Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ tư, 13/02/2008 23:05 (GMT+7)

Cồng chiêng Tây Nguyên

Tiếng cồng chiêng trong lễ “thổi tai” cho đứa trẻ lọt lòng có ý nghĩa công nhận chính thức, kết nạp thêm một thành viên nữa vào cộng đồng, có nghĩa vụ và quyền lợi như mọi người. Khi đến tuổi thành niên, lấy vợ, lấy chồng, tiếng chiêng trong lễ “trao vòng” (lễ cưới) có ý nghĩa như lời nhắc nhở, dặn dò đôi trai gái phải tuân thủ những truyền thống của cha ông. Tiếng chiêng ấy có ý nghĩa sâu sắc ít khi được nhắc lại trong một đời người.

Tiếng chiêng thúc giục khi có chiến tranh giữa các sắc tộc, hay khi có thú dữ về phá hoại nương rẫy. Đó là sự thôi thúc trai tráng phải quên mình vì sự sống còn của cộng đồng. Khi thắng trận trở về, tiếng chiêng trong lễ đâm trâu lại dồn dập, tưng bừng. Đó là lễ ăn mừng chiến thắng. Dân làng đổ về nơi tụ hội, cùng góp rượu thịt, góp tài năng để biểu hiện sự hân hoan.

Tiếng chiêng chậm chạp, u hoài, ảm đạm, nặng nề báo tin trong dòng họ có người qua đời. Nỗi đau được chia sẻ theo chiều dài vang vọng của tiếng chiêng, gửi tâm tình bay qua chín núi mười sông. Qua tiếng chiêng mọi người xích lại gần nhau hơn, nhắc nhở đoàn kết, thương yêu, vượt qua những khó khăn.

Nhiều khi quanh bếp lửa, giữa những ghè rượu no tròn, cần vút cong, lúa đầy bồ, bắp treo chật bếp, thịt rừng thơm phức, rạng rỡ những khuôn mặt mọi người. Đó là lúc tiếng chiêng ấm áp không gian trong đêm ning nơng ( nghỉ ngơi). Dưới trời trăng sáng trai gái quây quần múa hát, tỏ tình. Những đêm hội tụ ở nhà rông, tiếng chiêng tràn ngập cả núi rừng, vang vọng chín núi, mười sông, gọi trai làng về nhà rông tụ hội. Đến khi từ giã cõi đời, tiếng chiêng vẫn vang vọng tiễn đưa, mãi đến khi sau lễ “bỏ ma” (pơthi), người đời mới thực sự quên.

Cái cồng, con chiêng đã ăn ở với con người đời đời kiếp kiếp. Tiếng cồng chiêng thể hiện đầy đủ tâm tư, tình cảm mộc mạc, chất phác, vui mừng, buồn đau, yêu thương, căm giận của mỗi con người. Cồng chiêng đã đi vào đời sống, vào cuộc đấu tranh sinh tồn và phát triển của đồng bào Tây Nguyên. Tiếng cồng chiêng đã xuyên suốt cuộc đời người, thật sự là linh hồn, là xương, là thịt của mọi thành viên trong tất cả cộng đồng.

Đồng bào Tây Nguyên quan niệm rằng: cuộc sống luôn có hai thế giới sống, chết cùng song song tồn tại. Đó là cuộc sống thực sự mà họ đang sống và cuộc sống của các vị thần linh. Chính vì vậy, cồng chiêng là ngôn ngữ của con người giao tiếp với thế giới siêu nhân. Trong tất cả các phong tục tập quán, cồng chiêng đã giữ một vai trò cực kỳ quan trọng, như chế độ nhà dài, chế độ già làng, nhà rông, việc cưới hỏi, ma chay, lễ bỏ mả, phạt vạ, ma lai,... đến các ngày lễ hội, như lễ sắm rang đầu năm, lễ ăn cơm mới, lễ thần đất, thần núi, thần sông, thần trời, lễ chúc sức khoẻ, lễ đâm trâu, thần cây đa, tế Yang.... là những biểu hiện sống động cho sự gắn bó giữa nghệ thuật với cuộc sống.

Nếu xét về mặt nghệ thuật âm nhạc, trong các lễ hội, cồng chiêng giữ vai trò trụ cột. Thông qua độ vang tiết tấu, âm sắc của cồng chiêng, mọi tâm tư, tình cảm được thể hiện và thông hiểu nhau hơn. Cồng chiêng chẳng những có giá trị về mặt nghệ thuật và phong tục tập quán xã hội... mà còn có giá trị kinh tế cao. Có những bộ chiêng trị giá 35 - 50 con trâu, là biểu hiện của sự giàu có, hùng mạnh và chiến thắng của các dân tộc Tây Nguyên.

Cồng chiêng có giá trị đặc biệt trong đời sống của các dân tộc Tây Nguyên và đã có lịch sử khá lâu đời. Lần giở lại những trang sử thi của các dân tộc Ê - đê, M’nông, Gia - rai, Ba - na... chúng ta sẽ thấy từ thời cổ đại người Tây Nguyên đã sử dụng cồng chiêng như một thứ bảo bối của dân tộc.

Về nguồn gốc của cồng chiêng, đến nay vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau. Câu hỏi “cồng chiêng ở Tây Nguyên có từ bao giờ? Được nhập từ nơi nào vào Tây Nguyên hay do chính đồng bào dân tộc đúc nên mà cho đến ngày nay nó vẫn được quy tụ tại vùng đất naà một cách phong phú đến thế?”.

Một số nhà nghiên cứu âm nhạc đã xác định cái nôi của cồng chiêng chính là ở Tây Nguyên. Qua nghiên cứu thực tế về tên các loại chiêng mà đồng bào vẫn dùng để gọi cho các bộ chiêng và các bài bản chiêng, chúng tôi thấy đồng bào các dân tộc thường gọi là chiêng Lào, chiêng Gioăn, (của người Kinh đúc), chiêng Kur.... Qua một số tên gọi như vậy, chúng tôi cho rằng: cồng chiêng phải do đồng bào dân tộc ở Tây Nguyên đúc nên. Một vấn đề quan trọng nữa là ở Tây Nguyên đồng bào các dân tộc còn đang ở nền văn minh nương rẫy, thì chưa có kỹ nghệ cao để đúc được chiêng.

Vậy cồng chiêng chỉ có thể được nhập từ nơi khác đến:

- Chiêng Lào: đã được đưa từ Lào sang, có người còn cho rằng chiêng Lào thực ra đã được đúc từ Myanma, qua con đường trao đổi, buôn bán đã đến Tây Nguyên. Đây là loại chiêng rất quý được đúc bằng đồng có pha bạc, tiếng kêu to và vang xa.

- Chiêng Gioăn: do người Kinh đúc. Đây cũng là vấn đề còn được bàn luận khá sôi nổi. Tại sao người Kinh đúc chiêng mà lại không sử dụng? Có lẽ thuở bấy giờ người Kinh đã tìm thấy một thị trường lớn tiêu thụ cồng chiêng rồi sản xuất và đưa lên Tây Nguyên trao đổi, luôn bán.

- Chiêng Kur: được đưa từ Campuchia sang.

Nếu theo nhận định trên thì nguồn gốc của cồng chiêng Tây Nguyên đã tạm thời được xác định. Song một vấn đề mà nhiều nhà nghiên cứu còn tranh luận là: cái nôi của cồng chiêng ở đâu?

Giáo sư, Tiến sĩ âm nhạc Maxêđa ở Viện nghiên cứu âm nhạc Đông Nam Á năm 1983 về thăm Gia Lai - Kon Tum, khi tiếp xúc với cồng chiêng ở đây và bước đầu so sánh với cồng chiêng trong khu vực Đông Nam Á, đã đề xuất một luận điểm: “Dãy Trường Sơn có thể xem như cái nôi sản sinh và truyền bá toàn khu vực nền văn hoá âm nhạc độc đáo của cồng chiêng”.

Tỉnh Gia Lai, Kon Tum, Đăk Lắk cũng nằm trong khu vực này và theo thống kê bước đầu của các nhà nghiên cứu trong nước thì các dân tộc Ê - đê, Gia - rai, Ba - na còn bảo lưu được một lượng cồng chiêng lớn nhất so với các dân tộc khác: dân tộc M’nông ở Đăk Lăk, dân tộc Mạ, Stiêng ở Lâm Đồng, dân tộc Mường ở Hoà Bình, dân tộc Xơ Đăng, Giẻ Triêng, Brâu, Rơ Măm ở Kon Tum... cũng có những bộ cồng chiêng và những phong tục, sinh hoạt cồng chiêng lâu đời và phong phú.

Ngược dòng thời gian về mấy ngàn năm trước, qua hoa văn của trống đồng Đông Sơn, Ngọc Lũ nổi tiếng, ta cũng thấy khắc nổi những dàn cồng chiêng. Từ đó có thể kết luận là cồng chiêng đã ra đời nếu không trước trống đồng thì ít nhất cũng cùng với thời gian trống đồng xuất hiện.

Nhìn sang các nước láng giềng như Lào, Campuchia, Thái Lan, Myanma, Malaixia, Inđônêxia... chúng ta cũng đều thấy các dân tộc ở những nước này sử dụng cồng chiêng. Tuy hình thức sử dụng thang âm, điệu thức, phương pháp diễn tấu mỗi nơi mỗi khác, song nhìn chung đều có những yếu tố cơ bản giống nhau là được chế tác bằng đồng và có hình dáng, cấu trúc tương đối thống nhất.

Như vậy, cồng chiêng được phân bổ, bao trùm khắp cả vùng Đông Nam Á và duy nhất chỉ ở vùng này mới có cồng chiêng. Ở mọi địa danh và các trung tâm văn hoá lớn thế giới, cho đến nay chưa một nhà nghiên cứu nào phát hiện thấy dấu vết của cồng chiêng.

Tuy các vòng phân bổ cồng chiêng lan rộng cả vùng Đông Nam Á, nhưng sự hình thành những nhu cầu của một nền văn hóa bản địa ở Tây Nguyên nói chung đã quy tụ cồng chiêng và trở thành một đặc điểm điển hình. Chính đặc điểm điển hình ấy là nguồn ảnh hưởng rất quan trọng để cồng chiêng du nhập đến Tây Nguyên, tồn tại, định hình mãi đến ngày nay và trở thành nền âm nhạc bản địa chính thống. Sau này cho dù các trào lưu văn hoá phương Bắc, phương Tây luôn tìm đủ mọi cách để xâm nhập đến, nhưng nó vẫn luôn định hình và tồn tại....

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

GS.VS. Châu Văn Minh được trao tặng Huân chương Độc lập
Chiều ngày 3/4, tại Trụ sở Trung ương Đảng, Tổng Bí thư Tô Lâm đã chủ trì buổi Lễ trao tặng các danh hiệu cao quý của Đảng và Nhà nước. GS.VS. Châu Văn Minh, Ủy viên Trung ương Đảng khóa XIII, Bí thư Đảng ủy VUSTA đã được trao tặng Huân chương Độc lập hạng Ba. Đây là phần thưởng cao quý ghi nhận những đóng góp đặc biệt xuất sắc của ông cho sự nghiệp khoa học và xây dựng đất nước.
Hội Tự động hóa Việt Nam tham dự CMES Shanghai 2026, tăng cường kết nối giao thương quốc tế
Từ ngày 23 đến 26/3/2026, tại Thượng Hải, Trung Quốc, Triển lãm Quốc tế Máy công cụ và Công nghệ chế tạo CMES Shanghai 2026 đã diễn ra sôi động, thu hút sự tham gia của đông đảo doanh nghiệp và chuyên gia trong lĩnh vực cơ khí chế tạo, tự động hóa và sản xuất thông minh trên toàn cầu.
Công bố Quyết định của Bộ Chính trị về công tác tổ chức và cán bộ
Sáng 1/4, tại Hà Nội, Bộ Chính trị tổ chức hội nghị công bố Quyết định của Bộ Chính trị về công tác tổ chức và cán bộ đối với 5 cơ quan. Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính dự hội nghị. Đồng chí Trần Cẩm Tú, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư trao các quyết định và phát biểu ý kiến chỉ đạo.
Tổng Bí thư Tô Lâm trao Huân chương Quân công hạng nhất và Huy hiệu Đảng tặng các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo
Chiều 30/3, tại trụ sở Trung ương Đảng, Tổng Bí thư Tô Lâm và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước đã dự lễ trao Huân chương Quân công hạng nhất và Huy hiệu Đảng tặng Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính và các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chính phủ.
Đổi mới công tác tư vấn, phản biện: “Chìa khóa” để phát huy vai trò của đội ngũ trí thức
Giới chuyên môn nhận định, chuyển đổi số và AI sẽ tạo bước đột phá cho công tác tư vấn, phản biện nhờ sự giao thoa giữa trí tuệ chuyên gia, sức mạnh dữ liệu cùng các công cụ phân tích hiện đại. Tuy nhiên, thực tế hoạt động tư vấn phản biện hiện chưa theo kịp yêu cầu, đòi hỏi cấp thiết phải làm chủ các nền tảng số và phương pháp phân tích hiện đại để thu hẹp khoảng cách giữa tiềm năng và thực tiễn.
Hội thảo khoa học quốc gia “Phát triển kinh tế tư nhân ở Hải Phòng trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước”
Ngày 27/3/2026, tại Trường Đại học Hải Phòng đã diễn ra Hội thảo khoa học quốc gia với chủ đề: “Phát triển kinh tế tư nhân ở Hải Phòng trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước”. Hội thảo do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố, Trường Đại học Hải Phòng, Đại học Phenikaa, Ban Quản lý Khu kinh tế Hải Phòng đồng tổ chức.
Phú Thọ: Hội nghị tuyên truyền pháp luật và kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và Hội đồng nhân dân các cấp
Ngày 28/3/2026, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Phú Thọ phối hợp với Hội Luật gia tỉnh tổ chức Hội nghị tuyên truyền pháp luật và kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031.
Đắk Lắk: Ths. Đoàn Văn Thanh và Ths. Lê Văn Dần được bầu giữ chức Phó Chủ tịch Liên hiệp Hội
Chiều ngày 26/3/ 2026, tại Hội trường cơ quan, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh (Liên hiệp Hội) Đắk Lắk đã tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành (mở rộng) với ba nội dung: Thực hiện quy trình công tác cán bộ; Sơ kết công tác quý I, triển khai nhiệm vụ công tác quý II và Trao quyết định công nhận tổ chức thành viên mới.
Gia Lai: Đánh giá kết quả bước đầu thực hiện Dự án Sa nhân tím
Ngày 25/3/2026, xã Bình Phú, tỉnh Gia Lai, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Gia Lai phối hợp với các đơn vị liên quan tổ chức Hội nghị sơ kết giữa kỳ Dự án “Hỗ trợ phát triển vùng nguyên liệu cây dược liệu sa nhân dưới tán rừng cho cộng đồng dân tộc thiểu số góp phần cải thiện sinh kế người dân, bảo tồn hệ sinh thái rừng, thích ứng biến đổi khí hậu tại xã Bình Phú, tỉnh Gia Lai”.
Hội Điều dưỡng Hải Phòng nâng cao chất lượng điều dưỡng, hướng tới sự hài lòng người bệnh
Ngày 25/3/2026, tại Bệnh viện Kiến An, Hội Điều dưỡng thành phố Hải Phòng tổ chức Đại hội Đại biểu lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031. Đại hội đánh dấu bước chuyển quan trọng sau khi hợp nhất Hội Điều dưỡng Hải Phòng và Hội Điều dưỡng Hải Dương trước đây, tạo nền tảng thống nhất, đồng bộ trong phát triển công tác điều dưỡng trên địa bàn thành phố.