Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ tư, 12/10/2011 22:15 (GMT+7)

Sự chênh lệch năng suất lúa giữa các vùng ở Đồng bằng sông Cửu Long và giái pháp khắc phục

1. Khái niệm

Thuật ngữ trong chuyên môn “yield gap”, có nhiều cách dịch nhưng xét thấy để phù hợp với trong cách ghi theo tiếng Việt, chúng tôi gọi là “chênh lệch năng suất”. Trong phạm vi này là sự chênh lệch về năng suất (NS) lúa.

Tất cả những yếu tố môi trường thay đổi quanh năm, và vì thế năng suất tiềm năng phụ thuộc không chỉ trên vùng miền mà còn ngày gieo sạ và mức độ chín. Yếu tố sau là một đặc tính di truyền quyết định thời gian của mùa vụ trồng. Khi một cây được trồng trong một ngày nhất định, với những giống dài ngày hoặc ưu thế lai đòi hỏi thời gian đến chín dài hơn các giống ngắn ngày. Trong thực tế, năng suất tiềm năng tại một vùng nhất định có thể thay đổi đáng kể bởi vì gieo trồng với những ngày khác nhau và mức độ chín khác nhau.

Phân loại chênh lệch năng suất lúa: Theo tác giả Mahmud Duwayri và ctv (1998), có ít nhất 2 loại chênh lệch năng suất lúa:

- Chênh lệch 1: Chủ yếu do các yếu tố mà không thể thay đổi hoặc ít thay đổi như là các điều kiện môi trường và một số thành phần gắn liền kỹ thuật có sẵn tại nơi nghiên cứu. Vì thế loại chênh lệch này (trong hình 1) không thể thu hẹp hay không thể khai thác được.

- Chênh lệch 2: Trong hình 1, chủ yếu sự khác nhau trong việc quản lý canh tác cây trồng. Loại chênh lệch này do nông dân sử dụng liều lượng phân nửa liều lượng đầu vào và do kỹ thuật canh tác. Tác giả Herdt (1996) cũng cung cấp sự mô tả tương tự về chênh lệch năng suất như vậy. Chênh lệch có thể chi phối và có thể được thu hẹp bằng nỗ lực trong nghiên cứu và khuyến nông cũng như sự can thiệp thích hợp của Chính phủ, đặc biệt trên các lĩnh vực thuộc về thể chế.

Theo FAO (2000) thì năng suất tiềm năng của một giống tương tác với môi trường được suy ra từ mô hình hóa với những điều kiện phát triển tối ưu. Năng suất cao nhất có thể sử dụng cho việc chọn tạo những giống cho năng suất cao hơn. Trong điều kiện thực hành trên đồng ruộng, chúng ta chỉ có thể đạt từ 80 - 85% năng suất tiềm năng của một giống nhất định tương tác với môi trường. Như vậy, chúng ta có thể định nghĩa trên thực tế về sự chênh lệch năng suất (yield pap) như sau:

+ Yield gap 1: là sự khác nhau giữa năng suất nghiên cứu (trạm nghiên cứu hoặc lô thí nghiệm) với năng suất nông dân trung bình trong một vùng nhất định.

+ Yield gap 2: sự cách biệt năng suất thứ 2 là sự khác nhau giữa năng suất trung bình của lo trình diễn rộng lớn hoặc của tốp 10% nông dân (áp dụng kỹ thuật tiên tiến kết hợp điều kiện môi trường thuận lợi) trong một vùng nhất định có năng suất trung bình của tất cả nông dân trong vùng đó.

2. Biện pháp thu hẹp chênh lệch năng suất lúa ở Đồng bằng sông Cửu Long

Ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), năng suất bình quân cả nước. Bình quân năng suất lúa cả nước theo Tổng cục Thống kê (2009) là 5,23 t/ha. Năng suất này thấp hơn năng suất bình quân cả năm ở ĐBSCL là 5,29 t/ha. Hình 2 mô tả sự chênh lệch năng suất từ Viện Nghiên cứu đến sản xuất. Viện Lúa ĐBSCL là nơi cung cấp từ 70 - 80% giống lúa cho sản xuất ở ĐBSCL. Trên cơ sở tương đối, chúng tôi đã tính toán năng suất 68 giống lúa triển vọng đã được Viện cung ứng cho ĐBSCL trong 3 năm gần đây (2008 - 2010), thì năng suất bình quân các giống lúa triển vọng sản xuất tại Viện là 7.0 t/ha. Từ đó, mức chênh lệch từ nghiên cứu đến sản xuất từng tỉnh và khu vực ĐBSCL (t/ha) như sau: An Giang 0,92; Đồng Tháp: 1,2; Kiên Giang: 1,54, Cần Thơ: 1,55, Sóc Trăng: 1,68; Tiền Giang: 1,69, khu vực ĐBSCL 1,71 t/ha. Còn lại những tỉnh bình quân năng suất lúa cả năm thấp hơn bình quân khu vực ĐBSCL có năng suất chênh lệch so với năng suất bình quân ở nơi nghiên cứu là Hậu Giang 1,80, Vĩnh Long: 1,84; Bạc Liêu: 2,15; Long An: 2,34; Trà Vinh: 2,36; Bến Tre: 2,53 và Cà Mau là 3,38 t/ha. (Hình 2, trong đó tỉnh Cà Mau tạm lấy số liệu năm 2006 vì 2009 không có số liệu).

Những tỉnh có năng suất thấp hơn bình quân khu vực ĐBSCL, theo chúng tôi có thể chủ yếu do những yếu tố khác tác động như các yếu tố sinh thái là vùng có diện tích nhiễm phèn, nhiễm mặn nhiều và diện tích sản xuất chuyên lúa nhiều vụ không cao là chủ yếu, cộng với những yếu tố có thể tác động mạnh làm giảm chênh lệch năng suất lúa như các yếu tố kinh tế - xã hội (tập huấn kỹ thuật, hỗ trợ giống mới, vật tư đầu vào…) và các yếu tố thể chế như hỗ trợ tín dụng, dịch vụ khuyến nông, giá bao tiêu sản phẩm, liên kết 4 nhà…. Nhằm thu hẹp chênh lệch năng suất. Bên cạnh đó, đối với những tỉnh tuy có năng suất bình quân cao hơn khu vực và năng suất chênh lệch so với nghiên cứu không nhiều nhưng vẫn còn cơ hội nâng cao hơn nữa. Ví dụ: các tỉnh: Đồng Tháp, Kiên Giang, Sóc Trăng… do trong tỉnh có nhưungx tiểu vùng có điều kiện sản xuất còn khó khăn như đất nhiễm phèn, mặn chưa cải tạo tốt kết hợp với trình độ nông dân trong tiểu vùng đó thấp… (đồng bào dân tộc, vùng sâu, vùng xa, cơ sở hạ tầng sản xuất yếu kém, giao thông, thủy lợi chưa hoàn chỉnh…). Cũng có nhiều khả năng thu hẹp năng suất chênh lệch và gia tăng năng suất bình quân toàn chỉnh và khu vực.

Từ đó, tổng quát chúng tôi đề xuất các giải pháp tập trung thu hẹp chênh lệch năng suất lúa ở ĐBSCL là:

- Giải pháp về vật lý

+ Tăng cường các biện pháp ngăn mặn, giữ ngọt cho các vùng đất có vấn đề.

+ Tận dụng phù sa bồi lắng hàng năm.

+ Giảm chi phí sản xuất, tăng thu nhập bằng áp dụng các kỹ thuật 3 giảm 3 tang, 5 giảm 1 phải, tưới nước tiết kiệm, áp dụng bảng so màu lá bón đạm phù hợp với điều kiện, quản lý phân bón theo vùng riêng biệt của IRRI…

+ Tăng cường các biện pháp kỹ thuật quản lý nước, khắc phục hạn hán, ngập lụt và căng thẳng về nhiệt độ.

- Giải pháp về lý sinh

+ Sử dụng các giống lúa cấp xác nhận trong sản xuất từ khoảng 30% hiện nay lên 70 - 80% trong vài năm tới.

+ Cơ giới hóa trong sản xuất lúa nhằm khắc phục thiếu lao động và thất thoát sau thu hoạch bằng áp dụng máy cấy, gieo sạ, bón phân, bảo vệ thực vật, thu hoạch, phơi, sấy, chế biến lương thực, giống lúa…

+ Áp dụng phòng trừ cỏ dại, dịch hại thep IPM và theo hướng VietGAP…

- Giải pháp về kinh tế - xã hội

+ Tăng cường liên kết 4 nhà, tạo điều kiện cho sản phẩm của nông dân có đầu ra ổn định và có lãi từ 40% trở lên.

+ Xây dựng các vùng chuyên canh lúa chất lượng cao và an toàn theo hướng VietGAP và GlobalGAP có bao nhiêu sản phẩm kích thích nôgn dân tăng năng suất lúa.

+ Có chiến lược nâng cao trình độ học vấn của nông dân. Tăng cường tập huấn nâng cao nhận thức và kỹ năng sản xuất lúa cho nông dân.

- Các giải pháp về thể chế

+ Chính sách ổn định và ưu đãi giá lúa cho nông dân.

+ Chính sách bao tiêu sản phẩm thông qua thị trường và xuất khẩu ổn định.

+ Cung cấp tín dụng phù hợp cho nông dân, đặc biệt những vùng sâu, xa, vùng khó khăn và bà con dân tộc.

+ Ổn định lâu dài quyền sử dụng đất, chính sách cấp đất cho người không có đất.

+ Chính sách cung ứng vật tư phi tập trung đưa về cấp xã và giá cả đầu vào hợp lý.

+ Tăng cường nghiên cứu về giống chất lượng cao, đặc sản và các tiến bộ kỹ thuật phù hợp từng vùng và thích nghi biến đổi khí hậu.

+ Tăng cường dịch vụ khuyến nông một cách có hiệu quả hỗ trợ sản xuất và đời sống nông dân.

Xem Thêm

Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

Phú Thọ: Tập huấn, truyền thông thúc đẩy giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật tại xã Lạc Sơn
Ngày 25/9/2026, tại xã Lạc Sơn, tỉnh Phú Thọ, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Phú Thọ phối hợp với Viện Tài chính vi mô và Phát triển cộng đồng (MACDI) cùng các cơ quan, đơn vị liên quan tổ chức chương trình tập huấn, truyền thông thúc đẩy giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật.
Đại hội Hội Khoa học lịch sử Việt Nam lần thứ VIII: GS.TS Nguyễn Văn Kim được bầu làm Chủ tịch
Ngày 30/9/2026, tại Hà Nội, Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam tổ chức Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, nhiệm kỳ 2026-2031. Đại hội là dấu mốc quan trọng mở ra chặng đường phát triển mới của Hội; GS.TS Nguyễn Văn Kim được tín nhiệm bầu giữ chức Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam nhiệm kỳ 2026-2031.
Thế hệ trẻ và bản lĩnh chính trị trên không gian số: Chủ động đối thoại, phản biện và “phủ xanh” thông tin tích cực
Trong kỷ nguyên số, không gian mạng tác động sâu sắc đến nhận thức, tư tưởng của xã hội, đặc biệt là thế hệ trẻ. Trước tin giả, thông tin xấu độc và các luận điệu sai trái, thù địch, tuổi trẻ Việt Nam thông qua các diễn đàn chính luận đã khẳng định bản lĩnh chính trị vững vàng, chủ động đối thoại, phản biện các luận điệu sai trái và góp phần “phủ xanh” không gian mạng bằng những giá trị tích cực.
Phản biện để hoàn thiện, không phải để phủ định
Hoạt động tư vấn, phản biện (TVPB) của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã trở thành một phương thức quan trọng để tập hợp trí tuệ đội ngũ trí thức, cung cấp luận cứ khoa học tin cậy cho Đảng, Nhà nước. Để hiểu rõ hơn về sự phát triển, phương pháp tổ chức và những bài học thực tiễn từ hoạt động này, phóng viên đã có cuộc trao đổi với ThS Bùi Kim Tuyến, Trưởng ban TVPB, VUSTA
Liên hiệp Hội Việt Nam hợp tác với doanh nghiệp công nghệ, hiện thực hóa các mục tiêu chuyển đổi số
Ngày 28/9, tại Hà Nội, Lãnh đạo Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã có buổi trao đổi, làm việc với Công ty CP Tập đoàn Truyền thông StarWorld (Starworld Group) về các giải pháp chuyển đổi số, hướng tới xây dựng nền tảng công nghệ khoa học phục vụ chiến lược phát triển của VUSTA trong giai đoạn 2026 - 2031.
Phó Chủ tịch Trương Xuân Lam: Đưa khoa học, công nghệ vào giải quyết những bài toán thực tiễn ngành hàng không
Ngày 26/9, tại Hà Nội, Hội Khoa học và Công nghệ Hàng không Việt Nam tổ chức Đại hội đại biểu lần thứ VII, nhiệm kỳ 2026-2031. Phát biểu tại Đại hội, GS.TS Trương Xuân Lam, Phó Chủ tịch LHHVN nhấn mạnh yêu cầu Hội tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, tập hợp và phát huy đội ngũ trí thức, đưa KHCN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vào giải quyết những vấn đề của ngành hàng không.
Ngày hội Đổi mới sáng tạo quốc gia 2026: Kết nối nguồn lực, thúc đẩy công nghệ
Theo Nghị định số 268/2025/NĐ-CP ngày 14/10/2025 của Chính phủ, ngày 1/10 hằng năm là Ngày hội Đổi mới sáng tạo quốc gia (INNOVATION DAY) do Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì. Quy định này nhằm tạo một dấu mốc thường niên để lan tỏa tinh thần đổi mới sáng tạo trong xã hội, đồng thời thúc đẩy ứng dụng, phát triển và thương mại hóa công nghệ.
Liên hiệp Hội Việt Nam tổ chức chương trình làm việc, khảo sát thực tế tại Trung tâm Đa dạng Sinh học Mê Linh
Ngày 25/9, Cơ quan Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã tổ chức chương trình thăm, làm việc và khảo sát thực tế tại Trung tâm Đa dạng Sinh học Mê Linh (thuộc Viện Sinh học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam). Chương trình diễn ra với chủ đề “Trí thức khoa học và công nghệ với bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển bền vững”.
Hội Tự động hóa Việt Nam và Đại học Công nghệ Quế Lâm hợp tác tạo cơ hội phát triển công nghệ và chuyển đổi số
Hội Tự động hóa Việt Nam (VAA) và Đại học Công nghệ Quế Lâm (Trung Quốc) ký biên bản ghi nhớ, hướng tới xây dựng phòng thí nghiệm trọng điểm chung về ứng dụng công nghệ và chuyển đổi số, đồng thời đưa kết quả nghiên cứu vào thử nghiệm, chuyển giao và ứng
Tuyên bố chung về quan hệ Đối tác Chiến lược giữa Việt Nam và Canada
Chuyến thăm cấp Nhà nước tới Canada của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm thể hiện cam kết mạnh mẽ của lãnh đạo hai nước trong việc đưa quan hệ song phương bước vào kỷ nguyên mới hợp tác sâu rộng, thực chất và bền vững hơn. Trân trọng giới thiệu toàn văn Tuyên bố chung về quan hệ Đối tác Chiến lược giữa Việt Nam và Canada:
Trung thu – Một miền ký ức
…Tôi cũng không nhớ đã bao lần đón trung thu nữa, thế nhưng mỗi lần tháng Tám về, dắt con đi qua những phố thị đầy ắp đèn hoa, bánh kẹo trong tôi lại ùa về những cảm xúc khỏ tả, một miền ký ức sâu thẳm thân thương biết bao giờ trở lại ….
Kết luận số 83-KL/TW: Chuyển từ lợi thế tài nguyên sang làm chủ công nghệ vật liệu
Ngày 24/9, Ban Tuyên giáo Trung ương và Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp tổ chức Hội thảo tuyên truyền, phổ biến, quán triệt Kết luận số 83-KL/TW của Bộ Chính trị về phát triển công nghiệp vật liệu Việt Nam. Hội thảo tập trung làm rõ định hướng phát triển ngành vật liệu theo hướng làm chủ công nghệ, nâng cao giá trị gia tăng, tăng năng lực tự chủ và sức cạnh tranh.