Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ ba, 15/08/2006 15:50 (GMT+7)

Sau hội nghị Fontainebleau 1946: Gặp gỡ với Việt Nam

Tôi không tham gia vào cuộc đàm phán ở Fontainebleau mà tôi đã nghe nói đến và theo dõi qua báo chí diễn biến của nó. Khi Jean Sainteny đến Soisy (1), tình bạn cũ đã cho phép chúng tôi trao đổi một vài cảm tưởng. Ông mong muốn biết được thái độ người khách của chúng tôi, mà đối với chúng tôi ông hoàn toàn tỏ ra bình tĩnh. Có hai lần, vào cuối cuộc đàm phán bi đát đó, không những người Việt Nam, mà cả những người Pháp cũng bất bình trước chủ trương phá hoại của đô đốc Thierry d’Argenlieu ở Sài Gòn và Đà Lạt, Sainteny thúc tôi nên thuyết phục Hồ Chí Minh trở về nước sớm để trấn an tình hình. Nhưng ý đồ dè dặt của tôi đã không có hiệu quả. Khi cuộc đàm phán ở Fontainebleau kết thúc, bác Hồ để cho phái đoàn trở về và kéo dài lưu lại Pháp để thiết lập với Marius Moutet một văn bản mập mờ, gọi là Modus vivendi (tạm ước), đặt ra một vài cái mốc để tiến tới một hiệp nghị tương lai và nhằm cứu vãn hoà bình, điều đó đã khiến cho khi trở về ông Hồ gặp phải khó khăn về phía những người bạn cực đoan của mình. Ngày 19 tháng 9 ông xuống tàu ở Toulon và chúng tôi nhận được một lá thư ngắn thân mật gửi đến khi tàu cặp bến ở Port-Said.

Việt kiều ở Pháp đón chào phái đoàn Chính phủ Việt Nam DCCH đến Paris năm 1946 Như vậy là tôi đã sống cùng với con người đó cùng với các bạn của ông trong khi đang diễn ra cách đấy vài cây số, một cuộc gặp gỡ không có bạo lực nhưng không có lối thoát, như là sự mở màn cho thảm hoạ sẽ đem đến nhiều đau khổ cho cả hai đất nước: sự kết thúc của đế chế Pháp và cuộc chiến tranh đầu tiên ở Việt Nam để giành lại nền độc lập.

Cảm giác của chúng tôi là gì? Chúng tôi có trước mặt một nhóm những người lãnh đạo rất thấm nhuần văn hoá Pháp, nhưng nói lên tiếng nói nhân danh một dân tộc ở tận cũng thế giới mà chúng tôi chỉ hiểu biết mơ hồ qua sách giáo khoa. Người ta có thể, người ta có phải đồng thuận với họ không? Chúng tôi đã một trăm lần đặt câu hỏi đó và luôn luôn trong tâm khảm mình chúng tôi đều có một niềm xác tín như nhau: phải nói có với nền độc lập và thống nhất của đất nước đó, và phải xây dựng với họ một cái gì mới.

Năm mươi năm sau, câu trả lời có vẻ như là tất yếu mà hầu như mọi người đều chia sẻ. Nhưng hồi đó không phải như vậy. Những người cầm quyền hồi đó ở nước chúng tôi đã chiến đấu vì tự do và độc lập cho nước mình. Nhưng để xua tan mối nhục mà nước Pháp phải chịu đựng năm 1940, nhiều người muốn đất nước phải tìm lại sự huy hoàng của thời xưa, bao gồm cả đế chế của nó. Ý chí đó có lẽ đã khiến cho họ mù và điếc trước phong trào của thế giới đang tiến tới độc lập ở những nước đã bị đô hộ về chính trị. Người Anh sáng suốt hơn, và không bị thất bại trong Đại chiến, đã thừa nhận nền độc lập của tiểu lục địa Ấn Độ bằng cách duy trì được ảnh hưởng chính trị và ưu thế về kinh tế ở một mức độ khả quan. Hoa Kỳ, chưa trở thành người đi đầu trong chiến tranh lạnh, cũng ủng hộ phong trào giành độc lập ngay ở Việt Nam, với hy vọng sẽ tìm được lợi ích lâu dài.

Ngoài một số trí thức, những người cộng sản và những người chịu ảnh hưởng của họ, phần lớn những người liên quan đến đường lối chính trị Pháp, trước hết là Charles de Gaulle, đều muốn duy trì trên bản đồ thế giới những dấu vết màu hồng của đế chế Pháp. Về phía mình, chúng tôi tin chắc rằng cái khối liên hiệp Pháp mà Bác Hồ đã nói đến là phù hợp với khả năng và nhu cầu của tình hình sau chiến tranh thế giới. Cuộc cách mạng Trung Hoa đang tiến triển nhanh chóng, chứng tỏ châu Á đang biến đổi. Tại sao nước Pháp lại không thể bắt tay vào hành động đó?

Trong những năm 1943, 1944, 1945, khi chúng tôi tìm cách hình dụng một tương lai cho đất nước mình trong thế giới mới sẽ ra đời, điều mà chúng tôi không tính đến, điều sẽ trở thành hiện thực lịch sử chủ đạo của các thế hệ sau đó, đấy là cuộc đấu tranh cuối cùng sẽ đi đến thắng lợi của tất cả các dân tộc bị đo hộ để giành lại nền độc lập, và đôi khi bằng con đường thương lượng may mắn.

Tầm nhìn hạn hẹp đó, sự thiếu hụt của trí tưởng tượng đó, đối với những ngày cuối đời mình, đã khiến cho tôi phải nghi ngờ đối với những kẻ muốn dự đoán tương lai để chuẩn bị đón nó. Phải có một tầm nhìn khác, có thể là một ảo vọng, mà các chính khách “thực tiễn” của chúng ta không có, vì đã bị ám ảnh bởi mối tương quan lực lượng lúc đó.

Trước khi trở về nước, Hồ Chí Minh đã để lại ở Paris một phái đoàn với quy chế bán chính thức gồm ba người: Hoàng Minh Giám, Trần Ngọc Danh và Dương Bạch Mai. Giám đã được nhanh chóng gọi về nước để trở thành bộ trưởng Bộ Ngoại giao.

Những tháng cuối năm 1946 là giai đoạn xáo động của nền chính trị Pháp. Một bản hiến pháp được biểu quyết cuối tháng 10 kéo theo cuộc bầu cử lập pháp vào ngày 10 tháng 11. Sau đó rất khó thành lập một chính phủ, nhưng Léon Blum đã đạt được khi ngày 17 tháng 12 được sự tín nhiệm của Quốc hội để thành lập một chính phủ gồm những người xã hội đồng nhất... và thiểu số.

Việt kiều ở Pháp đón chào phái đoàn Chính phủ Việt Nam DCCH đến Paris năm 1946

23 năm sau, lễ truy điệu Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1969 ở PhápBộ Tái thiết được đặt dưới sự chỉ đạo của Bộ trưởng Bộ Công chính Jules Moch. Được sự tín nhiệm của vị bộ trưởng trước Francois Biloux, trách nhiệm của tôi được mở rộng. Tôi không chỉ chịu trách nhiệm về công việc đối ngoại, mà còn phải lo chuẩn bị cho ngân sách năm 1947, và phải nhanh chóng trình bày cho Quốc hội biểu quyết.

Như vậy là vào đầu giờ chiều chủ nhật 22 tháng 12, tôi đang ngồi trước Jules Moch để trình bày bản ngân sách “của tôi” trong văn phòng ở đại lộ Saint-Germain. Quan hệ của tôi với ông ấy khá thân thiện, kể từ khi tôi biết ông ở Hội đồng tư vấn lâm thời tại Alger. Vì tôi là một người thân cận ông uỷ viên Nội vụ Emmanuel d’Astier, tôi nhận được những bức điện tín gửi đi từ Pháp, hồi đó đấy là một đặc ân hiếm có và đôi khi đau buồn (2). Và như vậy là tôi đã báo cho Jules Moch biết tin một trong những người con trai ông đã bị cảnh sát hay Gestapo sát hại. Quan hệ giữa chúng tôi sau này trở nên khó khăn khi vào năm 1947, lúc nổ ra cuộc đình công, ông đã quyết định giải tán nhiều đơn vị của Lực lượng an ninh Cộng hoà mà tôi đã xây dựng.

Trong khi tôi trình bày với bộ trưởng các đề nghị ngân sách, vừa nói vừa bình luận, thì điện thoại vang lên trên đường dây liên bộ. Léon Blum muốn gặp tôi gấp rút.

Tôi rất ngạc nhiên. Tôi đã gặp Léon Blum một hai lần trong văn phòng của tờ Populaire (Bình dân), và tôi đã từ chối lời đề nghị thân mật của ông mời tôi gia nhập hàng ngũ đảng của ông (3). Ông ta muốn gì ở tôi gấp rút thế, mà lại vào một ngày chủ nhật? Tôi hỏi Jules Moch, thì ông nói có lẽ liên quan đến Việt Nam, mà những tin tức từ mấy ngày nay khá quan ngại.

Léon Blum tiếp tôi một cách thân mật trong phòng khách nhà ông. Ông trao cho tôi nhiều bức điện đến trong 24 giờ cuối cùng. Tôi đọc lướt qua cả tập. Người ta đang đánh nhau ở Hà Nội. Jean Sainteny, uỷ viên nước Cộng hoà và là ngời ký hiệp nghị 6 tháng 3, bị thương nặng. Những bức điện do Cao uỷ ở Sài Gòn đánh đi, nói về cuộc đánh úp bất ngờ của Việt Minh, và phản ứng với quân đội Pháp. Tôi hỏi Léon Blum xem ông có thể phân tích trách nhiệm thuộc về ai để đưa đến tình hình nghiêm trọng đó.

Một tháng trước, ở Hải Phòng, một cuộc đụng độ đã xảy ra về việc một chiếc thuyền chở vũ khí. Việt Minh đã lập chiến luỹ ngăn thành phố, nhiều trận chiến dữ dội đã nổ ra, và cuối cùng hạm đội Pháp nã pháo lên thành phố của người bản xứ, gây nhiều tàn phá và hàng nghìn dân thường bị hại. Từ nhiều tuần lễ, báo chí Pháp công bố những lời tường thuật khủng khiếp và mâu thuẫn nhau, ít ra là về trách nhiệm của những kẻ gây nên.

Léon Blum trả lời tôi: “Cả hai phía đều tích cực chuẩn bị chiến tranh. Tôi sợ rằng chính quân đội chúng ta đã đổ dầu vào lửa. Nhưng vấn đề bây giờ đã bị vượt qua. Ông biết rõ Hồ Chí Minh. Tôi cũng vậy. Tôi không nghĩ rằng ông ấy muốn chiến tranh, và tôi cũng muốn tránh nó. Ông có lời khuyên gì đối với tôi không?”

Tôi nhanh chóng nhớ lại Bác Hồ trong vườn nhà tôi. Tôi nhớ lại những hy vọng của ông về một liên hiệp Pháp. Tôi biết những nỗ lực ông ông để duy trì công khai một hình thức đàm phán ở Paris, và những lời phê phán gay gắt của một số bạn ông. Sau giây lát suy nghĩ, tôi đưa ra hai đề nghị:

- Có một việc mà ông phải làm, và một việc mà ông phải tránh. Việc thứ nhất là cử ngay đến với ông Hồ Chí Minh một người mà ông hoàn toàn tin cậy, và phải là một người bạn của ông. Hãy chọn một chiến hữu cũ trong đảng của ông, tôi tin rằng có nhiều người như vậy. Điều phải tránh bằng mọi giá, là để cho đô đốc d’Argenlieu trở lại Sào Gòn. Ai cũng biết ông ta chỉ mơ tưởng chinh phục lại Đông Dương.

- Về điểm thứ nhất, Léon Blum nói với tôi, ông hoàn toàn có lý. Tôi đã yêu cầu ông Marius Moutet sang bên đó.

- Theo tôi đó là một sự lựa chọn tốt.

Tổng thống Pháp Valéry Giscard d’Estaing (giữa) chứng kiến cuộc tiếp xúc giữa Thủ tướng Phạm Văn Đồng với tướng Marcel Bigeart tại Paris năm 1977- Về điểm thứ hai, tôi không thể làm theo lời khuyên của ông. Ngày hôm nay tôi đã nhận được nhiều thư khẩn của ông đô đốc, ông ta muốn trở lại Sài Gòn. Nếu tôi ngăn cản, chính phủ của tôi sẽ bị lật đổ.

- Điều đó sẽ nghiêm trọng, nhưng không nghiêm trọng bằng một cuộc chiến tranh.

- Ông không hiểu đấy thôi. Đây là lần đầu tiên nước Pháp có một chính phủ của đảng Xã hội. Tôi không có quyền làm biến mất niềm hy vọng mà nó đang mang theo. Ngày mai tôi sẽ giải thích trước Quốc hội. Hãy đến nghe tôi nói. Hãy gặp tôi vào đầu buổi chiều.

Ngày hôm sau, thứ hai 23 tháng 12, trước Quốc hội, Léon Blum bước lên diễn đàn, tôi đứng phía dưới nghe diễn văn của ông. Ông tuyên bố đã cử tướng Leclerc đi làm nhiệm vụ thanh tra, mà người ta biết là có những quan điểm khác biệt với đô đốc d’Argenlieu. Đây là một vài đoạn trích bài diễn văn mà tôi đã được nghe:

“Chúng ta bị đặt trước tình huống đối diện với bạo lực [...]. Một khi vượt qua được cuộc khủng hoảng đó, mục tiêu của chúng ta vẫn luôn luôn như cũ: không thể làm hài lòng những quyền lợi cá nhân. Lại còn phải quay trở về với những nguyên tắc và những cam kết của chúng ta. Đấy là tiếp tục một cách trung thực sự nghiệp đang bỏ dở, nghĩa là tổ chức lại một nước Việt Nam tự do ( có tiếng phản đối bên cánh hữu) trong một Liên hiệp Đông Dương tự do hợp tác với Liên hiệp Pháp. Nhưng trước hết cần phải thiết lập trật tự hoà bình làm cơ sở cần thiết cho việc thực thi những điều cam kết”.

Buổi tối, trước khi từ biệt, Léon Blum đã yêu cầu tôi giữ liên hệ với phái đoàn của Chính phủ Hà Nội ở Pháp. Ngày 31 tháng 12 tôi viết cho chủ tịch Blum để yêu cầu cho phép ông Trần Ngọc Danh có các phương tiện thực hiện một chuyến đi nhanh chóng khứ hồi về Đông Dương để tìm các giải pháp trấn an tình hình. Tôi không nhận được trả lời.

Ta thấy ở đây thật dễ dàng bước vào một cuộc chiến tranh - và người ta đã biết rõ, người ta đã hiểu đầy đủ diễn biến của sự kiện Đông Dương – nhưng ra khỏi chiến tranh thật khó biết chừng nào.

Cuộc nói chuyện của tôi với Léon Blum là nguồn gốc của nhiều điều ngạc nhiên. Việc cử Marius Moutet đi không đem lại được gì cả. Ngay sau khi đến Việt Nam, ông hoàn toàn bị thao túng bởi tướng Valluy, tay chân của d’Argenlieu và những nhân viên dân sự và quân dự xung quanh. Cuối cùng, để hoàn thành sứ mạng, ông đã đến Hà Nội ngày 2 tháng 1 năm 1947; ông chỉ ở đó có 30 giờ đồng hồ. Tôi được biết một cách chắc chắn rằng, 42 năm sau, nhân đọc một bản phân tích trong hồ sơ của Pháp, rằng ông không muốn gặp Hồ Chí Minh, vì bị sức ép của đô đốc d’Argenlieu, mặc dầu ông đã được ông Hồ mời (4).

Còn về đô đốc d’Argenlieu, dù tôi hy vọng mà không thể tin được, rằng ông chủ tịch Quốc hội trong buổi chiều ngày 22 tháng 12, có thể ngăn cản được ông trở lại Sài Gòn, thì ông ta đã xuống tàu sáng sớm ngày 23 tháng 12, nghĩa là trong buổi chiều ngày 22 theo giờ Paris.

Tướng Leclerc, trở về sau chuyến thanh tra, được Léon Blum đề nghị làm tổng chỉ huy Đông Dương, để tiếp tục làm cao uỷ ở giai đoạn sau. Biết được ý kiến của tướng de Gaulle, người ủng hộ đường lối của đô đốc d’Argenlieu, Leclerc đã từ chối lời đề nghị đó.

Trong những năm 1947-1954, Việt Nam trở thành nơi diễn ra “cuộc chiến tranh bẩn thỉu” mà đáng lễ có thể tránh được.

Trong những năm đó, tôi không muốn dính líu vào, ngoài việc hoà tiếng nói cùng với những người, ngày càng đông đảo, để lên án sự vô nghĩa của cuộc chiến tranh và đòi hỏi giải quyết bằng thương lượng.

___________________

* Raymond Aubrac, Où la mémoire s’attarde(Ở nơi ký ức dừng chân), NXB Odile Jacob, Paris, 1996, tr. 186-191.

1. Đấy là nhà của R.Aubrac tại Soisy-sous-nơi Bác Hồ đã đến sống trong thời gian ở Pháp.

2. Đây là nói đến thời kỳ nước Pháp bị quân Đức chiếm đóng, Chính phủ lâm thời kháng chiến phải đặt tại Angiêri.

3. Tức Đảng xã hội Pháp.

4. Philippe Devillers, Paris-Saigon-Hanoi, 1944-1947, Paris, Gallimard, 1988.

Nguồn: Xưa & Nay, số 263, 7/2006, tr6 - 9

Tổng thống Pháp Valéry Giscard d’Estaing (giữa) chứng kiến cuộc tiếp xúc giữa Thủ tướng Phạm Văn Đồng với tướng Marcel Bigeart tại Paris năm 1977

23 năm sau, lễ truy điệu Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1969 ở Pháp

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

GS.VS.TSKH Trần Đình Long: Khoa học chỉ thật sự có giá trị khi đến được với người dân
Từ một cậu học trò nghèo đất Tổ Phú Thọ đến nhà khoa học được quốc tế ghi nhận, được vinh danh Công dân Thủ đô ưu tú năm 2025, hành trình của ông là câu chuyện đẹp về lòng say mê tri thức, tinh thần cống hiến và niềm tin bền bỉ vào tương lai của nền nông nghiệp Việt Nam.
VUSTA - cầu nối thúc đẩy hợp tác khoa học, giáo dục giữa cơ sở đào tạo của Việt Nam và Tatarstan
Chiều ngày 08/6, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) cùng Trường Đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội (USTH) đã có cuộc làm việc, trao đổi trực tuyến với Bộ Giáo dục và Khoa học Cộng hòa Tatarstan (Liên bang Nga) cùng đại diện nhiều viện nghiên cứu, trường đại học hàng đầu của Tatarstan nhằm thúc đẩy hợp tác trong lĩnh vực khoa học, công nghệ và giáo dục đào tạo.
Chủ tịch Phan Xuân Dũng: VUSTA luôn ủng hộ, hỗ trợ Hội Cơ học Việt Nam tổ chức các sân chơi bổ ích cho sinh viên
Ngày 07/6/2026, tại Trường Đại học Xây dựng Hà Nội, Hội Cơ học Việt Nam đã long trọng tổ chức Lễ Tổng kết và Trao giải Olympic Cơ học toàn quốc lần thứ 36 năm 2026 khu vực phía Bắc. Đây là sự kiện thường niên có ý nghĩa quan trọng nhằm đánh giá kết quả kỳ thi, biểu dương những thành tích nổi bật của sinh viên, giảng viên và các cơ sở đào tạo trên cả nước.
Bắc Ninh: Ông Ngô Chí Vinh giữ chức Chủ tịch Liên hiệp Hội Khóa I
Trong 02 ngày 05 và 06/6, Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Bắc Ninh đã tổ chức Đại hội đại biểu lần thứ nhất, nhiệm kỳ 2026-2031. Phiên thứ nhất của Đại hội diễn ra chiều ngày 05/6; phiên chính thức được tổ chức vào sáng ngày 06/6/2026 với sự tham dự của đông đảo đại biểu đại diện cho đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trên địa bàn tỉnh.
Hải Phòng: Xác định tiêu chí chuyên gia, nhà khoa học người nước ngoài
Sáng 05/6, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (Liên hiệp Hội) thành phố Hải Phòng đã tổ chức hội thảo tư vấn, góp ý vào dự thảo Nghị quyết quy định tiêu chí đối với người nước ngoài là chuyên gia, nhà khoa học, người có tài năng, nhà quản lý, người lao động có trình độ cao làm việc tại doanh nghiệp có trụ sở chính trong Khu thương mại tự do thành phố Hải Phòng.
Thủ tướng Lê Minh Hưng hội đàm với Thủ tướng Lào Sonexay Siphandone
​Nhận lời mời của Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng, chiều 7/6, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào Sonexay Siphandone dẫn đầu Đoàn đại biểu cấp cao Chính phủ Lào đến Thủ đô Hà Nội, bắt đầu chuyến thăm chính thức Việt Nam và tham dự Diễn đàn Tương lai ASEAN 2026 từ ngày 7-9/6.