Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ bảy, 19/08/2006 00:25 (GMT+7)

Bệnh mốc sương khoai tây và biện pháp phòng trừ

1- TÁC NHÂN GÂY BỆNH

BMSKT do nấm phytopthora infestansde barygây ra.

Nấm thuốc loài: Phytopthora

Họ: Pythiaceae

Bộ: Peronosporales

Lớp phụ: Oomycetes

Lớp: Phycomycetes

Nấm Phytopthora infestans là nấm ký sinh chuyên tính, sống trong tế bào thực vật tạo thành những vòi hút sinh sản vô tính chủ yếu tạo bào tử phân sinh (conidi) trên các cành conidi đâm nhánh hơi phình rộng. Cành conidi tương đôi dài, conidi đơn độc hình trứng hay hình quả chanh. Chỉ có một conidi trên đỉnh nhánh tạo cho bề mặt của bộ phận bị bệnh có màu trắng rất dễ nhận dạng.

2- ĐIỀU KIỆN PHÁT SINH PHÁT TRIỂN

BMSKT gây bệnh nhờ những bào tử, chúng có thể phát tán nhờ gió chuyển từ nơi này sang nơi khác, cây này sang cây khác. Bào tử theo mưa, nước tưới xuống đất, xâm nhập vào củ, phát sinh chủ yếu khi củ bắt đầu hình thành gây hại trực tiếp đến năng suất.

Bệnh có quan hệ chặt chẽ với thời tiết như lượng mưa, ẩm độ, nhiệt độ. Nếu nhiệt độ thấp hơn 20 oC + mưa (hoặc sương) bệnh phát triển liên tục. Nếu vườn khoai tây được bón đạm nhiều, mất cân đối hoặc trồng quá dày, tiêu thoát nước kém, việc trồng khoai tây liên tục không có thời vụ rõ ràng, xen kẽ, không phân khu vực là những điều kiện thuận lợi để bệnh phát sinh và phát triển.

Ở nước ta bệnh phá hại nặng trong những năm thời tiết ẩm ướt, rét và mưa kéo dài, trời có nhiều sương mù, nhiệt độ dưới 20 oC. Ở miền Bắc bệnh phá mạnh từ tháng 12 đến tháng 2.

Đà Lạt là vùng cao nguyên có khí hậu ôn hòa, hội tụ đủ những điều kiện thuận lợi cho bệnh tồn tại và phát triển quanh năm. Hầu hết những giống khoai tây hiện có trong sản xuất tại Đà Lạt đều bị nhiễm bệnh, ở mức độ nặng nhẹ khác nhau. Mức độ bệnh còn phụ thuộc vào mùa vụ. Mùa mưa (từ tháng 4-5 đến tháng 9-10) bệnh gây hại nặng và ảnh hưởng lớn đến năng suất, vào mùa khô mức độ bệnh giảm đi rõ rệt. Số liệu điều tra chuyên ngành qua 2 năm 1991 - 1992 cho thấy rõ tình hình BMSKT trên địa bàn Đà Lạt như sau:


Tháng

Năm 1991

Năm 1992

Tỷ lệ bệnh

Chỉ số bệnh

Tỷ lệ bệnh

Chỉ số bệnh

1

20.4

11.5

17.0

5.1

2

21.0

11.6

17.6

5.2

3

20.11

12.3

16.0

5.0

4

30.0

18.0

16.1

5.9

5

38.0

21.0

39.1

13.7

6

41.4

20.0

41.2

16.6

7

40.3

25.6

46.5

23

8

41.4

26.2

49.5

27.5

9

49.2

29.8

40.0

17.1

10

44.0

23.5

26

12.6

11

29.2

12.1

24.0

12.7

12

14.6

4.5

17.9

16.8

3- TRIỆU CHỨNG BỆNH

Để phòng trừ đạt kết quả tốt, trước hết chúng ta cần phân biệt và xác định đúng bệnh.

3.1. Triệu chứng trên lá

Vết bệnh màu nâu, lan rộng dần từ chóp lá vào trong phiến lá hoặc ở cọng lá vào phiến lá hoặc ở mép lá lan vào trong tạo thành từng đám mô bị thối nâu, nhũn khi ẩm ướt hoặc khô khi trời nắng. Mặt dưới vết bệnh bao phủ một lớp nấm trắng như sương muối.

3.2. Triệu chứng trên thân, cành

Bị bệnh từng đoạn dài, vỏ và ruột thân thối ướt màu nâu đen. Chỗ bị bệnh nhỏ tóp lại có khi chỉ một phía thân bị thối. Khi ẩm ướt, trên vết bệnh có lớp nấm trắng như sương muối bao phủ. Phía trên chỗ bị bệnh, là héo dần. Cành, thân bị bệnh dễ bị gãy gục làm tan cây xơ xác.

3.3. Triệu chứng trên củ

Trên mặt củ, vết bệnh có màu nâu lõm xuống, to nhỏ khác nhau. Khi cắt ngang củ ở chỗ bị bệnh, từ ngoài vào trong ruột có từng chòm mô bị thâm nâu lan rộng vào phía trong. Đễ ấm phát sinh lớp nấm trắng mịn.

4. PHÒNG TRỪ

Sau khi đã xác định đúng bệnh, chúng ta phải sử dụng tổng hợp các biện pháp để phòng trừ.

4.1. Chọn giống chống bệnh

Đây là biện pháp cho hiệu quả kinh tế cao nhất. Những giống khoai tây hiện nay đang được trồng trên địa bàn Đà Lạt như O12 (Atzimba), O6 (CFK- 69 -1), O4 (B71 -2402), Marriella, O7... hầu hết đều bị nhiễm bệnh ở mức độ khác nhau. Do đó, trong khi chưa có những giống vừa cho năng suất cao, phẩm chất tốt lai kháng được bệnh thì với bộ giống hiện có chúng ta vẫn có thể cố gắng sàng lọc để đưa vào trồng trong mùa mưa như giống O7. Mùa khô chúng ta có thể trồng được hầu hết các giống. Theo kết quả nghiên cứu tuyển chọn và lai tạo giống của Trại nghiên cứu giống khoai tây (Viện cây lương thực thực phẩm) đặt tại Thái Phiên, đến 1994 -1995 có khả năng sẽ đưa vào sản xuất 2 giống có nhiều ưu điểm, giải quyết khó khăn hiện nay cho sản xuất.

4.2. Chọn củ giống hoặc cây giống tốt, khỏe mạnh và sạch bệnh.

4.3. Bón phân

Bón phân phải cân đối, bón tập trung, không nên bón nhiều đạm (đạm phải bón sớm), không được trồng quá dày, phải có chế độ đầu tư chăm sóc thỏa đáng. Vườn khoai luôn được thông thoáng sạch cỏ dại và tàn dư cây trồng.

4.4. Đất

Đất phải được tơi xốp, thoát nước và bắt buộc phải được luân canh.

4.5. Biện pháp hóa học

Hiện nay, việc dùng thuốc để phòng trừ BMSKT nhằm giữ vững và nâng cao năng suất là biện pháp không thể thiếu được. Do đó, nhà nông cần phải biết nên sử dụng thuốc gì, khi nào sử dụng và sử dụng như thế nào để cho hiệu quả phòng trừ và hiệu quả kinh tế cao. Trong danh mục thuốc cho phép được sử dụng ở Việt Nam năm 1992 của Bộ Nông nghiệp và công nghiệp thực phẩm, có nhiều loại có thể sử dụng để trừ BMSKT. Nhưng theo chúng tôi hiện nay cần tập trung một số loại thuốc như sau:

Bơm thuốc phòng bệnh định kỳ để tạo lớp áo giáp bên ngoài tránh sự xâm nhập của bào tử, nên dùng Zineb: 30 -50 g/bình 10 lít; Bordeaux 1%, định kỳ phun 3-5 ngày lần vào mùa mưa và 5-7 ngày/lần vào mùa nắng. Khi thấy bệnh xuất hiện với tỷ lệ 10% trở lên cần dùng xen những thuốc có khả năng diệt trừ bệnh như:

Ridomil MZ 72 WP: 25-30g/bình 10 lít

Mancozeb 80 BHN:25-30g/bình 10 lít

Chú ý: Lượng nước dùng để bơm biến động theo tuổi cây trồng (phải đạt từ 400 -800 lít/ha).

Sau khi phun, thuốc phải được rải đều trên khắp bề mặt thân cành lá, nhất là mặt dưới lá và những vị trí thân cành bị bệnh. Tranh thủ bơm thuốc khi trời khô ráo, không có mưa. Mùa nắng nên bơm sáng sớm hoặc chiều mát.

Khi thu hoạch, phải chọn ngày nắng ráo rải đều củ trên mặt luống, phân loại củ ngay taị ruộng - củ để trồng phải được xử lý thuốc trước khi cất giữ. Nhẹ nhàng vận chuyển tránh xây sát. Phải xử lý những tàn dư thân lá củ bệnh khi thu hoạch: Chôn, ủ, đốt tránh nguồn bệnh cho vụ sau.

Nguồn: Thông tin khoa học và công nghệ Lâm Đồng, số 1.1994

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Đắk Lắk: Đội ngũ trí thức đồng hành cùng báo chí cách mạng
Thông qua các công trình nghiên cứu, bài viết chuyên sâu, hoạt động tư vấn, phản biện xã hội và truyền thông khoa học, đội ngũ trí thức Đắk Lắk đã góp phần làm phong phú nội dung báo chí, lan tỏa tri thức, định hướng dư luận xã hội và cung cấp những luận cứ khoa học, thực tiễn phục vụ sự phát triển của địa phương trong thời kỳ mới.
Bà Hà Hoàng Yến làm Giám đốc Quỹ VIFOTEC
Chủ tịch Liên hiệp Hội Việt Nam Phan Xuân Dũng mong muốn bà Hà Hoàng Yến trên cương vị Giám đốc Quỹ VIFOTEC tiếp tục phấn đấu, rèn luyện, sâu sát, phát huy tốt vai trò và nhiệm vụ mới được phân công để góp phần cùng tập thể cán bộ Quỹ VIFOTEC vượt qua khó khăn, thách thức, thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ đã đề ra.
Quyết định số 185-QĐ/TW: Bộ Chính trị giao 1.878.362 biên chế năm 2026
Thay mặt Bộ Chính trị, đồng chí Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú đã ký ban hành Quyết định số 185-QĐ/TW ngày 02/6/2026, về biên chế các ban, cơ quan, đơn vị sự nghiệp của Đảng ở Trung ương; cơ quan Mặt trận Tổ quốc, cơ quan tham mưu, giúp việc Đảng uỷ Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương, Đảng uỷ các cơ quan Đảng Trung ương và các tỉnh, thành phố năm 2026.
DigiFest 2026 và tinh thần đưa chuyển đổi số đi vào thực chất
Tại Diễn đàn quốc gia số Việt Nam - DigiFest 2026 vừa qua, các chuyên gia khẳng định, chuyển đổi số không đơn thuần là việc số hóa những quy trình cũ, mà phải kiến tạo những phương thức vận hành mới dựa trên công nghệ số để giải quyết hiệu quả các vấn đề thực tiễn, mang lại lợi ích thiết thực cho người dân, doanh nghiệp;tạo ra giá trị mới và động lực tăng trưởng cho nền kinh tế Việt Nam.
GS.VS.TSKH Trần Đình Long: Khoa học chỉ thật sự có giá trị khi đến được với người dân
Từ một cậu học trò nghèo đất Tổ Phú Thọ đến nhà khoa học được quốc tế ghi nhận, được vinh danh Công dân Thủ đô ưu tú năm 2025, hành trình của ông là câu chuyện đẹp về lòng say mê tri thức, tinh thần cống hiến và niềm tin bền bỉ vào tương lai của nền nông nghiệp Việt Nam.