Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ hai, 03/11/2008 21:49 (GMT+7)

Nghiên cứu về động đất và sóng thần phục vụ phòng tránh thiên tai ở Việt Nam

Để chủ động phòng chống và giảm nhẹ thiệt hại nếu dạng thiên tai này xảy ra, chúng ta đã và đang có nhiều hoạt động tích cực, như ban hành quy chế phòng tránh thiên tai, tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, nâng cao nhận thức của cộng đồng, tăng cường hợp tác quốc tế…

Động đất và sóng thần - Dạng thiên tai chưa thể dự báo chính xác

Số liệu thông kê từ đầu thế kỷ XX đến nay (108 năm) cho thấy, trên thế giới đã xảy ra hàng trăm trận động đất mạnh với cường độ cực đại lớn hơn 6,5 độ Richter. Trong đó, số trận động đất có cường độ lớn hơn 8 độ Richter là 68. Nếu chỉ tính những trận động đất và sóng thần có số người chết trên 1.000 thì tổng số người chết do động đất và sóng thần trong thời gian qua đã lên đến hàng triệu người, trong số đó, nhiều trận động đất có số người chết lên đến hàng trăm nghìn như trận động đất ở Kanto (Nhật Bản, năm 1923), ở Đường Sơn (Trung Quốc, năm 1976), trận động đất gây sóng thần ở Ấn Độ Dương ngày 26.12.2004, trận động đất ở Tứ Xuyên (Trung Quốc) xảy ra ngày 12.5.2008 vừa qua. Ngoài thiệt hại về người, các trận động đất và sóng thần nêu trên đã gây thiệt hại về kinh tế lên đến hàng trăm tỷ USD.

Do mức độ tàn phá khủng khiếp và nặng nề như vậy, động đất và sóng thần đã được chú trọng điều tra, nghiên cứu và tìm cách phòng tránh từ hàng trăm năm qua. Ở những nước thường có động đất, sóng thần xảy ra như Mỹ, Mêhicô, Pêru, Chilê, Italia, Nga, Nhật Bản, Trung Quốc, Ấn Độ, Iran, Inđônêxia, Philippin… phòng chống động đất là nhiệm vụ chiến lược quốc gia. Các nước này đã đầu tư phát triển hệ thống đài, trạm quan trắc động đất, chế tạo và thay thế nhiều thế hệ thiết bị ghi sóng động đất tinh vi, hiện đại, phát triển ngành khoa học điều tra nghiên cứu về động đất (địa chấn học) và chuyên ngành phòng tránh tác hại của động đất đối với công trình (địa chấn công trình)… Các nước trên và cộng đồng khoa học vật lý địa cầu trên thế giới đã đầu tư hàng tỷ USD cho việc phát triển các hệ thống thiết bị ghi nhận, phát hiện và tiến tới dự báo động đất, sóng thần, tương tự như dự báo các dạng thiên tai khác (bão, lũ, nước dâng…). Tuy nhiên, việc dự báo chính xác được địa điểm, thời gian và quy mô của động đất và sóng thần khó khăn, phức tạp hơn nhiều. Ngày nay, sử dụng hệ thống thiết bị hiện đại, quy mô, người ta mới chỉ ghi nhận và xác định được chính xác địa điểm, thời gian và cấp độ khi động đất xảy ra, nhưng chưa có hệ thiết bị nào có thể quan trắc, ghi nhận và kiểm soát chính xác được sự thay đổi và tích luỹ ứng suất trong lòng đất dưới độ sâu hàng chục kilômét cũng như chưa thể xác định được những yếu tố cấu tạo và tính chất cơ học và vật lý của các tầng đất đá ở độ sâu lớn - là những yếu tố và điều kiện trực tiếp tạo nên một trận động đất. Hai nước Mỹ và Trung Quốc đã nỗ lực tổ chức quan trắc và dự báo động đất ở những vùng từng xảy ra nhiều động đất mạnh như ở vùng đứt gãy San Andreas, Đường Sơn… nhưng thực tế thời điểm, địa điểm xảy ra động đất sau đó đều cho thấy không đúng như dự báo. Do đó, việc quan trắc và nghiên cứu những quy luật diễn biến và biểu hiện của quá trình thay đổi ứng suất trong thạch quyển dẫn đến khả năng hình thành một khu vực tích luỹ ứng suất và khả năng hình thành một trận động đất để có thể báo trước về thời điểm và địa điểm xảy ra động đất… đang là mục tiêu phấn đấu của ngành khoa học địa chấn và các ngành khoa học có liên quan khác trong thời gian tới.

Tình hình nghiên cứu về động đất và sóng thần ở Việt Nam

Theo những ghi chép lịch sử, nước ta đã từng xảy ra động đất và sóng thần. Động đất mạnh có cường độ chấn động cực đại cấp 8 đã xảy ra ở Hà Nội (năm 1276 và 1285), ở Nho Quan, Ninh Bình (năm 1635), ở Bình Thuận (năm 1877, 1882). Gần đây là những trận động đất ở vùng ven biển Nam Trung Bộ do núi lửa Hòn Tro xuất hiện và hoạt động vào các năm 1923, 1928. Động đất có cường độ 6,5 độ Richter đã xảy ở Điện Biên vào năm 1935. Động đất có cường độ chấn động cấp 7-8 đã xảy ra ở Lục Yên (Yên Bái) trong các năm 1953, 1954. Từ sau năm 1957, một số trạm địa chấn lần lượt được xây dựng và đi vào hoạt động, đã ghi nhận được những trận động đất có cường độ chấn động cấp 7 xảy ra ở Sông Cầu (Bình Định) năm 1970 và 1972, ở Điện Biên năm 1996, 2001. Trận động đất có cường độ 6,8 độ Richter đã xảy ra ở Tuần Giáo (Điện Biên) ngày 2.6.1983 là động đất mạnh nhất ghi được ở nước ta từ trước đến nay.

Danh mục động đất của Viện Vật lý Địa cầu đã ghi nhận khoảng 1.000 trận động đất với cường độ từ 4 độ Richter trở lên đã từng xảy ra ở nhiều nơi trên lãnh thổ và vùng biển nước ta. Theo đó, động đất có cường độ khá mạnh đã xảy ra ở các vùng Điện Biên, Lai Châu, Hà Nội, Thanh Hoá, Sơn La, dải ven biển và thềm lục địa Nam Trung Bộ.

Công tác điều tra, thu thập số liệu, tổ chức quan trắc bằng máy địa chấn tại các trạm cố định để nghiên cứu, đánh giá tính địa chấn trên lãnh thổ nước ta đã được tiến hành từ những năm 60 của thế kỷ trước. Với sự hợp tác giúp đỡ của chuyên gia các nước và vùng lãnh thổ như Ba Lan, Liên Xô (trước đây), Pháp, Nhật Bản, Đài Loan và Chương trình phát triển của Liên hợp quốc (UNDP)... nước ta đã từng bước xây dựng và phát triển được cơ sở vật chất, thiết bị phục vụ điều tra nghiên cứu về động đất, đã điều tra đánh giá và lập bản đồ phân vùng động đất ở tỷ lệ 1:1.000.000 cho lãnh thổ Việt Nam (năm 1985) và cho vùng biển Việt Nam (năm 2005). Trong những năm qua, kết quả điều tra, nghiên cứu phân vùng động đất cho lãnh thổ và vùng biển nước ta đã liên tục được bổ sung, hoàn thiện, trên cơ sở đó, đã đi sâu điều tra phân vùng chi tiết cho từng vùng, từng khu vực, phục vụ quy hoạch, thiết kế xây dựng nhiều thành phố, khu công nghiệp, các công trình thuỷ điện, thuỷ lợi, giao thông lớn của đất nước.

Yêu cầu về báo tin động đất và cảnh báo sóng thần ở Việt Nam

Khi một trận động đất mạnh xảy ra dưới đáy biển thường gây nên những trận sóng thần. Ngoài ra, những động đất do trượt lở đất đá hoặc do núi lửa hoạt động dưới đáy biển đều có thể tạo nên sóng thần. Đối với Việt Nam , ngoài nguy cơ động đất xảy ra trên đất liền, còn có nguy cơ xảy ra sóng thần từ phía Biển Đông. Nguy cơ động đất và sóng thần trong khu vực Đông Nam Á và trên Biển Đông khá hiện hữu, đặc biệt là trận động đất mạnh xảy ra tại vùng biển Ấn Độ Dương ngày 26.12.2004 gây nên sóng thần đã tàn phá ven biển các nước Inđônêxia, Thái Lan, Myanma, Ấn Độ, Srilanca và cướp đi sinh mạng gần 300.000 người.

Ngày 16.11.2006, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 264/2006/QĐ-TTg ban hành “Quy chế báo tin động đất và cảnh báo sóng thần ở Việt Nam”, theo đó, những trận động đất có cường độ từ 3,5 độ Richter trở lên xảy ra trênlãnh thổ nước ta và vùng biển ven bờ, những trận động đất có cường độ lớn hơn 6,5 độ Richter xảy ra trên Biển Đông và những vùng biển khác có khả năng gây nên sóng thần ảnh hưởng tới bờ biển và hải đảo nước ta đều phải được thông báo và cảnh báo. Quy chế của Chính phủ cũng quy định nội dung, cách thức và mức độ thông báo về động đất và cảnh báo sóng thần, xác định trách nhiệm của Viện Vật lý Địa cầu (thuộc Viện KH&CN Việt Nam) trong việc tổ chức quan trắc, thu thập thông tin, số liệu liên quan ở trong và ngoài nước để báo tin động đất, cảnh báo sóng thần có hiệu quả. Ngày 29.5.2007, Thủ tướng Chính phủ đã ký tiếp Quyết định số 78/2007/QĐ-TTg ban hành “Quy chế phòng chống động đất và sóng thần” quy định việc tổ chức phòng ngừa, ứng phó và khắc phục hậu quả khixảy ra động đất và sóng thần. Theo 2 Quyết định nêu trên của Thủ tướng Chính phủ, nhiệm vụ điều tra nghiên cứu về động đất, sóng thần trên lãnh thổ và vùng biển Việt Nam để phục vụ và đáp ứng yêu cầu báo tin động đất, cảnh báo sóng thần và phòng chống động đất, sóng thần là rất quan trọng và nặng nề. Nhiệm vụ này đòi hỏi chúng ta phải xây dựng mới cơ sở kỹ thuật, trang thiết bị và nâng cao, mở rộng hơn nữa quy mô điều tra nghiên cứu về động đất, sóng thần trên lãnh thổ, vùng biển và thềm lục địa của nước ta.

Tăng cường công tác điều tra nghiên cứu, cảnh báo về động đất và sóng thần

Tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị

Hiện tại, cơ sở vật chất, trang thiết bị của ta còn tương đối mỏng và cũ, với 25 trạm quan trắc động đất phân bố chủ yếu ở những vùng đã từng xảy ra những trận động đất mạnh và vừa, các máy ghi đều thuộc thế hệ cũ, không đủ khả năng ghi và phát hiện hết những trận động đất có cường độ xấp xỉ 3,5 độ Richter xảy ra trên lãnh thổ và vùng biển ven bờ, cũng không có khả năng ghi thời gian thực và truyền tín hiệu trực tiếp về trung tâm để báo tin hoặc cảnh báo kịp thời. Vấn đề đặt ra là phải đầu tư một hệ thống thiết bị đáp ứng yêu cầu, được xây dựng trên cơ sở tính toán sự phân bố tối ưu về số lượng và vị trí các trạm trên toàn lãnh thổ và ven biển để có thể ghi được đầy đủ động đất yếu xảy ra ở bất kỳ khu vực nào. Đồng thời, các trạm phải được trang bị hệ thống máy ghi ổn định có dải băng rộng, có độ chính xác cao và tự động phát truyền tín hiệu qua vệ tinh (hoặc mạng Internet) về trung tâm. Mạng lưới trạm địa chấn như vậy đã được quy hoạch và thiết kế trong khuôn khổ của dự án đầu tư mới cho Viện Vật lý Địa cầu: “Tăng cường mạng lưới trạm quan trắc động đất phục vụ báo tin động đất, cảnh báo sóng thần ở Việt Nam ”. Dự án này đã được phê duyệt chủ trương đầu tư và đang trong giai đoạn hoàn thiện thiết kế và dự toán để trình phê duyệt chính thức trong thời gian tới. Theo tiến độ dự kiến, đến năm 2012 mạng lưới trạm ghi động đất mới của Việt Nam gồm 36 trạm với máy ghi hiện đại và truyền tín hiệu qua vệ tinh sẽ được hoàn thành và đưa vào hoạt động đồng bộ.

Đẩy mạnh hoạt động của Trung tâm Báo tin động đất và cảnh báo sóng thần

Cùng với việc chuẩn bị đầu tư xây dựng mới mạng lưới trạm quan trắc động đất, Trung tâm Báo tin động đất và cảnh báo sóng thần (thuộc Viện Vật lý Địa cầu) đã được thành lập và triển khai hoạt động từ tháng 9.2007. Nhiệm vụ của Trung tâm là thu nhận, xử lý số liệu thông tin của hệ thống trạm quan trắc động đất của Viện và các hệ thống quan trắc, cảnh báo khác trong khu vực và quốc tế để thực hiện báo tin động đất và cảnh báo sóng thần theo Quy chế Chính phủ đã ban hành. Để phục vụ cảnh báo sóng thần, Trung tâm còn phải thu nhận, cập nhật số liệu quan trắc mực nước biển từ hệ thống trạm hải văn của Việt Nam (do Trung tâm Khí tượng Thuỷ văn Biển thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường quản lý). Hệ thống trạm quan trắc mực nước biển của Việt Nam cũng đã có chủ trương đầu tư xây dựng mới và hoạt động theo tiêu chuẩn kỹ thuật hiện đại, gồm 18 trạm phân bố trên dải ven bờ và các hải đảo.

Để báo tin động đất theo Quy chế của Chính phủ, Trung tâm Báo tin động đất và cảnh báo sóng thần sử dụng hệ thống máy tính và các thiết bị hiện đại khác để thu nhận và xử lý số liệu thông tin từ các mạng trạm động đất và hải văn quốc gia, kết nối thông tin với các hệ thống quan trắc và cảnh báo quốc tế và khu vực để đưa ra thông báo ngay sau khi động đất xảy ra 10-15 phút… Để cảnh báo sóng thần, Trung tâm còn phải sử dụng hệ thống các kịch bản sóng thần được tính toán xây dựng trên cơ sở mô hình hoá các trận động đất gây sóng thần khác nhau có thể xảy ra trên vùng Biển Đông và các vùng biển khác gần Việt Nam . Các kịch bản sóng thần phải được thẩm định kỹ càng để làm căn cứ xác định nhanh nhất khoảng thời gian từ lúc xảy ra động đất tới khi sóng thần lan truyền đến bờ biển Việt Nam và các giá trị độ cao, biên độ và chu kỳ của sóng, khả năng ngập lụt tại mỗi vùng… để thông báo (báo động cảnh báo) kịp thời cùng với các giải pháp ứng phó cần thiết. Hiện tại, những kịch bản sóng thần đầu tiên trên vùng Biển Đông đã được tính toán xây dựng tại Bộ Tài nguyên và Môi trường và sẽ được xem xét thẩm định để đưa vào sử dụng trong công tác cảnh báo. Qua thực tế hoạt động, các kịch bản sóng thần sẽ được điều chỉnh và bổ sung, mở rộng để có được những phương án phù hợp nhất với những nguy cơ có thực cần được cảnh báo trên thực tế, do đó sẽ nâng cao được hiệu quả cảnh báo và phòng ngừa.

Nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ chuyên môn, đẩy mạnh và tăng cường hợp tác quốc tế

Nhiệm vụ điều tra nghiên cứu động đất phục vụ báo tin động đất và cảnh báo sóng thần ở Việt Nam chỉ có thể đạt được kết quả tốt nếu xây dựng được đội ngũ cán bộ chuyên môn đủ năng lực và phát triển được quan hệ hợp tác rộng rãi và chặt chẽ với các trung tâm cảnh báo, trung tâm quản lý số liệu động đất và các hệ thống quan trắc cảnh báo quốc tế và khu vực. Mới đây, Việt Nam đã tham gia vào hệ thống cảnh báo sóng thần và thiên tai của khu vực Đông Nam Á và Ấn Độ Dương, theo đó, tại 2 trạm trong hệ thống trạm địa chấn của Việt Nam sẽ lắp đặt các thiết bị của hệ thống cảnh báo khu vực và thực hiện việc trao đổi thông tin, số liệu về động đất và cảnh báo sóng thần giữa hệ thống các trạm của Việt Nam với Trung tâm Phòng tránh thiên tai châu Á (ADPC). Cũng bằng cách trao đổi số liệu, thông tin phục vụ cảnh báo, Trung tâm Báo tin động đất và cảnh báo sóng thần của Việt Nam đã và đang nhận được số liệu và thông tin trao đổi trực tiếp từ Trung tâm Cảnh báo sóng thần tây bắc Thái Bình Dương (đặt tại Nhật Bản), Trung tâm Thông tin địa chấn ASEAN (đặt tại Inđônêxia) cũng như qua mạng Internet nhận thông tin của các trung tâm địa chấn quốc tế khác… để phục vụ cho việc thực hiện nhiệm vụ được giao.

Nâng cao nhận thức của cộng đồng, hoàn thiện hệ thống cảnh báo và phòng tránh tai họa.

Nhiều bài học quý báu đã được rút ra từ những thảm họa động đất và sóng thần đã xảy ra trong khu vực. Trước hết, đó là bài học về việc nâng cao ý thức phòng tránh thiên tai trong cộng đồng với những kiến thức phòng ngừa, khắc phục tuy đơn giản nhưng cần tạo thành thói quen và phải được tuyên truyền, phổ biến rộng rãi, đặc biệt là sự ứng phó của mỗi người và của cộng đồng khi động đất xảy ra hoặc khi có báo động sóng thần. Theo Quy chế về báo tin động đất và cảnh báo sóng thần, hệ thống cảnh báo quốc gia từ trung ương đến địa phương phải hoạt động liên tục theo chế độ trực canh. Để đảm bảo hành động thông suốt và hiệu quả của toàn hệ thống, việc tổ chức diễn tập là rất cần thiết. Ở các nước có nhiều động đất xảy ra như Nhật Bản, Inđônêxia, Philippin, trong chương trình quốc gia về giáo dục nâng cao ý thức phòng tránh thiên tai cho cộng động luôn có những chương trình diễn tập như: Diễn tập báo động sóng thần, diễn tập sơ tán dân vùng ven bờ biển khi có báo động sóng thần, diễn tập khắc phục hậu quả khi có động đất xảy ra…

Quy chế phòng tránh động đất và sóng thần của Chính phủ còn yêu cầu các bộ/ngành quan tâm hoàn thiện và nâng cao chất lượng việc phân vùng động đất, đánh giá độ nguy hiểm của sóng thần phục vụ quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng và ban hành quy chuẩn thiết kế xây dựng công trình ở những vùng có nguy cơ động đất, sóng thần cao, xây dựng các công trình phòng ngừa sóng thần. Để đáp ứng yêu cầu nêu trên, công tác điều tra nghiên cứu về động đất và sóng thần trong những năm tới cần tập trung theo hướng đánh giá mức độ nguy hiểm của động đất và sóng thần, hoàn thiện và chi tiết hoá, nâng cao giá trị dự báo đối với các bản đồ phân vùng động đất, phân vùng đánh giá mức độ nguy hiểm và rủi ro của sóng thần. Trên cơ sở đó, cần xây dựng bản đồ mức độ nguy hiểm của động đất và sóng thần đối với những vùng có nguy cơ cao. Xuất bản và công bố rộng rãi các bản đồ động đất và sóng thần cùng các tài liệu thuyết minh, hướng dẫn khai thác, sử dụng để phục vụ công tác phòng ngừa, khắc phục hậu quả động đất, sóng thần từ các bộ/ngành cho đến các địa phương như Quy chế đã đề ra.

Xem Thêm

Phát triển nhân lực trẻ cho các lĩnh vực công nghệ chiến lược
Bộ Khoa học và Công nghệ được giao nghiên cứu, đề xuất cơ chế, chính sách phát triển nhân lực trẻ chất lượng cao trong các lĩnh vực công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, hàng không vũ trụ và năng lượng nguyên tử, với thời hạn hoàn thành trong quý IV/2026.
Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

Tập huấn sử dụng hệ thống thông tin điều hành tác nghiệp Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Ngày 5/11, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức Hội nghị Hướng dẫn sử dụng phần mềm trong quản lý và điều hành tác nghiệp văn bản đi và đến. Hội thảo nhằm nâng cao kỹ năng sử dụng, khai thác hiệu quả các chức năng của hệ thống số hóa, góp phần tích cực vào quá trình chuyển đổi số toàn diện trong công tác quản lý, điều hành và xử lý văn bản nghiệp vụ tại Cơ quan VUSTA.
Lào Cai: 52 đề tài xuất sắc sẽ được trao giải Cuộc thi lần thứ 21
Chiều 3/11, Ông Giàng Quốc Hưng - Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch UBND tỉnh, Chủ tịch Liên hiệp Hội tỉnh, Trưởng Ban Tổ chức Hội thi Sáng tạo kỹ thuật (Hội thi) và Cuộc thi Sáng tạo thanh, thiếu niên, nhi đồng tỉnh (Cuộc thi), chủ trì cuộc họp thống nhất công tác chuẩn bị tổng kết, trao giải Cuộc thi lần thứ 21 và phát động Cuộc thi lần thứ 22.
Cải cách hành chính và chuyển đổi số ở cơ sở cần thực chất hơn
Năm 2026, khi mô hình chính quyền địa phương hai cấp đi vào vận hành, cải cách hành chính và chuyển đổi số đặt ra yêu cầu cao với chính quyền cơ sở. Qua khảo sát tại phường Tuy Hòa, Cư Bao, xã Sơn Hòa, Sông Hinh, Ea Na và Yang Mao, Hội đồng tư vấn Dân chủ – Pháp luật thuộc Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh Đắk Lắk ghi nhận nỗ lực của địa phương và những vấn đề cần tháo gỡ để nâng cao chất lượng phục vụ.
Tôn vinh tinh hoa đạo học, tiếp nối mạch nguồn hiền tài dân tộc
Từ ngày 5 - 15/11, thành phố Hà Nội tổ chức chuỗi hoạt động kỷ niệm 950 năm thành lập Quốc Tử Giám (1076–2026), với nhiều chương trình văn hóa, nghệ thuật, triển lãm, trải nghiệm di sản và hội thảo khoa học. Đây là dịp tôn vinh những giá trị bền vững của nền Quốc học Việt Nam, khơi dậy truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo và tinh thần trọng dụng hiền tài.
Đắk Lắk: Phản biện hồ sơ Dự án nhà máy điện gió, điện mặt trời
Sáng 29/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh đã tổ chức Hội đồng góp ý, phản biện xã hội và phản biện khoa học đối với hồ sơ đề nghị chấp thuận chủ trương đầu tư Dự án Nhà máy điện gió E&M Đắk Lắk tại xã Ea Knốp và xã Cư Prao; Dự án Nhà máy điện mặt trời Jang Pông 2 tại xã Ea Wer.
Góp ý Luật luật An toàn, vệ sinh lao động: Lấy bảo vệ con người và quản trị rủi ro làm trung tâm
Ngày 30/10/2026, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp Hội Khoa học Kỹ thuật An toàn Vệ sinh Lao động Việt Nam (VOSHA) tổ chức Hội thảo "Góp ý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật An toàn, vệ sinh lao động". Hội thảo do PGS.TS Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch VUSTA và GS.TS Lê Vân Trình, Chủ tịch VOSHA đồng chủ trì.
VUSTA công bố các quyết định điều động, bổ nhiệm cán bộ chủ chốt
Ngày 30/10/2026, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã trang trọng tổ chức Hội nghị công bố các quyết định quan trọng về công tác cán bộ. Lãnh đạo VUSTA đã trao quyết định nghỉ hưu hưởng chế độ cho 02 cán bộ, chuyên viên, đồng thời trao các quyết định điều động, bổ nhiệm cán bộ chủ chốt nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.
Liên hiệp Hội Việt Nam hưởng ứng tháng “Vì người nghèo”
Sáng 27/10, tại Hội trường xã Quốc Oai, Khối thi đua các tổ chức thuộc lĩnh vực Khoa học - Kinh tế - Pháp luật - Giáo dục - Đối ngoại thuộc Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phối hợp với Ủy ban MTTQ Việt Nam thành phố Hà Nội, Hội Luật gia thành phố Hà Nội và xã Quốc Oai tổ chức Hội nghị “Nghe dân nói, nói dân nghe” và thực hiện Tháng cao điểm vì người nghèo 2026.
Thủ tướng mong muốn đối tác quốc tế không chỉ đầu tư, sản xuất tại Việt Nam mà cùng kiến tạo chuỗi giá trị mới
Phát biểu tại Diễn đàn Kinh tế mùa Thu 2026, Thủ tướng Lê Minh Hưng khẳng định Việt Nam mong muốn các đối tác quốc tế không chỉ đầu tư, sản xuất tại Việt Nam mà cùng nghiên cứu, phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo và kiến tạo những chuỗi giá trị mới.
Tạo động lực tăng trưởng xanh từ khoa học, công nghệ
Chính phủ Việt Nam nhiều lần khẳng định quan điểm "không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế". Trong bối cảnh đó, việc giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa yêu cầu tăng trưởng nhanh và bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu thông qua các giải pháp khoa học, công nghệ đang trở thành yêu cầu cấp thiết hiện nay.