Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ năm, 11/06/2009 04:21 (GMT+7)

Chính sách xã hội của các chúa Trịnh đối với ngoại kiều phương Tây thế kỷ XVII - XVIII

Năm 1523, vua Bồ Đào Nha đã gửi một bức thư đến chính quyền Đại Việt chính thức xin thông thương và truyền đạo. Đến năm 1533, giáo sĩ người Bồ Đào Nha đã tới Đàng Ngoài truyền đạo, mở đầu cho quan hệ giao bang giữa Đại Việt với các nước phương Tây. Sang thế kỷ XVII, người Hà Lan, người Anh và người Pháp cũng lần lượt đến Đàng Ngoài đặt quan hệ ngoại giao. Tuy đều nhằm vào hai hoạt động chính là thông thương và truyền giáo, nhưng động cơ và mục đích của mỗi nước có khác nhau. Nếu như người Hà Lan và người Anh đặt trọng tâm vào mở rộng thị trường buôn bán thì người Bồ Đào Nha và người Pháp lại chú ý nhiều hơn đến việc truyền đạo. Những hoạt động của người Pháp mập mờ giữa lĩnh vực tôn giáo và thương mại, người Bồ Đào Nha cũng vậy, ảnh hưởng thương nghiệp của họ mờ nhạt, chủ yếu là việc truyền đạo.

Cho phép thông thương và truyền đạo đồng nghĩa với việc chính quyền Đàng Ngoài thừa nhận có một cộng đồng người Âu sinh sống ổn định và lâu dài trên đất nước. Phần lớn ngoại kiều cư trú trong các thương điếm của họ. Thương điếm của Hà Lan được lập ở Phố Hiến từ năm 1637 đến năm 1700 và Kẻ Chợ từ năm 1644 đến năm 1700. Thời gian hoạt động ngắn hơn so với người Hà Lan nhưng thương điếm của người Anh cũng tồn tại suốt 25 năm (1672 - 1697). Năm 1680, Công ty Đông Ấn của Pháp cũng được phép lập thương điếm và hoạt động thương mại liên tục trong 5 năm (1681 - 1686). Bên cạnh đó thì do công việc truyền giáo mà các giáo sĩ phương Tây lại càng muốn cư trú lâu dài và hoà nhập sâu hơn vào đời sống của người dân Việt. Kết quả là đã hình thành một cộng đồng người ngoại quốc trên lãnh thổ Đàng Ngoài. Trong quá trình cộng cư đó, lẽ tự nhiên sẽ diễn ra các mối quan hệ xã hội giữa người Việt với người Phương Tây.

Chính quyền Lê - Trịnh đã cố gắng đưa ra nhiều giải pháp trên tất cả các lĩnh vực nhằm củng cố và phát triển Đàng Ngoài trong đó có những chính sách về xã hội đối với ngoại kiều châu Âu. Tìm hiểu thái độ của chính quyền Đàng Ngoài đối với các nước phương Tây ở thế kỷ XVII - XVIII, chúng ta có thể nhìn nhận một cách toàn diện hơn về một trong những thời kỳ biến động và phức tạp nhất của lịch sử dân tộc. Các chính sách này sẽ ảnh hưởng rất lớn đến mối quan hệ bang giao giữa Đại Việt với phương Tây.

Click chuột để chèn ảnh vào bài viết
Cảnh thăng long thế kỷ XVII (trang vẽ thế
kỷ XVII trong “Description du royaume de
Tonquin“ của Baron, R.1.,1914).

Trong thế kỷ XVII quan hệ giữa chính quyền Lê - Trịnh với phương Tây nhìn chung là rất hoà hảo. Điều đó thể hiện ở ngay cách tiếp đón nồng hậu của các chúa Trịnh. Chính những người châu Âu đã công nhận rằng: “Khi đến xứ này thì lần nào trở lại họ cũng được chúa đón chào, lần sau trọng thị hơn lần trước” (4). Ngày 24 - 7 - 1641, Chúa Trịnh Tráng gửi cho phó Toàn quyền Hà Lan ở Đài Loan một bức thư thể hiện rõ sự tin cậy và quý mến đối với người Phương Tây: “Tôi thấy ông ta (thuyền trưởng Hartsinde) tâm địa ngay thẳng, tôi coi ông ta như bàn tay phải của tôi và thắng lợi to nhất là người Hà Lan được tự do buôn bán ở Đàng Ngoài” (9). Trước đó, năm 1627 chúa Trịnh Tạ còn kết bạn đồng tuế với giáo sư Alexandre de Rhodes (1).

Đa số các chúa Trịnh đều tỏ ra có thiện cảm với người phương Tây. Chẳng hạn như Trịnh Doanh (1720 - 1767), mặc dù đã ra nhiều lệnh chỉ cấm cư trú đối với người phương Tây nhưng cũng có lúc bảo vệ kiều dân châu Âu. Trịnh Doanh đã từng có lệnh cấm sự miệt thị với người phương Tây: “…Ai dám nói xấu châu Âu nữa sẽ bị cắt lưỡi” (5).

Nhận thức rõ là số lượng ngoại kiều châu Âu cư trú ở Đàng Ngoài, dù ít, nhưng đây là một cộng đồng người cần phải quan tâm nhất. Do vậy, để dễ dàng cho việc quản lý, các chúa Trịnh đã có những chính sách cụ thể đối với họ.

Năm Khánh Đức thứ hai (1650) chúa Trịnh Tạc đã ra quy định cho phép: “Các tàu Hoà Lang (Pháp), Bồ Đào Nha, Italya, Anh, Ô Lan (Hà Lan) khi đến nơi sẽ được phép trú ngụ ở những làng Thanh Trì và Khuyến Lương, được canh gác và được một người thông sự cùng quốc tịch để phiên dịch và giúp đỡ hiểu biết thể lệ…”.

Từ châu Âu sang, người phương Tây luôn mong muốn có một môi trường thuận tiện và yên ổn cho những hoạt động của họ ở Đại Việt. Để làm được điều đó, họ luôn tìm mọi cách để lấy thiện cảm các vua chúa cũng như các quan lại và dân chúng bằng cách dùng nhiều quà biếu hay đáp ứng những nhu cầu đòi hỏi của các chúa Trịnh đưa ra. Đồng thời, ngoại kiều phương Tây rất khéo dùng chiêu bài tìm cha mẹ nuôi có thế lực để tránh sự nhũng nhiễu của giới quan lại quản lý ở địa phương. Không dừng lại đây, họ còn lấy vợ Việt để gây cơ sở. Những người vợ này không những là người tin cậy có thể giao phó cơ nghiệp trong lúc họ vượt biển mà còn giúp họ tiếp tục thực hiện công việc kinh doanh mua bán trong khi họ không có mặt.

Trong khi đó, người dân Việt cũng rất dễ tiếp nhận người phương Tây. William Dampier đã viết trong chuyến du hành của mình đến Đàng Ngoài năm 1688: “đàn bà không ngại nếu họ có mang với người da trắng. Ngay cả người quyền quý ở xứ Đàng Ngoài cũng đem hiến con gái cho các thương nhân và đám sĩ quan” (12). Đặc biệt chúa Trịnh Căn đã nhận một người con lai, bố là người Hà Lan và mẹ là người Việt làm con nuôi của mình tên là Samuel Baron.

Những điều kiện thuận lợi mà các chúa Trịnh đã dành cho ngoại kiều làm cho người phương Tây hoà nhập rất nhanh vào cộng đồng người Việt. Hơn nữa, người dân Đại Việt cũng tỏ ra không có sự nghi kỵ người phương Tây. Chính những người phương Tây đã khẳng định rằng, khi đến Đàng Ngoài họ đã nhận được nơi đây những tình cảm bằng hữu thân thiết và “cảm thấy tự do y như sống ở nhà riêng của họ vậy” (12).

Hệ quả của sự giao lưu đó dẫn đến những ảnh hưởng lẫn nhau giữa các nền văn hoá. Bởi đây không đơn thuần là sự tiếp xúc giữa hai cộng đồng người với nhau mà hơn thế là sự tiếp xúc giữa hai nền văn minh. Người châu Âu đến cư trú đã mang theo cả những giá trị văn hoá phương Tây với nhiều nét khác biệt so với văn minh Đại Việt và trên thực tế đã tạo ra những biến đổi xã hội không nhỏ. Đây là mối lo ngại cho triều đình Lê - Trịnh vì kẻ cầm quyền lại rất mong muốn duy trì một xã hội ổn định trong trật tự Nho giáo.

Giải quyết mối lo ngại này, các chúa Trịnh hoặc là “Việt hoá” người Âu, bắt ngoại kiều sống theo tập tục của người Việt hoặc là biệt lập họ khỏi cộng đồng người Việt. Có những vị chúa thì chỉ thực hiện một trong hai giải pháp, nhưng đa số các chúa Trịnh đã đồng thời thực hiện song song cả hai sự lựa chọn.

Việt hoá người phương Tây

Vào tháng 8 - 1663, chúa Trịnh Tạc đã ra một lệnh chỉ: “Cho phép các thừa ty ra lệnh cho tất cả các quan huyện, chánh tổng, lý trưởng, trưởng thôn, trưởng xóm phải lập một bản kê khai chi tiết số người nước ngoài ngụ cư ở địa phương mình, khi nào có thì ghi thêm. Những người nào mà đã có vợ con, thì phải đăng ký vào sổ hộ tịch” (6). Trước đó, năm Khánh Đức thứ hai (1650), chúa Trịnh Tráng đã đưa ra những quy định về các lễ nghi mà người Âu phải tuân theo: “Trong khi đi đường, chỉ người trưởng đoàn được cưỡi ngựa. Đến trước cổng các dinh thự lớn và trước cửa đình thì phải xuống ngựa…” (6). Cuối thế kỷ XVII, trong thời gian cầm quyền của mình, tháng 7 - 1696 Trịnh Căn lại ra những quy chế cụ thể từ cách ăn mặc, lối sống cho những người phương Tây: “Phàm các xã dân ở giáp địa giới với với người ngoại quốc, từ gnôn ngữ đế ăn mặc và cư xử đều nên tuân theo dáng vẻ, lề lối và phong tục nước ta, cấm không được bắt chước người ngoại quốc” (7). Đến tháng 12 - 1717, Trịnh Cương ban hành một lệnh chỉ: “định rõ chế độ khu xử với người nước ngoài, cho phép ở dâu thì nhập tịch và chịu tạp dịch ở đó. Phải đóng góp mọi việc cho nhà nước. Từ tiếng nói, ăn mặc đến đầu tóc đều phải nhất nhất tuân theo phong tục Đại Việt” (10).

Đáng chú ý, chính quyền Đàng Ngoài còn đảm bảo cho ngoại kiều người Âu có những quyền hạn nhất định của mình như: có quyền tự do đi lại, buôn bán, có thể kết hôn với người bản xứ… hôn nữa còn có cả quyền sở hữu đất đai ở những thương điếm của họ. Điều này được minh chứng qua sự kiện vào tháng 8 - 1697 khi thương nhân Anh được phép đến Kẻ chợ thì họ có quyền thuê nhà của một người phụ nữ Bồ Đào Nha tên là Monica Đabada để thông thương” (11).

Nếu xảy ra va chạm hay tranh chấp giữa người châu Âu với người Việt, trong những trường hợp đó, các chúa Trịnh rất công bằng với người phương Tây. Vấn đề này các chúa Trịnh đã có lệnh chỉ rõ ràng: “Những ngoại kiều bị kết tội gây rối đối với người dân vô tội thì sẽ bị phạt tiền và đền bù. Làm một người chết phải đền 100000 đồng cash…”. Người phương Tây sẽ được phép kháng cự lại bất cứ ai chống phá hoặc làm hại bản thân” (12).

Một sự kiện được chính người châu Âu ghi lại thể hiện tính công bằng trong việc đối xử với ngoại kiều của các chúa Trịnh: “Viên quan coi tàu của Đàng Ngoài mà những người Anh gọi là On Ta Hia (?) mua hàng của người Anh định không trả tiền nhưng bị chúa Trịnh Sâm buộc phải trả và hạn trong 15 ngày nếu không trả được sẽ ra lệnh bán nhà và của cải để trả cho thương nhân người Anh đó” (11).

Có thể nói, trong suốt hai thế kỷ, các chúa Trịnh đã cố gắng bằng mọi biện pháp nhằm “Việt hoá” người châu Âu, biến họ trở thành thần dân của mình hoặc chí ít cũng bắt họ tuân thủ theo những phong tục tập quán của người Việt. Những chính sách mà các chúa Trịnh cho thực thi dó có tác dụng tạo điều kiều thuận lợi cho người phương Tây cư trú và hoạt động ở Đàng Ngoài. Kết quả của nó là làm cho mối quan hệ giữa hai cộng đồng người Việt và người Âu ngày càng có những ảnh hưởng mạnh mẽ lẫn nhau. Không phải chỉ người Âu theo phong tục người Việt mà ngược lại, người Việt cũng tiếp thu những tập tục mới lạ của người châu Âu, từ phong tục đến khoa học kỹ thuật…, đặc biệt là tôn giáo. Từ năm 1533 - 1659, “ở Đàng Ngoài đã có tới 331 nhà thờ, riêng Sơn Nam là 183”. Đến thế kỷ XVIII ở Đàng Ngoài đã có hàng chục vạn tín đồ người Việt theo Thiên chúa giáo. Ngay cả mẹ của chúa Trịnh Tạc và Công chúa Mai Hoa cũng theo đạo Thiên Chúa (2).

(*) Tiền sử: tức Tiền quan. Mỗi tiền gần bằng 36 đồng Cổ tiền, mỗi quan kẽm Cổ tiền là 200 đồng.

(*) Cash: Người Hà Lan ở Đàng Ngoài thế kỷ XVII - XVIII gọi Cổ tiền là Cash.

Thư mục sách dẫn:

1. Ban nghiên cứu và biên soạn lịch sử Thanh Hoá (1995), Kỷ yếu hội thảo khoa học: Chúa Trịnh - Vị trí và vai trò lịch sử, Thanh Hoá.

2. Bùi Hạnh Cẩn, Ý đồ và hoạt động của các giáo sĩ nước ngoài trên đất Việt Nam thế kỷ XVII - XVIII, Nghiên cứu lịch sử,số 2 (198).

3. Charles Maybon, Những người Châu Âu ở nước An Nam,Nxb Thế giới, Hà Nội 2006.

4. Jean Baptisle Tavernier, Tập du ký mới và kỳ thú về vương quốc Đàng Ngoài, Nxb Thế giới, Hà Nội 2005.

5. Nguyễn Văn Kiện, Góp phần tìm hiểu một số vấn đề lịch sử cận đại Việt Nam ,Nxb Văn hoá thông tin, Hà Nội 2003.

6. Lê triều chiếu lệnh thiện chính(bản dịch của Nguyễn Sĩ Giáp), Sài Gòn 1961.

7. Ngô Sĩ Liên (1998), Đại Việt sử ký toàn thư, tập 2, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.

8. Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Việt sử thông giám cương mục, tập II,Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.

9. Uỷ ban nhân dân tỉnh Hải Dương (1994), Phố Hiến - kỷ yếu hội thảo khoa học, Nxb Sở văn hoá thông tin thể thao tỉnh Hải Dương, Hải Dương.

10. Viện khoa học xã hội, Viện Nghiên cứu Hán Nôm (1981), Đại Việt sử ký tục biên,Hà Nội.

11. Thành Thế Vỹ (1961), Ngoại thương Việt Nam hồi thế kỷ XVII - XVIII và đầu thế kỷ XIX,Nxb Sử học, Hà Nội.

12. William Dampier (2005), Một chuyến du hành đến Đàng Ngoài năm 1688,Nxb Thế giới, Hà Nội.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

GS.VS. Châu Văn Minh được trao tặng Huân chương Độc lập
Chiều ngày 3/4, tại Trụ sở Trung ương Đảng, Tổng Bí thư Tô Lâm đã chủ trì buổi Lễ trao tặng các danh hiệu cao quý của Đảng và Nhà nước. GS.VS. Châu Văn Minh, Ủy viên Trung ương Đảng khóa XIII, Bí thư Đảng ủy VUSTA đã được trao tặng Huân chương Độc lập hạng Ba. Đây là phần thưởng cao quý ghi nhận những đóng góp đặc biệt xuất sắc của ông cho sự nghiệp khoa học và xây dựng đất nước.
Hội Tự động hóa Việt Nam tham dự CMES Shanghai 2026, tăng cường kết nối giao thương quốc tế
Từ ngày 23 đến 26/3/2026, tại Thượng Hải, Trung Quốc, Triển lãm Quốc tế Máy công cụ và Công nghệ chế tạo CMES Shanghai 2026 đã diễn ra sôi động, thu hút sự tham gia của đông đảo doanh nghiệp và chuyên gia trong lĩnh vực cơ khí chế tạo, tự động hóa và sản xuất thông minh trên toàn cầu.
Công bố Quyết định của Bộ Chính trị về công tác tổ chức và cán bộ
Sáng 1/4, tại Hà Nội, Bộ Chính trị tổ chức hội nghị công bố Quyết định của Bộ Chính trị về công tác tổ chức và cán bộ đối với 5 cơ quan. Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính dự hội nghị. Đồng chí Trần Cẩm Tú, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư trao các quyết định và phát biểu ý kiến chỉ đạo.
Tổng Bí thư Tô Lâm trao Huân chương Quân công hạng nhất và Huy hiệu Đảng tặng các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo
Chiều 30/3, tại trụ sở Trung ương Đảng, Tổng Bí thư Tô Lâm và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước đã dự lễ trao Huân chương Quân công hạng nhất và Huy hiệu Đảng tặng Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính và các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chính phủ.
Đổi mới công tác tư vấn, phản biện: “Chìa khóa” để phát huy vai trò của đội ngũ trí thức
Giới chuyên môn nhận định, chuyển đổi số và AI sẽ tạo bước đột phá cho công tác tư vấn, phản biện nhờ sự giao thoa giữa trí tuệ chuyên gia, sức mạnh dữ liệu cùng các công cụ phân tích hiện đại. Tuy nhiên, thực tế hoạt động tư vấn phản biện hiện chưa theo kịp yêu cầu, đòi hỏi cấp thiết phải làm chủ các nền tảng số và phương pháp phân tích hiện đại để thu hẹp khoảng cách giữa tiềm năng và thực tiễn.
Hội thảo khoa học quốc gia “Phát triển kinh tế tư nhân ở Hải Phòng trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước”
Ngày 27/3/2026, tại Trường Đại học Hải Phòng đã diễn ra Hội thảo khoa học quốc gia với chủ đề: “Phát triển kinh tế tư nhân ở Hải Phòng trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước”. Hội thảo do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố, Trường Đại học Hải Phòng, Đại học Phenikaa, Ban Quản lý Khu kinh tế Hải Phòng đồng tổ chức.
Phú Thọ: Hội nghị tuyên truyền pháp luật và kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và Hội đồng nhân dân các cấp
Ngày 28/3/2026, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Phú Thọ phối hợp với Hội Luật gia tỉnh tổ chức Hội nghị tuyên truyền pháp luật và kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031.
Đắk Lắk: Ths. Đoàn Văn Thanh và Ths. Lê Văn Dần được bầu giữ chức Phó Chủ tịch Liên hiệp Hội
Chiều ngày 26/3/ 2026, tại Hội trường cơ quan, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh (Liên hiệp Hội) Đắk Lắk đã tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành (mở rộng) với ba nội dung: Thực hiện quy trình công tác cán bộ; Sơ kết công tác quý I, triển khai nhiệm vụ công tác quý II và Trao quyết định công nhận tổ chức thành viên mới.
Gia Lai: Đánh giá kết quả bước đầu thực hiện Dự án Sa nhân tím
Ngày 25/3/2026, xã Bình Phú, tỉnh Gia Lai, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Gia Lai phối hợp với các đơn vị liên quan tổ chức Hội nghị sơ kết giữa kỳ Dự án “Hỗ trợ phát triển vùng nguyên liệu cây dược liệu sa nhân dưới tán rừng cho cộng đồng dân tộc thiểu số góp phần cải thiện sinh kế người dân, bảo tồn hệ sinh thái rừng, thích ứng biến đổi khí hậu tại xã Bình Phú, tỉnh Gia Lai”.
Hội Điều dưỡng Hải Phòng nâng cao chất lượng điều dưỡng, hướng tới sự hài lòng người bệnh
Ngày 25/3/2026, tại Bệnh viện Kiến An, Hội Điều dưỡng thành phố Hải Phòng tổ chức Đại hội Đại biểu lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031. Đại hội đánh dấu bước chuyển quan trọng sau khi hợp nhất Hội Điều dưỡng Hải Phòng và Hội Điều dưỡng Hải Dương trước đây, tạo nền tảng thống nhất, đồng bộ trong phát triển công tác điều dưỡng trên địa bàn thành phố.