Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ hai, 04/02/2008 17:15 (GMT+7)

Hiểu biết cơ bản về cây chè đắng

1  Nguồn gốc và giá trị kinh tế của cây chè đắng


Chè đắng có tên khoa học là Ilex latifoliaThumb thuộc họ nhựa ruồi.


Chè đắng có nguồn gốc từ Lưỡng Quảng và Bắc Việt, trong "" Đông quân lục"" có ghi rằng: Phương Nam có cây Qua lô, Trà diệc tự, ... Quảng giao có nhiều nhất, qua tìm hiểu cho thấy: cây Qua lô là cây chè đắng, Quảng giao là hai vùng Lưỡng quảng và Bắc Việt. Chè đắng Vạn Thừa huyện Đại tân sớm nổi danh, trở thành cống phẩm, xưa nay đều coi là thức uống quý có giá trị. Đời nhà Thanh: 0.5 kg chè đắng có thể bán với giá 1.280 đồng. Năm 1993 1 kg lá chè bán được trên dưới 800 NDT, 1 kg hạt giống thuần có trị giá ít nhất là 1,2 vạn NDT. Sản phẩm được tiêu thụ ở trong khu và bên ngoài, tại một số nơi ở Đông nam Á như Đài loan, Hương cảng, Xinh ga po, Malaixia ... và một số quốc gia khác sẵn sàng tiêu thụ.

Chè đắng còn gọi là chè lá to hoặc cây nhựa ruồi lá to, tại vùng nguyên sản là huyện Đại Tân (thôn Ku đinh xã Long môn), cây chè đắng còn gọi là chè Phú đinh hoặc chè Đăng, người xưa còn gọi là chè Cao lô. Xinh ga po, Malaixia gọi là ""Vương trà"", Đài loan gọi là ""Nhất diệp thanh", Nhật bản gọi là cây ""Đala". Gần đây giáo sư Tăng Luân Giang ở Trường đại học Hạ Môn đặt tên là "Chè đắng nhựa ruồi" là căn cứ vào kiểm định tiêu bản thu thập được ở huyện Đại Tân năm 1981.


Chè đắng phân bố chủ yếu ở Quảng Tây, đặc biệt là ở huyện Đại Tân. Theo điều tra ở huyện Đại Tân có 23 cây chè đắng, cây lớn nhất đường kính 79cm, cao 29m. Ngoài ra còn thấy ở Long Châu, Long An, Mã Sơn, Thượng Lâm, Huyện Cách ... và một số huyện của Quảng Đông cũng có nhiều cây mọc rải rác. Hạt chè đắng thuộc loại có thời gian ngủ dài, tương đối khó nẩy mầm, trong điều kiện tự nhiên mọc thành cây cực kỳ ít, gần như bị tuyệt tích.


Tại Việt Nam , cây phân bố ở các tỉnh miền núi phía Bắc như Lạng Sơn, Cao Bằng... hiện nay vẫn còn một số cây mọc tự nhiên trong rừng có đường kính đến 60 -70 cm.


Tại Trung Quốc, cây Chè đắng trở thành một sản phẩm hấp dẫn của huyện Đại Tân, giống chè, cây chè non được bán đến tận Quảng Đông, Hồ Nam, An Huy, Triết Giang, và đảo Hải Nam ...


Tháng 7 năm 1993 Trung quốc tham gia triển lãm sản phẩm và phát minh mới tại Mỹ và dành được 19 huy chương vàng, trong đó Đại học Nông nghiệp Hồ Nam giành được 4 huy chương cho: Nhi trà tố, Trà đa phân, Liên dung trà và công trình ươm giống chè đắng.


Tại Việt Nam, mấy năm gần đây nhu cầu của người tiêu dùng cũng bắt đầu tăng cao, giá lá Chè đắng tươi bán ở Cao Bằng là 7.000 - 10.000 đ/kg và giá chè khô ở Lạng Sơn là 70.000 - 100.000 đ/kg.


Tác dụng làm thuốc của chè đắng


Trong chè đắng bao gồm nhiều chất hoá học: chất đa lượng, chất vô cơ có ích và nguyên tố vi lượng ... kết quả phân tích thành phần hoá học của chè đắng do Trường đại học nông lâm Triết Giang thực hiện năm 1991: trong lá tươi có 16 loại axit amin, trong đó Histidine là chính, nó chiếm 55,92% tổng lượng axit amin ...


Chè đắng có nhiều chất có ích cho cơ thể con người, có tác dụng chủ yếu là tăng trao đổi chất, nó có quan hệ mật thiết với dinh dưỡng của cơ thể . Vì vậy còn gọi là chè đắng là Thọ trà, Mỹ dung trà.


Chè đắng trong tự nhiên mọc rải rác. Ngày xưa chè đắng chủ yếu dùng làm thuốc, ở vùng núi Quảng Tây vẫn giữ được tên cổ chè đắng là Chè đăng, Chè khâm. Tại huyện Đại Tân, chè đắng ngoài việc dùng để uống còn dùng làm thuốc để trị bệnh kiết lỵ, tiêu hoả, giải độc, sát khuẩn, ăn không tiêu, rửa vết thương, thanh nhiệt giải khát, hạ mỡ máu, hạ huyết áp, chống lão suy, chống bức xạ ... chè đắng dùng làm bồi bổ hay trị bệnh đều không có tác dụng phụ, nam nữ già trẻ đều hợp.


Cách phân biệt thật - giả


Chè đắng là một thức uống quí, giá trị làm thuốc tương đối cao, thị trường rộng, giá cao. Cây chè đắng yêu cầu ngày một nhiều. Từ năm 1992, ngay tại huyện Đại Tân, vùng nguyên sản của chè đắng, đã có không ít cây chè đắng giả, làm giả thật lẫn lộn ... Thương khách ở xa đến không sợ giá cao chỉ cần đúng giống.

Cách phân biệt như sau:

• Cây non lá mầm nhiều, có mầu xanh nhạt, cành non hình tròn không gờ.

• Phiến là dày ròn, mặt trên lá xanh thẫm, bóng. Mặt dưới lá màu xanh nhạt. Gân chính nhìn nghiêng rõ. Mép lá có răng cưa ngắn, nhỏ.

• Cuống lá hình tròn, không có rãnh lòng máng, xé lá ra có sợi tơ. Lá chè sau khi cho vào nước sôi, nước chè có màu xanh vàng nhạt, lá từ màu đen chuyển sang xanh, sinh động như sống. Vị trước đắng sau ngọt, cuối cùng có vị ngọt thuần khiết.


2. Đặc tính sinh thái và đặc điểm sinh vật học


2.1. Đặc tính sinh thái học


Chè đắng thích sống ở nơi ấm, ẩm, đất tốt, tơi xốp, tầng dầy sâu. Nó là cây chịu ẩm, thích bóng râm. Sinh trưởng thích hợp với điều kiện: pH đất từ 4,5 - 8,5, độ cao so với mặt nước biển từ 200-600m, từ 106,45 - 108,32 kinh độ đông và 22,06 - 23,50 vĩ độ bắc. Nhiệt độ trung bình ngày trên 21 0C, tổng tích ôn năm là 7000 0C, chịu được nhiệt độ tối thấp đến - 3 0C, lượng mưa bình quân năm từ 1.364mm. Cây non 1 năm ra mầm 3-6 lần, cây trung bình già tuổi chỉ ra mầm 2 lần/năm. Mầm đông nảy trước sau Tiểu tuyết.


2.2. Đặc điểm sinh vật học


Chè đắng là cây cao, độ cao đạt đến 20-30m, thường xanh, cây thẳng, thân hình chuỳ tròn, vỏ màu tro. Chạc cây mọc không theo quy tắc, cành hình tròn, lá đơn mọc cách, lá dày, ròn. Cuống lá thô ngắn hình tròn, không rãnh, dài từ 15-20mm. Phiến lá dài 15-20cm, cây non phiến lá dài hơn, tối đa có thể đến 35cm. Mặt trên lá sáng bóng, rộng 10cm, nặng 10,6 gam. Mép lá có răng cưa, đỉnh nhọn. Hoa mọc ở nách lá cành năm trước, hoa có đường kính khoảng 1cm, màu vàng. Nhiều hoa xếp thành hoa tự giả hình chuỳ tròn. Đực cái cùng gốc, đực cái cùng hoa. Mỗi chùm có từ 30-130 hoa, có 4 đài, 4 cánh, 4 nhị đực ... Nhị đực dài 2-3 mm, mọc ở giữa hai cánh hoa, nhị cái đầu tròn, nằm giữa 4 cánh hoa. Phấn hoa mắt thường có thể nhìn thấy.


Chè đắng nở hoa vào tháng 2, 3, hoa nở khoảng 100 ngày. Quả mọng nước, quả hạch hình cầu, đường kính 8-12mm. Tháng 8-9 khi quả chuyển từ màu xanh sang màu đỏ tím là chín. Chùm quả dài 15-18cm, mỗi chùm thường có 4-10 quả, nhiều thì đến 50-76 quả, trong quả có 4-5 hạt, hạt hình cái lược, nổi nên 3 gờ, dài khoảng 6mm, đường kính 3-5mm, lưng có nếp nhăn. Hạt cứng, nhiều hạt .

Theo kết quả thực nghiệm của Lâm trường Tiểu Minh Sơn thì độ chắc (đầy đặn) của hạt chè đắng rất thấp, lấy 1 kg quả chín bóc tách, đổ vào nước kết quả là: vỏ quả, thịt qủa, chất cặn (vụn) chiếm tới 71,6%, hạt lép nổi trên mặt nước chiếm 14,8%, hạt chắc chìm xuống chỉ còn 13,6%. Trọng lượng 1.000 hạt là 67,6-70,6gram, 1 kg quả tươi chỉ có 884.068 hạt, 1 kg hạt giống thuần có trên 2,2 vạn hạt. Do hạt chè đắng có thời gian ngủ nghỉ tương đối dài, nên tỷ lệ nảy mầm, khả năng bảo tồn cao hay thấp là do kỹ thuật bảo quản và xử lý hạt giống quyết định.


Theo số liệu của vườn ươm thực nghiệm chè đắng của Lâm trường Tiểu Minh Sơn huyện Đại Tân, Chè đắng trồng từ trước năm 1982 đến nay đã hơn 10 năm, có trồng thực sinh, giâm cành, ghép ... đến nay cây cao 5-10m, cây 8-12 năm tuổi. Năm 1988 đã bắt đầu ra hoa, kết quả, gần đây mỗi năm thu được khoảng 50 - 100kg quả.


Nguồn: dof.mard.gov.vn

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Thủ tướng Lê Minh Hưng lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Philippines
Nhận lời mời của Tổng thống nước Cộng hòa Philippines Ferdinand Romualdez Marcos Jr, Chủ tịch ASEAN năm 2026, ngày 7/5, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Lê Minh Hưng dẫn đầu Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Cebu, Philippines từ ngày 7 đến 8/5/2026.
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam: Điểm tựa khoa học công nghệ gắn với chuyển đổi số quốc gia
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam với gần 40 năm phát triển đang thể hiện rõ vai trò tổ tổ chức xã hội - nghề nghiệp uy tín trong lĩnh vực vô tuyến, điện tử, viễn thông, công nghệ thông tin đồng thời đóng góp thực chất vào tiến trình chuyển đổi số quốc gia theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Đầu tư khoa học công nghệ giải quyết điểm nghẽn của ngành Thủy sản Việt Nam
Phát biểu tại Hội nghị khoa học công nghệ thủy sản và kiểm ngư toàn quốc năm 2026, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến đã nhấn mạnh sự cần thiết của đổi mới sáng tạo khoa học công nghệ trong giải quyết điểm nghẽn về logistics, môi trường, nâng cao sức cạnh tranh của ngành Thủy sản trong nước.
Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng nhận danh hiệu Giáo sư danh dự Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga
Sáng 30/4/2026, tại Trường Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga (MPEI), TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã vinh dự đón nhận danh hiệu Giáo sư danh dự của MPEI. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng là công dân đầu tiên của Việt Nam được trao tặng danh hiệu Giáo sư tại MPEI, đứng trong bảng danh dự cùng với các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới.
51 năm thống nhất đất nước: Khơi thông nguồn lực tri thức trong kỷ nguyên mới
Thông tấn xã Việt Nam giới thiệu bài phỏng vấn với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) về vai trò của lực lượng trí thức và những giải pháp đột phá để hiện thực hóa khát vọng hùng cường vào năm 2030 và 2045.