Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ năm, 06/05/2010 00:21 (GMT+7)

Công trình ngầm và những vấn đề quản lý có liên quan

1. Những thách thức cơ bản trong việc sử dụng không gian ngầm để xây dựng các công trình ngầm tại các đô thị

Trong xây dựng, cải tạo và phát triển đô thị, đặc biệt đối với các đô thị lớn luôn luôn phải có sự kết hợp chặt chẽ và hữu cơ giữa các công trình trên mặt đất và công trình được xây dựng dưới mặt đất. Việc sử dụng không gian ngầm để xây dựng các công trình ngầm có nhiều lợi thế nhưng cũng không ít thách thức cần phải được cân nhắc khi lựa chọn:

- Đầu tư ban đầu lớn, khả năng thu hồi vốn lâu dài, độ rủi ro cao trong quá trình xây dựng, thường bị chậm tiến độ, phần lớn tăng chi phí đầu tư so với dự kiến ban đầu;

- Khi tiến hành đào hầm thì đất đã bị thay đổi vĩnh viễn. Việc dỡ bỏ các công trình ngầm không dễ dàng như đối với các công trình trên mặt đất;

- Các vấn đề an toàn sinh mạng cho con người như thông hơi, chiếu sáng, chống ngập, thoát nước, cấp nước, phòng chống cháy nổ, khí độc…

- Những tác động tới môi trường trong quá trình xây dựng, khai thác, vận hành và những sự cố công trình hay sự cố môi trường có thể xảy ra là những thách thức không nhỏ;

- Đòi hỏi tính kỹ thuật, công nghệ, trình độ và năng lực chuyên nghiệp cao;

- Đòi hỏi một hệ thống các quy chuẩn, tiêu chuẩn có liên quan đến các quy hoạch, quản lý xây dựng, thi công xây dựng, nghiệm thu và bảo trì công trình ngầm trong đô thị và các quy định cụ thể về quản lý, vận hành, khai thác và sử dụng công trình ngầm.

Kinh nghiệm và bài học trong xây dựng ở các đô thị lớn trên thế giới đều hướng tới việc tìm cách khai thác triệt để không gian ngầm với nhiều mục đích khác nhau. Tuy nhiên do điều kiện kinh tế, công nghiệp, kinh nghiệm đặc biệt ở Việt Nam, hầu hết các đô thị cũ đang trong quá trình cải tạo, công tác quản lý còn nhiều yếu kém, việc lựa chọn công trình nào để xây dựng ngầm và xây dựng ở đâu, quy mô ra sao phải được cân nhắc và thận trọng.

2. Các loại công trình ngầm và quản lý việc xây dựng các công trình tại các đô thị ở Việt Nam

Theo Luật Quy hoạch Đô thị thì không gian ngầm là không gian dưới mặt đất được quy hoạch để sử dụng cho mục đích xây dựng công trình ngầm đô thị.

Theo Nghị định 41/2007/NĐ-CP thì công trình ngầm là những công trình được xây dựng dưới đất tại đô thị. Qua nghiên cứu và trong thực tế triển khai thì công trình ngầm trong đô thị có thể phân thành các nhóm công trình như sau:

a. Công trình hạ tầng kỹ thuật ngầm bao gồm các công trình đường ốngcấp nước, thoát nước, cấp nhiệt, khí và công trình đường dâycấp điện, thông tin liên lạc, cáp quang…

b. Công trình giao thông ngầm đô thị bao gồm: Hầm giao thông (hầm đường ô tô, hầm đường sắt đô thị – tàu điện ngầm, hầm cho người đi bộ), nhà ga, bến, bãi đỗ xe, các công trình phục vụ giao thông khác có liên quan.

c. Công trình công cộng ngầm ( Tổ hợp công trình ngầm đa năng)bao gồm các công trình văn hoá, thể thao, thương mại, dịch vụ, văn phòng có thể kết hợp bãi đỗ xe, ga tàu điện ngầm với các dịch vụ này…

d. Phần ngầm của các công trình xây dựng.

Ngoài ra còn có một số công trình ngầm như kho chứa, bể chứa ngầm…

Thực trạng về xây dựng và quản lý các công trình ngầm tại các đô thị:

- Công trình hạ tầng kỹ thuật ngầm:Các đường dây, đường ống ngầm thường được đặt sâu dưới đất không quá 3m và bố trí riêng rẽ với các độ sâu khác nhau. Các đô thị cũ không bố trí các đường dây, đường ống trong hộp kỹ thuật hoặc tuy nen. Mỗi công trình (cấp nước, điện, thông tin…) được quản lý bởi nhiều cơ quan khác nhau – và hầu hết các đô thị chưa lập được bản đồ hiện trạng tổng hợp các công trình hạ tầng kỹ thuật ngầm. Các khu đô thị mới hoặc đô thị mới đã quan tâm đến bố trí các loại công trình này dưới đất nhưng hầu như không tập trung trong các hộp kỹ thuật mà phần lớn vẫn bố trí riêng rẽ. Hiện nay Hà Nội đang thực hiện dự án hạ ngầm đường dây thông tin, cáp điện ở một số tuyến phố chính với chi phí rất lớn. Tuy nhiên đây mới chỉ là giải pháp tình thế bởi vì đơn giản là chôn xuống đấttrong một ống gọi là cống hay bể ngầm để mừng 1000 năm Thăng Long… chứ không thực hiện bài bản là xây hộp kỹ thuật lắp đặt đồng bộ toàn bộ các đường dây này. Tại thành phố Hồ Chí Minh. nhiều tuyến cáp điện đã bố trí ngầm song mới đơn ngành quản lý và sử dụng chưa mang tính đa ngành… Thực trạng bố trí các công trình hạ tầng kỹ thuật như trên đã, đang và vẫn gây ảnh hưởng không nhỏ tới quá trình triển khai thi công, xây dựng và cải tạo nhiều công trình đặc biệt là các công trình giao thông tại các đô thị và hiện tượng đào lên rồi lấp xuống vẫn sẽ còn diễn ra.

- Công trình giao thông ngầm:Hầm cho người đi bộ đã được xây dựng tại Hà Nội tuy nhiên mới đảm nhận chức năng giao thông là chính chưa gắn nhiều với mục đích sử dụng công cộng. Mặt khác chế tài xử phạt người đi bộ qua đường ở những nơi đã có hầm cho người đi bộ chưa nghiêm nên việc sử dụng, khai thác các hầm này còn nhiều hạn chế không an toàn, an ninh và hầm vắng khách. Hầm đường ô tô trong đô thị mới được xây dựng ở Hà Nội tại trước cổng Trung tâm Hội nghị Quốc gia đang hoạt động, hầm tại nút giao Kim Liên – Lê Duẩn… mới thông xe kỹ thuật, tuy nhiên nhiều công trình đi kèm vẫn còn đang thi công và thời gian thi công lại kéo dài ảnh hưởng rất lớn đến giao thông đi lại và sinh hoạt của cộng đồng dân cư tại khu vực này. Hiện nay Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh đang lập dự án xây dựng tàu điện ngầm song tiến độ triển khai quá chậm. Mặt khác cũng tại 2 thành phố này đang chuẩn bị xây dựng bãi đỗ xe ngầm, tuy nhiên do chưa có quy hoạch cụ thể nên việc lựa chọn địa điểm xây dựng còn gặp nhiều khó khăn hoặc không lường hết được các trở ngại có thể xảy ra, nên lúc cho phép đầu tư xây dựng, lúc thu hồi giấy phép lại gây nản lòng các nhà đầu tư.

- Phần ngầm của các công trình xây dựng:Hiện nay hầu hết các nhà cao tầng đều xây dựng các tầng hầm và cũng nhiều toà nhà này có chiều sâu móng lên tới 50-60m. Tuy nhiên việc quản lý đồng bộ chưa được thực hiện mà mới chỉ quản theo hồ sơ đơn chiếc cùng với giấy phép xây dựng. Việc tổng hợp mang tính hệ thống các phần ngầm này cần phải được thực hiện trên bản đồ để thuận lợi cho việc quản lý và thực hiện cho phép xây dựng tiếp theo. Trong thời gian vừa qua nhiều quy hoạch chi tiết một tuyến phố hay một khu vực được phê duyệt và công bố nhưng bản đồ hiện trạng xây dựng kiến trúc và giao thông hoặc sử dụng đất chưa làm rõ được công trình xây dựng có tầng hầm mà ở trên bản đồ này phải thể hiện quy mô, vị trí phần ngầm cùng với chiều sâu móng, số tầng hầm đã xây dựng…

3. Quy hoạch không gian ngầm để xây dựng công trình trong đô thị

Quy hoạch không gian ngầm là một nội dung của quy hoạch xây dựng đô thị. Khi lập quy hoạch xây dựng đô thị phải căn cứ vào nhu cầu phát triển của thành phố để quy hoạch không gian ngầm. Xây dựng các công trình ngầm trong đô thị cần phải tiến hành một cách tổng thể và có quy hoạch, đảm bảo sự khớp nối giữa công trình trên mặt đất và dưới mặt đất thành một thể thống nhất.

Mô hình xây dựng tầu điện ngầm ở HN trong tương lai

Trong quy hoạch xây dựng đô thị, các phương án về cơ cấu của đô thị, tổ chức phân khu chức năng chính cần phải kết hợp xác định các khu vực dự kiến bố trí côngtrình ngầm (vùng chức năng không gian ngầm) và hướng sử dụng không gian ngầm theo các nguyên tắc ưu tiên tại trung tâm chính đô thị và các khu vực, các vùng dân cư tập trung và dọc các trục đường phốchính cấp đô thị.

Quy hoạch không gian ngầm phải chú ý tới bảo vệ và cải thiện môi trường đô thị, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả về đất xây dựng, phải căn cứ vào đặc điểm địa hình, địa mạo, điều kiện địa chất công trình, địa chất thuỷ văn, vị thế và giá trị của công trình kiến trúc hiện hữu bên trên cũng như mạng lưới các công trình hạ tầng kỹ thuật ngầm sẵn có ở dưới… để đảm bảo an toàn và thuận lợi cho mọi điều kiện sinh hoạt của người dân.

Quy hoạch không gian ngầm bao gồm những nội dung cơ bản như sau:

a. Phân tích, đánh giá các điều kiện tự nhiên, địa chất công trình, địa chất thuỷ văn; hiện trạng về xây dựng công trình; công trình hạ tầng kỹ thuật ngầm;

b. Phân tích, đánh giá về quy hoạch xây dựng và tình hình xây dựng theo quy hoạch;

c. Trên cơ sở định hướng phát triển của đô thị cũng như dự kiến các vị trí, phạm vi, quy mô các khu chức năng của đô thị, dự báo nhu cầu phát triển và sử dụng không gian ngầm.

d. Dự kiến các khu vực xây dựng các công trình ngầm cũng như đề xuất các giải pháp khớp nỗi giữa chúng với nhau theo chiều đứng, chiều ngang và với các công trình trên mặt đất (bố trí công trình đường dây, đường ống, các tuyến đường tàu điện ngầm, các đầu mối giao thông, các công trình công cộng ngầm).

e. Dự kiến các hạng mục ưu tiên và các nguồn lực để thực hiện

Tuy nhiên trong quy hoạch xây dựng đô thị thì nội dung của giai đoạn quy hoạch chung khác với quy hoạch chi tiết, do vậy trong quy hoạch chung cần làm rõ:

- Trên cơ sở phân vùng chức năng trên mặt đất, cần kết hợp dự kiến phân vùng chức năng để xây dựng công trình ngầm: khu vực xây dựng cao tầng; các khu vực công cộng kết hợp ngầm… (phạm vi, ranh giới, quy mô, chiều sâu…).

-Quy hoạch hệ thống giao thông trên mặt đất cần kết hợp bố trí các tuyến tàu điện ngầm dưới các tuyến phố chính cấp đô thị với các ga tàu điện ngầm, bãi đỗ xe.

-Các công trình hạ tầng kỹ thuật cần bố trí trong các hào hoặc tuy nen trên các trục chính đến cấp khu vực.

- Xác định vị trí các đầu mối chính về công trình ngầm.

Đối với quy hoạch chi tiết đòi hỏi kỹ hơn bao gồm:

- Đánh giá hiện trạng để lập bản đồ hiện trạng: trong bản đồ này không chỉ thể hiện các công trình trên mặt đất mà phải thể hiện hiện trạng các công trình xây dựng dưới mặt đất: vị trí, quy mô các công trình kiến trúc có sử dụng không gian ngầm (phạm vi, ranh giới, quy mô tầng ngầm, chiều sâu công trình…), vị trí quy mô các công trình đứng độc lập; các công trình đường dây, đường ống; độ sâu chôn ống, khoảng cách đến các công trình, các đầu mối chính.

- Trong các giải pháp thiết kế cần xác định rõ các khu vực dự kiến xây dựng mới, cải tạo các công trình có tầng hầm; các khu vực dự kiến xây dựng công trình ngầm (ga, bãi đỗ xe, các công trình công cộng ngầm đa năng, hầm cho người đi bộ, hầm đường ô tô, tuyến tầu điện ngầm và các tuyến hạ tầng kỹ thuật – bố trí trong các hộp kỹ thuật hoặc tuy nen…). Cần mô tả mặt cắt đứng sử dụng không gian ngầm.

4. Quyền sử dụng đất để xây dựng công trình ngầm và các vấn đề khác có liên quan

Các nước Tây Âu không có khái niệm sử dụng đất mà là sở hữu đất, nhiều văn bản quy phạm pháp luật họ có quy định cụ thể. Tại Pháp: quyền sở hữu đất bao gồm cả trên mặt đất và dưới mặt đất. Tại Thuỵ Sỹ: quyền sở hữu đất bao gồm cả trên không và dưới lòng đất nếu việc sử dụng mảnh đất có lợi. Tại Canada hay Nhật Bản: quyền sở hữu đất đi cùng với quyền sở hữu những thứ tồn tại trên và dưới mặt đất.

Theo Luật Đất đai năm 2003 có quy định: người sử dụng đất có nghĩa vụ sử dụng đất đúng mục đích, đúng ranh giới, đúng quy định về sử dụng độ sâu trong lòng đất… Bảo vệ các công trình công cộng trong lòng đất, theo các quy định khác của pháp luật. Các loại giấy tờ chứng nhận quyền sử dụng đất không có quy định về sử dụng không gian dưới mặt đất. Cho đến nay đa số các quy định mới chỉ điều chỉnh những hoạt động trên mặt đất là chủ yếu.

Một số vấn đề cần được tiếp tục nghiên cứu

(i) Quyền sử dụng đất đến đâu, quan hệ giữa người sử dụng trên mặt đất và quyền sử dụng dưới mặt đất như thế nào? Khi xây dựng công trình ngầm có liên quan đến đất đã được cấp quyền sử dụng thì trách nhiệm bên sử dụng và bên có công trình như thế nào? Sử dụng đất – không gian dưới đất lựa chọn theo hình thức nào? (Giao đất, thuê đất, thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất)?

(ii) Quyền sở hữu công trình ngầm liên quan đến giấy tờ quyền sử dụng đất?

(iii) Các quy định có liên quan đến phạm vi bảo vệ và hành lang an toàn công trình ngầm? Chỉ giới xây dựng ngầm và chỉ giới xây dựng trên mặt đất; Ranh giới thửa đất trên mặt đất và dưới mặt đất… mối quan hệ và được quy định như thế nào?

(iv) Các quy chuẩn về xây dựng ngầm; các tiêu chuẩn về tuy nen, hào kỹ thuật (trong đó phải làm rõ việc sắp đặt, bố trí các đường dây, đường ống cụ thể vị trí, khoảng cách theo chiều đứng và chiều ngang…).

(v) Xây dựng tuy nen, hào kỹ thuật: Ai xây dựng, quyền lợi của họ như thế nào? Các bên tham gia sử dụng, khai thác phải có trách nhiệm gì?

(vi) Cơ chế chính sách đối với các nhà đầu tư xây dựng công trình ngầm phục vụ mục đích công cộng.

(vii) Các nghiên cứu có liên quan đến phí hạ tầng, phí sử dụng chung trong hào và tuy nen kỹ thuật.

(viii) Lập bản đồ hiện trạng công trình ngầm trong đô thị (vị trí, độ sâu các công trình hạ tầng kỹ thuật; vị trí, số tầng hầm và độ sâu tầng hầm, độ sâu móng công trình; vị trí, quy mô hầm cho người đi bộ, hầm đường ô tô…). Trong điều chỉnh quy hoạch chung xây dựng các thành phố phải có nội dung về quy hoạch không gian ngầm (vị trí quy mô bãi đỗ xe ngầm; đường sắt đô thị; hào, tuy nen kỹ thuật, các công trình hạ tầng kỹ thuật…

5. Kết luận

Quá trình xây dựng và phát triển đô thị trên thế giới đều quan tâm đến sử dụng không gian ngầm. Việc sử dụng không gian ngầm và xây dựng công trình ngầm là nhu cầu thực tế của các đô thị Việt Nam. Theo tư duy mới thì một số thị được coi là mẫu mực sẽ là đô thị với hệ thống văn phòng, công sở, cửa hàng… hệ thống giao thông huyết mạch nằm toàn bộ dưới lòng đất trả lại mặt bằng bên trên là các công viên, cây xanh và các khu vực vui chơi giải trí.

Nhiều vấn đề đang đặt ra đối với các nhà nghiên cứu, tư vấn, quản lý, đầu tư xây dựng.   

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Liên hiệp Hội Việt Nam chủ trì tổ chức họp các đoàn dự Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ XI
Căn cứ Thông tri số 10/TT-MTTQ-UB của Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam về việc triệu tập đại biểu dự Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ XI, với vai trò là Trưởng các Đoàn của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức Liên hiệp, Liên hiệp Hội Việt Nam đã chủ trì tổ chức họp các đoàn để triển khai thực hiện thông tri của MTTQ Việt Nam.
Thủ tướng Lê Minh Hưng lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Philippines
Nhận lời mời của Tổng thống nước Cộng hòa Philippines Ferdinand Romualdez Marcos Jr, Chủ tịch ASEAN năm 2026, ngày 7/5, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Lê Minh Hưng dẫn đầu Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Cebu, Philippines từ ngày 7 đến 8/5/2026.
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam: Điểm tựa khoa học công nghệ gắn với chuyển đổi số quốc gia
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam với gần 40 năm phát triển đang thể hiện rõ vai trò tổ tổ chức xã hội - nghề nghiệp uy tín trong lĩnh vực vô tuyến, điện tử, viễn thông, công nghệ thông tin đồng thời đóng góp thực chất vào tiến trình chuyển đổi số quốc gia theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Đầu tư khoa học công nghệ giải quyết điểm nghẽn của ngành Thủy sản Việt Nam
Phát biểu tại Hội nghị khoa học công nghệ thủy sản và kiểm ngư toàn quốc năm 2026, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến đã nhấn mạnh sự cần thiết của đổi mới sáng tạo khoa học công nghệ trong giải quyết điểm nghẽn về logistics, môi trường, nâng cao sức cạnh tranh của ngành Thủy sản trong nước.
Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng nhận danh hiệu Giáo sư danh dự Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga
Sáng 30/4/2026, tại Trường Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga (MPEI), TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã vinh dự đón nhận danh hiệu Giáo sư danh dự của MPEI. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng là công dân đầu tiên của Việt Nam được trao tặng danh hiệu Giáo sư tại MPEI, đứng trong bảng danh dự cùng với các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới.
51 năm thống nhất đất nước: Khơi thông nguồn lực tri thức trong kỷ nguyên mới
Thông tấn xã Việt Nam giới thiệu bài phỏng vấn với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) về vai trò của lực lượng trí thức và những giải pháp đột phá để hiện thực hóa khát vọng hùng cường vào năm 2030 và 2045.