Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ sáu, 25/08/2006 16:39 (GMT+7)

Mô hình lúa - tôm trong ao nổi

Năm 2003, ông Lê Văn Đành, ở ấp Giồng Dài, xã Hiệp Mỹ Tây, huyện Cầu Ngang, được cán bộ của Trung tâm Khuyến ngư tỉnh Trà Vinh khuyến khích chuyển hơn 02 héc ta đất trồng lúa sang nuôi tôm trong ao nổi. “Liệu có thành công không khi mà ở đây đất bị nhiễm phèn khá nặng? Trồng lúa như trước đó còn bị mất mùa, mỗi vụ trúng cũng chỉ đạt… một tấn/héc ta”, ông Đành phân vân.

Nghĩ thì nghĩ vậy nhưng không ngán. Bởi ông biết, trong xã đã có một vài trường hợp thành công với mô hình này. Ngoài ra, UBND huyện còn hứa sẽ ưu tiên giới thiệu vay vốn đầu tư. Vậy là ông Đành quyết định làm thử.

Được ngân hàng cho vay 30 triệu đồng, cộng thêm vốn liếng dành dụm bấy lâu, ông Đành thuê nhân công đắp ao theo hướng dẫn của cán bộ Trung tâm Khuyến ngư. Đầu tư cho ao nuôi 2,2 héc ta hết hơn 40 triệu đồng, phần vốn còn lại ông mua tôm giống thả nuôi theo kiểu bán thâm canh. Năm tháng sau, ông thu hoạch được trên hai tấn tôm, có lãi lớn so với trồng lúa.

Vụ thứ hai, ông Đành quyết tâm chuyển sang nuôi công nghiệp. Lần này tôm nuôi đạt năng suất 4,7 tấn/héc ta. Hiện nay, cả sáu người trong gia đình ông đang dồn hết công sức cho vuông tôm…

Theo ông Nguyễn Đức Mậu, Trưởng phòng Nông nghiệp-Thủy sản, hiện toàn huyện đã có gần 1.000 héc ta nuôi tôm theo mô hình ao nổi, trong đó khoảng 400 héc ta nuôi công nghiệp. Hơn ba năm nay, những hộ nuôi theo mô hình này hầu hết rất thành công, năng suất bình quân đạt trên 4 tấn/héc ta đối với tôm nuôi công nghiệp.

“Sau khi thu hoạch tôm, nông dân có thể tận dụng đất trong ao để trồng lúa hoặc trồng màu, nuôi cá nước ngọt vào mùa nước ngọt”, ông Mậu cho biết. Nuôi kiểu này thuận lợi cho việc luân chuyển, theo ông Mậu, bởi ao nuôi thiết kế theo dạng này không khác những mảnh ruộng. Thay vì đào ao sâu như trước đây, đối với ao nổi, nông dân chỉ cần đào lớp đất mặt xuống khoảng 0,3 mét, sau đó dùng đất đắp bốn phía tạo thành “bể chứa” có chiều cao từ 1,5-1,7 mét và bơm nước vào thả tôm.

Việc xử lý nước được thực hiện khá nghiêm ngặt nhờ các ao lắng lọc cấp nước và ao chứa nước thải để xử lý trước khi đưa ra kênh, rạch. Do vậy, theo ông Huỳnh Hiếu Bi, Chủ tịch UBND huyện Cầu Ngang: “Không gây ô nhiễm nước trong ao nuôi và cả môi trường xung quanh”.

Khi thu hoạch, nông dân chỉ cần mở cống nhỏ sát mặt đất để xả nước như một bể chứa, do đó tiết kiệm chi phí và không mất nhiều thời gian như khi thu hoạch ở các ao sâu. Đồng thời, việc vệ sinh ao nuôi khá thuận lợi.

Cuối tháng 4-2005, khi hàng loạt vuông nuôi có tôm từ 20 ngày đến một tháng tuổi bị chết gần 70% ở các huyện Duyên Hải, Trà Cú… thì tại Cầu Ngang, theo ông Dương Tấn Đởm, Phó phòng Nông nghiệp - Thủy sản, tỷ lệ tôm chết chỉ ở mức 30% và đều tập trung ở các ao nuôi theo mô hình trước đây. “Nhờ không đào sâu quá tầng đất mặt, nên ao nổi không gặp phải tình trạng xì phèn tiềm tàng khiến độ pH tăng vọt như những ao nuôi khác”, thạc sĩ Phạm Minh Truyền, cán bộ Trung tâm Khuyến ngư, nói.

Tuy nhiên, mô hình nuôi này cũng có những hạn chế. Trước mắt là phải thường xuyên bơm nước cho ao nên chi phí nuôi có thể tăng đôi chút so với nuôi ao sâu. Nhưng quan trọng nhất, theo ông Bi, làm như vậy thì môi trường sinh thái không bị ảnh hưởng nhiều.

Với mô hình ao nổi, nuôi kết hợp một vụ tôm, một vụ lúa, tầng đất mặt không bị phá hủy. Sau vụ tôm, những chất thải sót lại trong quá trình nuôi lại trở thành phân giúp cây lúa tăng trưởng mạnh. Theo ông Mậu: “Có nơi, lúa trồng trong ao nổi sau khi nuôi tôm đạt năng suất 4 tấn/héc ta so với năng suất bình quân vụ trúng nhất ở vùng này là 2-2,5 tấn/héc ta”.

Nguồn: Thời báo Kinh tế Việt Nam 28/7/2005

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

GS.TSKH Nguyễn Đức Cương: Khoa học là một hành trình dài và không phải lúc nào cũng có kết quả ngay
Sinh năm 1945 tại Huế, ông là nhà khoa học hàng đầu về hàng không - vũ trụ của Việt Nam, đã có hơn nửa thế kỷ cống hiến cho ngành khoa học kỹ thuật hàng không vũ trụ. Không chỉ là người đặt nền móng cho các sản phẩm bay tiết kiệm chi phí cho Việt Nam, ông còn là người thầy tâm huyết, truyền cảm hứng và kiến thức cho nhiều thế hệ, góp phần đưa ngành hàng không Việt Nam đạt được những bước tiến mới.
Đắk Lắk: Ứng dụng AI “nghe” độ chín sầu riêng
TS. Lê Minh Tân và CN. Hoàng Ngọc Trung Nguyên (Trường Đại học Tây Nguyên) đã nghiên cứu thành công giải pháp: “Máy phân loại quả sầu riêng theo độ chín sử dụng AI phân tích âm thanh”. Giải pháp này đã đọat giải Nhì Hội thi Sáng tạo Kỹ thuật tỉnh Đắk Lắk (2024-2025) khu vực phía Tây.
Toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị quán triệt và triển khai Nghị quyết 10-NQ/TW
Sáng 30/6, tại Hà Nội, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dự và phát biểu chỉ đạo Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 8/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Ban biên tập vusta.vn trân trọng giới thiệu toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị.
Một năm chính quyền địa phương hai cấp: Nhìn từ chiều sâu văn hóa làng xã
Một năm thực hiện chính quyền địa phương hai cấp không chỉ là câu chuyện về tinh gọn bộ máy, tổ chức lại địa giới hành chính màcòn là phép thử về năng lực quản trị những giá trị mềm: tên làng, ký ức cộng đồng, di sản, thiết chế văn hóa, không gian tín ngưỡng và cảm giác thuộc về của người dân.