Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ hai, 19/06/2006 23:58 (GMT+7)

Nuôi cá đối

Cá đối còn được coi là đối tượng nuôi có giá trị kinh tế ở các nước thuộc vùng Địa trung hải, Israel, Tuynisia, HongKong, Đài loan…do lớn nhanh và dễ nuôi ghép với các loài khác. Ngoài ra trứng cá đối còn là một món ăn quý được ưa thích của người Trung Quốc, vì vậy chúng đã được xem như đối tượng nghiên cứu trên nhiều lãnh vực từ thập niên 60 trở lại đây. Tuy nhiên, ở Việt nam đối tượng này rất ít được chú ý đến như là một đối tượng nuôi, chúng chủ yếu được khai thác tự nhiên ở các vùng biển và nước lợ, do đó có rất it nghiên cứu về đối tượng này.


1. Sơ lược về đặc điểm sinh học của cá đối.


Họ cá đối là một họ rất lớn trong đó có khoảng 13 loài được coi là đối tượng trong nuôi trồng thuỷ sản, tuy nhiên được chú ý nhất là loài Mugil cephalus bởi vì chúng có phân bố rất rộng, lớn nhanh và kích thước lớn khi đạt đến trưởng thành.

Nước ta có 13 loài cá đối, trong đó ở Nam bộ có ít nhất 5 loài: M. cephalus, M dussumieri (tên mới Liza subviridsis), Liza macrolepis, Liza vaigiensis và Valamugil cunnesius. Theo báo cáo của Bộ Thuỷ sản (1996) ở vùng cửa sông nước ta thường gặp từ 5-7 loài có giá trị.

Cá đối là loài rộng muối, chúng có thể sống và sinh trưởng tốt trong môi trường nước lợ, lợ mặn và nước mặn. Ở các vùng cận nhiệt đới, trong một nghiên cứu (Cardona, 2000) cho thấy cá giống nhỏ (<200mm) và cá giống (201-300mm chiều dài) thường tập trung quanh năm trong môi trường nước ngọt hoặc lợ nhạt. Đối với cá trưởng thành, môi trường sống của chúng thay đổi tuỳ theo mùa và nó liên quan tới quá trình di cư sinh sản, khi chúng bắt đầu sinh sản thì thường có khuynh hướng tránh các dòng nước ngọt. Tuy nhiên nghiên cứu này cũng cho thấy có sự khác biệt đối với các quần thể cá đối ở vùng nhiệt đới, đặc biệt là vùng Ấn Độ - Thái Bình Dương. Cá sinh trưởng kém ở vùng nước ngọt và độ mặn thấp trong khi sinh trưởng tốt ở các vùng nước lợ, lợ mặn và nước mặn (có thể lên tới trên 70ppt) và chúng chịu sốc độ mặn kém nhất là trong điều kiện nhiệt độ thấp. Hotos và ctv (1998) trong một thí nghiệm gây sốc độ mặn đối với cá giống (2.6cm chiều dài thân) từ nồng độ muối ban đầu 20ppt lên các độ mặn 35-80ppt (5ppt cho mỗi khoảng cách) cho thấy cá bắt đầu bị chết ở nồng độ muối trên 45ppt và chết 100% ở 70ppt.

Cá đối có thể chịu đựng được nhiệt độ dưới 10 oC. Có rất ít tài liệu đề cập đến ảnh hưởng của nhiệt độ lên sinh trưởng và sinh sản của cá đối. Trong đa số các nghiên cứu trên, cá đối được bố trí ở nhiệt độ 20-30 oC.

Cá đối ở giai đoạn ấu trùng tới cá giống là loài ăn động vật phù du, khi trưởng thành chúng chuyển phổ thức ăn sang thực vật phiêu sinh, mùn bã hữa cơ lơ lửng và các thảm thực vật đáy (lab-lab: cộng sinh giữa tảo đáy và vi sinh vật). Trong điều kiện nuôi ngoài việc bón phân kích thích sự phát triển của tảo làm thức ăn tự nhiên cho cá đối, chúng còn có thể được cho ăn bổ sung với cám gạo, bánh dầu đậu phộng, đậu nành hoặc bột đậu phộng.

Cá đối đất M dussumieri khai thác ở vùng đầm nước lợ thuộc hệ thống sông Hồng đạt kích thước từ 135-195 cm (tương ứng 113-167g), Cá đối nhồng Liza soiny đạt 280-370cm, đối mục đạt 295-360 cm (Vũ Trung Tạng, 1994). Tại khu vực đầm phá Tam giang (Huế) cá đối mục có kích thước đạt 501 cm (1.120 g). Cá đối đất thành thục khi đạt 2 năm tuổi, ở đầm nước lợ gặp cá có tuyến sinh dục đến giai đoạn IV, cá đối đẻ ngay trong đầm. Sức sinh sản tuyệt đối đạt 7500-27.000 trứng. Riêng cá đối mục chỉ gặp cá có tuyến sinh dục ở giai đoạn thấp (dưới giai đoạn III) (Võ Văn Phú, 1995). Cá đối, Mugil cephalus lớn nhanh so với các loài cá đối khác trong họ cá đối. Cá cái thường lớn nhanh hơn cá đực và cũng đạt được kích thước lớn hơn. Trong điều kiện nuôi, sau một năm chúng có thể đạt kích thước 300g, 1.2kg sau hai năm và trên 2kg nếu nuôi sau 3 năm.

Cá đối có tập tính sống quần đàn, và tập tính này thể hiện mạnh nhất vào mùa sinh sản, cá thường tập trung thành từng bầy lớn di cư ra các vùng nước sâu ngoài biển để sinh sản. Cá đối là loài sinh sản theo mùa và mùa sinh sản của cá kéo dài từ tháng 10 tới tháng 4 năm sau, tuy nhiên ở các thủy vực vùng cận nhiệt đới mùa sinh sản có thể ngắn hơn (tới tháng 1-tháng 2 năm sau). Cá đối đạt tới thành thục sinh sản vào 3 năm tuổi với chiều dài thân trung bình khoảng 33cm ở cá đực và 35 cm ở cá cái. Sức sinh sản của cá thông thường tỷ lệ thuận với trọng lượng và chiều dài thân cá, cá càng lớn sức sinh sản càng cao. Con cái có trọng lượng khoảng1.5kg có sức sinh sản từ 1-1.5 triệu trứng (Pillay, 1990). Trứng cá đối có kích thước đường kính từ 0.9-1mm. Trứng đã thụ tinh nở ra ấu trùng trong khoảng 16-30h ở nhiệt độ 20-24 oC. Ấu trùng cá đối rất nhỏ (2.5-3.5mm) và thường có khuynh hướng tránh ánh sáng mạnh. Trứng cá và ấu trùng mới nở thường trôi dạt ngoài khơi vào một thời gian nào đó trong năm (các tháng thuộc mùa sinh sản) và cá bột xuất hiện theo mùa ở vùng cửa sông nơi được coi như các bãi ương cho cá giống.


2. Nuôi cá đối


Thông thường trong thực tiễn người ta không nuôi đơn cá đối mà chúng được nuôi ghép với các đối tượng khác như cá măng, cá chẻm và năng suất có thểđạt bình quân 400 kg/ha ở Ấn Độ. Ở Hong kong, Đài Loan và Israel, cá đối được nuôi ghép với cá chép Trung Quốc và cá đối là đối tượng chính. Mật độ thả nuôi lên tới 10,000-15,000/ha (cá có kích thước7.5cm) với 1000-2000 cá chép Trung Quốc. Khi đã lớn hơn (12cm), cá đối được thu tỉa còn lại khoảng 3500con/ha. Thức ăn dược cung cấp gồm: cám gạo (2 tháng đầu) và sau đó là bánh dầu đậu phộng, cámgạo. Ngoài ra ao cũng được bón phân hữu cơ để tăng cường nguồn thức ăn tự nhiên. Năng suất thu được từ 2500-3500kg/ha.

Ở Đài Loan cá đối được nuôi ghép với cá măng (2000con/ha), cá chép Trung Quốc (3250 con/ha) và cá chép (500 con/ha) ở mật độ 3000con/ha. Cá đạt 300g sau 1 năm và 1.2 sau 2 năm. Ngoài ra cá đối cònđược nuôi ghép với cá rô phi, cá chép và cá mè với mật độ tổng cộng khoảng 12,300 con/ha. Sau 4 tháng nuôi cá đối đạt 100g. Trong nuôi thịt, cá cá đối cái thường lớn nhanh hơn cá đực và trứng củachúng được dùng trong chế biến thức ăn đặc sản nên steroid (17a-Methyltestosterone và Ethynyloestradiol) cũng đã được sử dụng thông qua đường thức ăn để kiểm soát sự biệt hoá giới tính của cáđối.


Nguồn: khoahoc.com.vn 5/6/2006

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị quán triệt và triển khai Nghị quyết 10-NQ/TW
Sáng 30/6, tại Hà Nội, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dự và phát biểu chỉ đạo Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 8/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Ban biên tập vusta.vn trân trọng giới thiệu toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị.
Một năm chính quyền địa phương hai cấp: Nhìn từ chiều sâu văn hóa làng xã
Một năm thực hiện chính quyền địa phương hai cấp không chỉ là câu chuyện về tinh gọn bộ máy, tổ chức lại địa giới hành chính màcòn là phép thử về năng lực quản trị những giá trị mềm: tên làng, ký ức cộng đồng, di sản, thiết chế văn hóa, không gian tín ngưỡng và cảm giác thuộc về của người dân.
Hội nghị AFEO Midterm 2026
Ngày 30/6, tại Yangon, Myanmar, Liên đoàn các tổ chức kỹ sư ASEAN (AFEO) chính thức khai mạc phiên toàn thể Hội nghị giữa kỳ lần thứ 25. Đây là diễn đàn thường niên được tổ chức nhằm để các nhà khoa học, các kỹ sư, các chuyên gia cùng chia sẻ, thảo luận các giải pháp trong việc xây dựng một tương lai bền vững cho khu vực ASEAN.
Lào Cai: 118 hộ đồng bào dân tộc thiểu số hưởng lợi từ mô hình cấp nước tự quản
Sau gần một năm triển khai, Dự án “Hỗ trợ nước sinh hoạt cải thiện chất lượng cuộc sống cho cộng đồng dân tộc thiểu số thôn 4, xã Khánh Hòa, tỉnh Lào Cai” do Trung tâm Hỗ trợ phát triển bền vững cộng đồng các dân tộc miền núi (SUDECOM) thực hiện đã hoàn thành mục tiêu, đánh dấu một mô hình điểm về quản lý, vận hành hệ thống cấp nước dựa vào cộng đồng, nâng cao chất lượng cuộc sống cho 118 hộ dân.
Hải Phòng: Chuyển đổi số toàn diện để nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Sáng 26/6, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố (Liên hiệp hội) Hải Phòng phối hợp với Hội Điện tử và Tin học thành phố, Chi nhánh Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam - Chi nhánh Duyên hải Bắc Bộ (VCCI Duyên hải Bắc Bộ) tổ chức hội thảo khoa học với chủ đề: “Nâng cao năng lực cạnh tranh doanh nghiệp Hải Phòng thông qua chuyển đổi số toàn diện”.