Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ bảy, 17/09/2005 15:41 (GMT+7)

Họ Khúc và công cuộc xây đắp nền tự chủ Quốc gia Việt Nam

Ở Trung Hoa, sau sự sụp đổ của đế chế Đường (907) là một thời kỳ hỗn loạn “Ngũ đại thập quốc” (907-960), kết thúc bằng sự thống nhất dưới thời Tống, với sự trỗi dậy lại của ý thức - dân tộc nguồn cội của người Hoa Hạ và sự ra đời của một ý thức hệ mới - Tống Nho- mà các nhà Trung Hoa học phương Tây gọi là Tân Nho giáo, thay thế dần Đạo giáo chính thống thời Đường.


Trong bối cảnh chung và khu vực Đông Á ấy, sau hơn ngàn năm chống Bắc thuộc, từ Trưng Vương (40-44) đến Lý Nam Đế (544-546) rồi Mai Hắc Đế (722), Bố Cái đại vương (767-791), cả thế lực nội sinh cùng với thời cơ ngoại sinh (Thời - Thế - Cơ) đã đẩy nước Việt đứng lên dựng quyền tự chủ ở đầu thế kỷ 10.

Người có công đầu trong công cuộc tự chủ đó là họ Khúc ở Hồng Châu (Cúc Bồ, Ninh Giang, Hải Dương ngày nay).

Khúc Thừa Dụ thuộc dòng dõi “hào trưởng lâu đời ở Hồng Châu”. Hào trưởng Khúc là thủ lĩnh địa phương có quyền lực và uy tín ở một vùng sau này gọi là xứ Đông, như phụ thân Ngô Quyền là Ngô Man, hào mục Phong Châu nay là xứ Đoài hay Dương Đình Nghệ là hào trưởng vùng Giàng (Dương Xá) Cửu Chân sau này là xứ Thanh...

1. Tôi vừa đi dự Hội thảo quốc tế ở Tokyo (Nhật Bản) từ 13-20 tháng 5/2003 về Lịch sử 10 thế kỷ của thiên niên kỷ 1 của Đông Á và Việt Nam.

Tại hội thảo đó tôi đã đọc bản tham luận về “Một ngàn năm Bắc thuộc và chống Bắc thuộc” của Việt Nam, từ thời Nam Việt Triệu Đà đến thời họ Khúc - Ngô - Đinh - Lê với sự chuyển hóa hai hằng số trong tâm thức Dân chúng và Thủ lĩnh vùng trong cả nước là:

Namđể đối lập, đối diện và đối tác với Bắc (chứ không thừa nhận bất cứ nơi nào là trung tâm thiên hạ)

Việt là để giữ nguồn gốc người (mà tộc người thì không phải là chủng tộc).

Trải thêm một thiên niên kỷ thứ hai, dù vạn vật và đất nước, cư dân có diễn hóa và biến hóa nhưng “Nam quốc sơn hà” thời Lý Thường Kiệt , “Đại Việt văn hiến” thời Nguyễn Trãi hay sau này “Việt Nam - Đại Nam” thời nhà Nguyễn và sau cùng là Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam của Thế kỷ 20 và các thế kỷ sau nữa vẫn là thế. Đó là hằng số của dân tộc ta.

Công lao là của nhiều thời, nhiều đời, nhiều người mà hôm nay chúng ta chỉ tập trung bàn về họ Khúc.

Trường phái sử học của Đại học Sư phạm Hà Nội, nối theo sử chính thống từ Đại Việt sử ký toàn thư (TT) đến Khâm định Việt sử thông giám cương mục (CM) rồi Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim đều gọi thời đại họ Khúc là thời Tự Chủ, chấm dứt thời Bắc thuộc ngàn năm.

Trường phái sử học của Đại học Tổng hợp Hà Nội, nói có phần “mềm dẻo” và “hắc ăn” hơn: với họ Khúc và từ 905, về cơ bản đã kết thúc thời ngàn năm Bắc thuộc, nhưng khi Ngô Quyền cắm cọc Bạch Đằng năm 938, phá tan đoàn thuyền xâm lược của Nam Hán, thì cũng là cắm một cái mốc lịch sử mới cho thời đại độc lập tự chủ của Việt Nam. Ngô Quyền xưng vương, đặt trăm quan, định triều nghi, đóng đô ở Cổ Loa, tỏ ý nối tiếp “Quốc thống” xưa của An Dương Vương - Âu Lạc (CM).

Thì... nói theo tư tưởng của Trung ương, cứ để cho giới khoa học lịch sử tự do thảo luận dài dài, đừng ai tự cho mình là có quyền “nói lời cuối cùng” (theo ý của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng).


2. Về vấn đề họ Khúc, tôi có 3 ý kiến sau đây:

Nhà Đường, với danh nghĩa cầm đầu trung ương đế chế, chỉ cử được đến viên quan Tiết độ sứ An Nam cuối cùng là Độc-cô Tổn (Họ Độc-cô của người Turc) (889-904) mà người Việt ta gọi là “Ngục thượng thư” (Thượng thư ác). Khi nhà Đường triệu hồi Tổn về Tràng An chưa có ai kịp sang thay thì, viết như Tư Mã Quang (Tư trị thông giám, quyển 165) “Khúc Thừa Dụ nhân loạn coi giữ đất An Nam”, đặt vua Đường ở thế đã rồi, bất đắc dĩ phải phong “năm Thiên Hựu thứ 3 (906) thăng Tĩnh hải Tiết độ sứ là Khúc Thừa Dụ chức Đồng bình chương sự” (tức là đại thần cực phẩm, cũng ngồi làm việc quân quốc trọng sự).

Thế là rõ, nhà Đường không phong chức Tiết độ sứ Tĩnh Hải An Nam (những chức danh đầy chất kỳ thị) cho Khúc Thừa Dụ mà tự họ Khúc chiếm lấy chức ấy. Đấy là hành động rất khôn ngoan cướp chính quyền một cách hòa bình để xây dựng một chính quyền tự chủ trong hoàn cảnh lịch sử ngày xưa.

Không nên tách một sự việc ra khỏi một hoàn cảnh lịch sử. Nhưng cũng có người lại vin cớ họ Khúc chỉ mới xưng là Tiết độ sứ thôi để nói rằng họ Khúc vẫn phụ thuộc vào đế chế Đường. Đó là chủ nghĩa hình thức. Họ không thấy ở thế kỷ 20, khi hoàn cảnh bắt buộc, cụ Hồ vẫn ký hiệp định sơ bộ 06/03/1945, khi phía Pháp chỉ công nhận “Việt Nam là một xứ tự do nằm trong khối Liên hiệp Pháp”.

Có lẽ trong hai việc của họ Khúc thế kỷ 10 và của cụ Hồ thế kỷ 20, ta nên dùng lời bình của Ngô Thì Nhậm đầu thế kỷ 19 là xác đáng nhất: “Gặp thời thế, thế thời phải thế”!

Điều quan trọng hơn là hãy xem chính sự của họ Khúc.

Theo ghi chép của CM thì với họ Khúc, “chính sự cốt chuộng Khoan (dung), Giản (dị) để dân được An (cư) - Lạc (nghiệp)”, đó là một nền chính trị rất hợp lòng dân, đánh trúng tâm lý tiểu nông, cho đến nay vẫn chiếm đa số dân chúng. Người tiểu nông, người dân thường nói chung cần có một chính quyền, có một chính sách “khoan-giản”. Đấy là một định hướng chiến lược lâu dài cho mãi đến cuối thế kỷ 14, khi sắp mất, Hưng Đạo đại vương vẫn khuyên vua làm như thế: “Khoan nhu sức dân để làm kế sâu gốc bền rễ, đó là thượng sách giữ nước”.

Người dân thường các đời muốn gì?

- Muốn yên (hãy để cho tôi yên).

- Muốn vui (chúng tôi cần một niềm vui sống).

Thế cho nên cách đây hai chục năm, khi Đảng và Nhà nước bàn về chiến lược phát triển, tôi đã nói và viết rằng: “Chiến lược bốn chữ khoan-giản-an-lạc của họ Khúc là một chiến lược vĩ đại, có giá trị lâu dài”. Điều này đã được đưa vào giáo trình đại học.

Ở thập kỷ 80 của thế kỷ trước, khi bàn về Cải cách và Đổi mới (được ghi nhận từ năm 1986), tôi đã phân tích vì nhiều lý do mà cái nền tảng “ba nông”:

Nông dân-Nông nghiệp - Nông thôn là cho một Đại Việt - Việt Nam truyền thống có ít nhà cải cách đối mới, tính bảo thủ của truyền thống rất cao (như trong Tư bản, Mác dẫn câu thành ngữ Pháp: “Người chết níu người sống”). Đi ngược dòng lịch sử ta thấy:

- Thế kỷ 20 có Phan Chu Trinh, Hồ Chí Minh rồi sau này thập kỷ 80 là Nguyễn Văn Linh, Hồ Nghinh, Trường Chinh...

- Thế kỷ 19 có Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch... thất bại não nề và mất nước.              

- Cuối thế kỷ 14 đầu thế kỷ 15 có Hồ Quý Ly, thất bại và mất nước.

- Đầu thế kỷ 10 có nhà cải cách Khúc Hạo, con nối dõi nối quyền của Khúc Thừa Dụ.

Vậy, theo dòng lịch sử, Khúc Hạo là nhà cải cách đầu tiên của thời quân chủ Việt Nam .

Những cải cách của Khúc Hạo là gì? Sử cũ chép quá vắn tắt, sơ sài, bắt buộc ta phải vừa đọc vừa suy đoán.

- Muốn biến đổi một An Nam đô hộ phủ trực thuộc đế chế Đường thành một xứ sở tự chủ, thì trước hết phải cải cách hành chính. Và Khúc Hạo đã làm như thế.

Theo sách An Nam chí nguyên, Khúc Hạo “đổi các huyện hương làm giáp, đặt một người quản giáp, một người phí tri giáp coi việc thu thuế” (An Nam chí nguyên quyển 3, trang 180-181).

Đơn vị hành chính cấp cơ sở là xã. Lần đầu tiên Khúc Hạo thay mặt chính quyền đặt được chức xã quan: mỗi xã có một người chánh lệnh trưởng và một tá lệnh trưởng (CM, tiền biên, quyển 5, 15a). Nông thôn trước cách mạng tháng Tám, ở mỗi giáp vẫn có chức ông lềnh (đọc chệch chữ lệnh) chỉ huy công việc xã hội của giáp (tang ma, cưới xin, đóng thuế thân...).

- Theo đường lối khoan-giản-an-lạc của cha, Khúc Hạo đã sửa lại chế độ tô thuế (điền tôm phú dịch và tạm hoãn việc bắt phu (lực dịch). Với một xã hội nông nghiệp thì việc chính sự chỉ có 3 điều chính trong mối quan hệ với chính quyền trung ương: tô thuế-phu phen-lĩnh trang. Sử cũ chép gọn:

Khúc Hạo “bình quân thuế ruộng, tha bỏ lực dịch, lập sổ hộ tịch, kê rõ họ tên, quê quán, giao cho giáp trưởng trông coi. Chính sự cốt chuộng khoan dung, giản dị, nhân dân đều được yên vui” (CM, tiền biên, quyển 5, 15a).

Rõ ràng công cuộc kinh dinh nền tự chủ của họ Khúc đã mở ra một giai đoạn phát triển mới cho xã hội nước Việt Nam mà các triều đại sau đó hoàn thành.

Chỉ xét về danh xưng cũng vậy. Ba cha con họ Khúc, rồi Dương Đình Nghệ mới chỉ tạm xưng là Tiết độ sứ, nhưng thực sự đã làm chủ mọi công việc trong nước.

Đến Ngô Quyền thì đã xưng vương, có triều đình trung ương, có kinh đô.

Đến Đinh Bộ Lĩnh thì đã xưng đế, có kinh đô Hoa Lư, có quốc hiệu là Đại Cồ Việt, có niên hiệu Thái Bình...

Dân ta có tục lệ đẹp: Uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ kẻ trồng cây.

Kính mong Hải Dương, xứ Đông đã làm vậy và sẽ vẫn làm vậy với các danh nhân quê hương. Rất mong sớm được thấy tượng Khúc Tiên chúa và khu đền tưởng niệm ông trên bờ Ninh Giang.

Nguồn: Văn Hiến Việt Nam số tháng 8/2005

Xem Thêm

Phát triển nhân lực trẻ cho các lĩnh vực công nghệ chiến lược
Bộ Khoa học và Công nghệ được giao nghiên cứu, đề xuất cơ chế, chính sách phát triển nhân lực trẻ chất lượng cao trong các lĩnh vực công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, hàng không vũ trụ và năng lượng nguyên tử, với thời hạn hoàn thành trong quý IV/2026.
Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

VUSTA tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ tại cơ sở
Nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm và kỹ năng xử lý tình huống cháy, nổ cho cán bộ, nhân viên làm việc tại tòa nhà, ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức tập huấn công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn. Chương trình kết hợp phổ biến quy định pháp luật với hướng dẫn kỹ năng thực hành, góp phần chủ động phòng ngừa và hạn chế thiệt hại khi có sự cố xảy ra.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
Đắk Lắk: Từ chính sách đãi ngộ đến yêu cầu sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao
Việc HĐND tỉnh Đắk Lắk thông qua Nghị quyết quy định chính sách thu hút, hỗ trợ đào tạo phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2026- 2031 thể hiện sự đồng thuận cao đối với yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo nền tảng cho phát triển trong giai đoạn mới. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để chính sách đi vào cuộc sống, thu hút được người có năng lực và tạo môi trường để trí thức cống hiến.
Bác Giáp: Sâu nặng những ân tình với VIFOTЕС
Điều mà những người làm khoa học kính phục ở con người Đại tướng Võ Nguyên Giáp là cả khi khỏe mạnh hay đau yếu, ông vẫn hướng tới việc chung, vì sự nghiệp đổi mới, sáng tạo của đất nước. Khi sức khỏe không còn đủ để đến tham dự các lễ trao giải, tôn vinh nhà khoa học, Đại tướng vẫn dõi theo; các thành viên trong Quỹ và Liên hiệp Hội Việt Nam vẫn đến gặp Đại tướng để báo cáo và nghe chỉ đạo.
Phụ nữ VUSTA: Tự tin tỏa sáng và làm chủ hạnh phúc
Sáng ngày 20/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã tổ chức đã tổ chức Chương trình chúc mừng Ngày Phụ nữ Việt Nam 20/10. Sự kiện là dịp tôn vinh nét đẹp của đội ngũ nữ cán bộ, người lao động VUSTA, đồng thời lan tỏa những thông điệp truyền cảm hứng về hành trình tự tin, hạnh phúc của phụ nữ.
Viện Chính sách, Pháp luật và Quản lý mở Chuyên mục “Tư vấn Chính sách-Pháp luật” trên Tạp chí điện tử Việt Nam Hội nhập
Từ ngày 01/11, Viện Chính sách, Pháp luật và Quản lý phối hợp với Tạp chí Việt Nam Hội nhập chính thức triển khai chuyên mục “Tư vấn Chính sách - Pháp luật” trên Tạp chí điện tử Việt Nam Hội nhập, nhằm tăng cường kết nối giữa hoạt động nghiên cứu, phổ biến kiến thức chính sách, pháp luật với yêu cầu thực tiễn của đời sống, hoạt động sản xuất, kinh doanh và quản lý xã hội.
Bắc Ninh: 40 mô hình, sản phẩm đoạt giải Cuộc thi năm 2026
Sáng ngày 17/10, tại Trung tâm hội nghị thành phố diễn ra Lễ tổng kết và trao giải Cuộc thi Sáng tạo thanh thiếu niên, nhi đồng thành phố Bắc Ninh năm 2026; phát động Cuộc thi năm 2027. Cuộc thi do Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố phối hợp cùng Thành đoàn, các Sở: Giáo dục và Đào tạo; Khoa học và Công nghệ; Tài chính; Báo và Phát thanh, Truyền hình thành phố tổ chức.