT-MTTQ-UB của Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam về việc triệu tập đại biểu dự Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ XI, với vai trò là Trưởng các Đoàn của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức Liên hiệp, Liên hiệp Hội Việt Nam đã chủ trì tổ chức họp các đoàn để triển khai thực hiện thông tri của MTTQ Việt Nam.
Thủ tướng Lê Minh Hưng lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Philippines
Nhận lời mời của Tổng thống nước Cộng hòa Philippines Ferdinand Romualdez Marcos Jr, Chủ tịch ASEAN năm 2026, ngày 7/5, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Lê Minh Hưng dẫn đầu Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Cebu, Philippines từ ngày 7 đến 8/5/2026.
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam: Điểm tựa khoa học công nghệ gắn với chuyển đổi số quốc gia
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam với gần 40 năm phát triển đang thể hiện rõ vai trò tổ tổ chức xã hội - nghề nghiệp uy tín trong lĩnh vực vô tuyến, điện tử, viễn thông, công nghệ thông tin đồng thời đóng góp thực chất vào tiến trình chuyển đổi số quốc gia theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Đầu tư khoa học công nghệ giải quyết điểm nghẽn của ngành Thủy sản Việt Nam
Phát biểu tại Hội nghị khoa học công nghệ thủy sản và kiểm ngư toàn quốc năm 2026, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến đã nhấn mạnh sự cần thiết của đổi mới sáng tạo khoa học công nghệ trong giải quyết điểm nghẽn về logistics, môi trường, nâng cao sức cạnh tranh của ngành Thủy sản trong nước.
Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng nhận danh hiệu Giáo sư danh dự Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga
Sáng 30/4/2026, tại Trường Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga (MPEI), TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã vinh dự đón nhận danh hiệu Giáo sư danh dự của MPEI. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng là công dân đầu tiên của Việt Nam được trao tặng danh hiệu Giáo sư tại MPEI, đứng trong bảng danh dự cùng với các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới.
51 năm thống nhất đất nước: Khơi thông nguồn lực tri thức trong kỷ nguyên mới
Thông tấn xã Việt Nam giới thiệu bài phỏng vấn với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) về vai trò của lực lượng trí thức và những giải pháp đột phá để hiện thực hóa khát vọng hùng cường vào năm 2030 và 2045.