Địa danh Vũng Tàu
24/12/2013 4:19 CH 887 lượt xem
Cỡ chữ +-

Từ một vùng đất hoang vắng nằm ở cửa ngõ của Sài Gòn vào đầu thời Nguyễn, đến nay Vũng Tàu đã trở thành một trung tâm kinh tế năng động trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam.

Trong lịch sử, vùng đất này đã có nhiều tên gọi vốn có nhiều cách hiểu khác nhau, thường gây ra những ngộ nhận. Bài viết này góp phần vào việc tìm hiểu tên gọi của địa danh này qua các thời kỳ.

Năm 1295, Châu (Chu) Đạt Quan theo đoàn sứ giả thăm Chân Lạp, ông đã mô tả đoạn đường qua Bà Rịa - Vũng Tàu: “Rời bến Ôn Châu (Wen-tcheou) Triết Giang (Tchô-Kiang) và thẳng hướng đinh vị (hướng nam- tây nam) chúng tôi đi qua hải cảng của các châu Phước Kiên (Foukien) tỉnh Quảng Đông (Koung-Tong) và hải ngoại. Chúng tôi vượt biển Thất Châu Dương đi ngang biển Giao Chỉ Dương và đến xứ Chiêm Thành (Tchan-Ch’eng). Ở đấy, nhờ thuận gió, trong vòng mười lăm ngày ta có thể đến thị trấn Chân Bồ (Tchen-p’ou vùng Cap Saint Jacques hay Bà Rịa), đó là biên giới xứ Chân Lạp”(1).

Trong bản dịch của Paul Pelliot cũng chú Chân Bồ Ià bờ biển Bà Rịa, nay thuộc tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (2).

Dựa vào những ghi chép cùa Châu Đạt Quan trong Chân Lạp phong thổ ký, Nguyễn Đình Đầu cũng đưa ra phỏng đoán: “Thị trấn Chân Bồ có lẽ là ngôi làng đánh cá tương đối trù phú chân núi Vũng Tàu. Từ núi Vũng Tàu tới mũi Cà Mau, bờ biển rất thấp và có tới “mười” cửa sông. Châu Đạt Quan đã lấy Chân Bồ tức núi Vũng Tàu làm điểm tựa để tính đường đi là rất đúng”(3).

Từ đầu thế kỷ XVI, vùng đất nay là Vũng Tàu đã được nhiều nhà du hành châu Âu để chân tới trên con đường tìm kiếm thị trường cũng như khai thác các nguồn hàng mới châu Á. Từ năm 1516, những thương nhân Bồ Đào Nha đã thăm dò vùng biển này. Năm 1523, sử sách Bồ Đào Nha mới chính thức công nhận Duarte Coelpo là người Bồ Đào Nha đầu tiên biết đến nước Đại Việt, dù rằng trước đó đã có những chuyến thăm dò do Fernao Peres de Andrade tiến hành vào năm 1516. Các chuyến hải trình từ Ấn Độ sangTrung Quốc đều phải qua Côn Đảo và đây là điểm định vị để vào Chân Lạp, Chămpa, Đại Việt. Vũng Tàu lúc ấy được biết đến với cái tên Oporto Cinco Chagas Verdareiras với ý nghĩa là “vịnh nằm giữa những núi Cinco Chagas”. Nơi. đây có thể cung cấp nước ngọt, củi đốt và cả gỗ tốt để làm cột buồm cho những chuyến hải trình tiếp theo (4).

Địa danh này được giải thích là “năm vết thương của Chúa cứu thế”, vì ở đây có 5 ngọn núi nằm liền kề nhau với những chỗ trũng thấp (brèche). Nó là tín hiệu vui-đôi với các nhà hàng hải sau nhiều ngày lênh đênh trên biển, báo hiệu một vùng đất mới. Năm ngọn núi đó là: núi Nhỏ, núi Lớn, núi Nứa, núi Dinh, núi Bà Rịa. Những trái núi lớn nhỏ đó rất dễ nhận diện từ ngoài khơi, chúng bao quanh một thung lũng thấp, thông với những bãi biển thoải dài. Những quãng thấp đó được gọi là những chỗ thủng của dãy núi Cinco Chagas. Trong các bản đồ của Bồ Đào Nha thế kỷ XVI - XVIII đều ghi Vũng Tàu với một tên gọi thông nhất là Cinco Chagas. Sau đó, Maner Vilet, tác giả cuốn hải trình nổi tiếng La Neptune Oriental (Biển phương Đông) đă thế vào bằng địa danh Saint Jacques và được người Bồ Đào Nha chấp nhận, vì đó là tên vị thánh bảo hộ đất nước của họ(5).

Rất tiếc là Lữ Huy Nguyên và Giang Tấn không chỉ rõ nguồn tài liệu dẫn nên rất khó kiểm chứng về tính xác thực của nó.

Một cách giải thích khác về địa danh này là do cách phát âm của các thủy thủ người Âu mà từ Cinco Chagas trở thành Sinkel Chagas và sau cùng là Saint. Jacques(6).

Tuy nhiên, Từ điển Larousse ghi nhận về một vị thánh Saint Jacques nhưng không phải là vị thánh bảo hộ của Bồ .Đào Nha như cách giải thích của hai tác giả cuốn Đất thắng cảnh Vũng Tàu: “Jacques Lớn: sinh ở Bethsaide, Galilée, mất ở Jérusalem năm 44, tông đồ của Jesus, con trai của Zébédée, anh (em) của Jean rÉvangélise. Một truyền thuyết cho rằng ông là tông đồ của Tây Ban Nha (NTL nhấn mạnh). Di thể của ông được tôn thờ ở Compostelle từ thế kỷ 10, đã trở thành mục đích của một cuộc hành hình nổi tiếng”(7).

Một thuyết khác giải thích về nguồn gốc địa danh Cap Saint Jacques: “Từ đó chúng ta dong buồm ghé vào Vũng Tàu mà người Tây phương gọi là Cap Saint Jacques vì ngày xưa các thủy thủ phương Tây có tìm thấy nơi này nhiều thứ sò lớn gọi là “coquille Saint Jacques”(8). Thông tin trong từ điển trên cho biết về loại sò này: “Nhuyễn thể biển, có 2 vỏ, sống ở Đại Tây Dương. Ăn được, nổi tiếng ngon. Chúng có thể di chuyển bằng cách khép 2 vỏ lại (dài 10cm, thuộc loại thuộc họ Pecten)” (9).

Ở vùng biển Vũng Tàu cũng có một số loại sò như sò lông, sò huyết...Nhưng theo thông tin trong cuốn từ điển trên thi Vũng Tàu không thể có loại sò lớn “coquille Saint Jacques”. Cho nên giả thuyết nguồn gốc địa danh mà Thái Văn Kiểm đưa ra khó chấp nhận được.

Trong sách Gia Định thành thông chí (1820) của Trịnh Hoài Đức, địa danh Vũng Tàu được chép là Thuyền úc: “Tục gọi Vũng Tàu, về phía đông cách trấn 234 dặm rưỡi. Lưỡi đất phòi ra ngoài biển, càng ra xa càng lớn. Phía bắc bao lấy cửa Tắc Ký, phía nam dựa vào Thát Sơn (núi Gành Rái), che khuất cửa biển Cần Giờ. Thế đất trông rất sung mãn, mặt vũng hướng về tây, lòng vũng to rộng là nơi thu kết các dòng nhỏ của các sông đầm và các ngòi rạch chảy về biển, làm nơi ghe thuyền đến đậu rất yên ổn”(10).

Trong hồi ký của John White, địa danh Vùng Tàu được tác giả nhắc đến với cả hai tên gọi là mũi “Cape St.James” và vịnh Vũng - tàu”(11).

Năm 1822, Toàn quyền Ấn Độ nhân danh triều đình Anh gửi sang Việt Nam một phái bộ để điều đình việc giao thương, John Crawfurd cầm đầu phái bộ ấy đã ghi lại nhật ký cuộc du hành đến nước ta. Năm 1830, cuốn sách đó được xuất bản London dưới tựa đề “Journal of an Embassy from the Governor General of India to the Courts of Siam and Cochi- nchina”. Trong đó nhiều lần nhắc đến địa danh Vũng Tàu với tên gọi là St. James: "Theo dự định đó, chúng_tôi cho căng buồm từ cửa vịnh Pulo Condore (Côn Đảo- NTL chú) vào lúc 5 giờ sáng, tiến thẳng vào mũi St. James (Saint- Jacques, Vũng Tàu). Từ sáng sớm hôm qua, đã nhìn thấy mũi St. James cách xa khoảng 25 hải lý, hiện ra như 3 hòn đảo nhỏ (...). Mũi St. James là một quả núi cao từ ba đến bốn trăm bộ, tạo thành bờ phía đông của cửa sông Saigun (sông Sài Gòn-NTL chú) (...). Buổi chiều, khi thủy triều lên cao, chúng tôi giương buồm đi vào bến Kandyu (Cần Giờ), tới đây trước khi trời tối. Khi chúng tôi qua làng Pungtao (Vùng Tàu), một làng nằm ngay ở góc Vũng- nơi mà các mỏm núi tạo thành mũi St. James chấm dứt (…) (12)

Địa danh Vũng Tàu trong sách này được chú giải là: "Tiếng Pháp gọi là Cap Saint Jacques, cũng còn gọi là Ô Cấp, Thuyền Úc”(13).

Trong bản dịch của Nguyễn Tạo, địa danh đang được bàn đến vẫn được gọi là Vũng Tàu(14). Tuy nhiên, đến bản dịch của Viện Sử học thì địa danh Thuyền Úc lại được chữa là “tục danh VũngTàu”(15). Trong tiếng Việt có danh từ “vụng biển”, hay “vũng biển”a6), nhưng theo chúng tôi, địa danh liên quan này nên dịch là “vũng”, nhưng “vũng”là phương ngữ Nam bộ nên nó thích hợp với cách đặt địa danh ở phía Nam như ta vẫn thường thấy trong các địa danh: vũng Hàn, vũng Thùng (Đà Nẵng), vũng Quýt (Quảng Ngãi), vũng Rô (Phú Yên), vũng Dương (BàRịa-Vũng Tàu), vũng Gấm (ĐồngNai)...

Địa danh Thuyền Úc trong chữ Hán có thể được dịch ra là Vũng Thuyền hay Vũng Tàu, nhưng do ảnh hưởng của phương ngữ Nam bộ nên người ta vẫn quen gọi Vũng Tàu hơn. Từ “vũng tàu” dần dần đã du nhập vào ngôn ngữ toàn dân, bằng chứng dễ thấy nhất là trong cuốn từ điển tiếng Việt khá phổ biến hiện nay với nghĩa: “Vùng nước giáp bờ, dùng làm nơi neo đậu hoặc chuyển tải của tàu thủy”. Hay như từ “vũng”: “Khoảng biển ăn sâu vào đất liền, ít sóng gió, tàu thuyền có thể trú ẩn được”(17).

Trước đó, Tự vị An nam- La tinh (1772) định nghĩa về “vũng tàu"là “nơi tàu đậu"(18). Hoặc trong quyển từ điển giải thích ngôn ngữ dân tộc bằng chữ quốc ngữ đầu tiên cùa Việt Nam Đai Nam quấc âm tự (1895) thì "vũng” được giải thích là “chỗ nước đọng lại nhiều, chỗ nước sâu có thể cho tàu thuyền đậu”. “Vũng tàu” là “chỗ tàu thuyền đậu”a9).

Trong Tiểu giáo trình địa lý Nam kỳ (1875), phần viết về các cửa biển ở tỉnh Biên Hòa, bên cạnh các cửa Lấp (Giếng Bộng), Xích Ram, cửa “Vũng Tàu” có tên chữ Hán là “Thuyền Úc”(20). Thực ra cách gọi “cửa Vũng Tàu” của Trương Vĩnh Ký là không chính xác. Đúng hơn phải gọi là “vịnh Vũng Tàu”, vì bán đảo Vũng Tàu nằm bên cửa ngõ vào Sài Gòn với cửa Cần Giờ (Cần Giờ hải tấn).

Như vậy, từ một địa danh Nôm, Vũng Tàu đã được các sử quan nhà Nguyễn “dịch” qua chữ Hán thành Thuyền Úc như đã thấy trong sách Gia Định thành thông chí. Một dẫn dụ khá tiêu biểu đó là địa danh Vũng Gù trong dân gian đã được chuyển thành Cù Úc trong các sách chữ Hán.

Năm 1776, khi Lê Quý Đôn viết Phủ biên tạp lục có nhắc đến Vũng Tàu ít nhất là 2 lần trong tác phẩm trên: “Đến xứ Vũng Tàu đầu cõi Gia Định là chỗ hải đảo, có dân cư, hạ buồm đậu vào, hỏi thăm nơi nào được mùa nơi nào mất mùa, biết nơi nào được mùa mới đến ở. Trên thì có cửa biển Cần Giờ, giữa thì vào cửa biển Soài Rạp, dưới thi có cửa Đại cửa Tiểu” (21)’, “Tháng 3, đánh phá cửa Lấp Vũng Tàu, vào cửa biển Cần Giờ, đốt phá Sài Gòn, lấy ba dinh Phiên Trấn, Trấn Biên và Long Hồ (22).

Địa danh Vùng Tàu xuất hiện đầu tiên trong lịch sử với sự kiện diễn ra vào năm 1789 với tư cách đơn vị hành chính là đạo Vũng Tàu(23>.

Sách Đại Nam thực lục ghi: “Mùa Thu, tháng 7 (1792-NTL chú), thuyền vua về đậu ở Vũng Tàu Phan Rang (NTL nhấn mạnh). Vì không thuận buồm xuôi gió, bèn chạy dụ cho Nguyễn Hoàng Đức và Tán Lý Chiêu đem bộ binh đánh úp lấy Phố Hài, đợi thủy quân đến hội ở Thạch Cốc (tên đất thuộc Bình Thuận)”. Bản dịch của sách này còn chú giải thêm: “Vũng Tàu tức cửa biển Phan Rang, khác với Vũng Tàu cửa biển Cần Giờ”(24). Với cách ghi “Vũng Tàu Phan Rang” như vậy thì “Vũng Tàu” ở đây không thể là địa danh được mà chỉ xem như là một danh từ chung.

Trong An Nam đại quốc họa đồ (1838) có ghi một số địa danh lân cận trong khu vực như: “mũi Vịnh Tàu”, “cửa Lấp”, “mũi Thùi Vân”(25). Địa danh Vũng Tàu lúc này được gọi là “Vịnh Tàu”.

Từ thời các chúa Nguyễn ở đây có thủ Vũng Tàu(26), tồn tại đến thời Gia Long, có một thủ ngữ và một thừa biện. Năm 1788, đặt phong hỏa đài. Năm Minh Mạng thứ 5 (1824) đổi tên thành thủ Phước Thắng (27)*.

Về nguồn gốc hình thành 3 địa danh Thắng Nhất, Thắng Nhì, Thắng Tam, tài liệu lịch sử ghi: “tháng 11-1790, miễn dao dịch cho thuộc binh và dân phụ lũy ở các đạo thủ cửa biển bốn dinh. Dinh Phiên Trấn, đạo thủ cửa biển Đồng Tranh; dinh Trấn Biên, đạo thủ Xích Lam, thuyền Kiên Nhất đội Kiên Hải thuộc binh, đạo thủ Lý Lê, ba thuyền Thuận Nhất, Thuận Nhị, Thuận Tam làm hải đội, thuyền Tân Nhất thuộc binh, đội Hàm Ngư, nhất thôn Thanh Chữ phụ lũy, đạo thù cửa biển Tắc Khái, thôn Tỉnh Bổng phụ lũy; đạo thủ Vũng Tàu Ghềnh Rái, ba thuyền Thắng Nhất, Thắng Nhì, Thắng Tam thuộc binh”(28).

Năm 1836, tổng An Phú Thượng, huyện Phước An có 4 xã, 4 thôn, 1 phường, 3 thuyền. Trong đó có 3 thuyền(29): Thắng Nhì, Thắng Nhứt, Thắng Tam(80). Sau này gọi chung là Tam Thắng. Sử liệu cho biết, vào năm 1837, số người ở 3 thuyền Thắng Nhất, Thắng Nhì, Thắng Tam được gộp tính rồi khấu trừ đi một phần, số còn lại chọn dồn thành 4 đội, sung vào 2 vệ thuộc thủy vệ tỉnh Biên Hòa (28).

Huỳnh Minh đưa ra 2 giả thuyết về nguồn gốc địa danh Thắng Nhất, Thắng Nhì, Thắng Tam. Truyền thuyết thứ nhất cho rằng, sau khi Gia Long lên ngôi, đã cho những phần từ “bất hảo” từ Huế vào khai phá vùng đất Vũng Tàu. Khoảng một thế kỷ sau, nơi đây đã biến thành một thị trấn phồn thịnh. 3 làng Thắng Nhất, Thắng Nhì, Thắng Tam ấy gọi chung “Tám Thoàn”- để kỷ niệm 3 chiếc thuyền đầu tiên đã cặp bến này.

Truyền thuyết thứ hai kể rằng những người sáng lập nên ba làng Tam Thắng Vũng Tàu là những người lính thuộc ba đội quân đi trên 3 chiến thuyền, mỗi chiếc thuyền do một viên đội trưởng chỉ huy. Họ đã đánh đuổi bọn cướp biển Mã Lai, giữ gìn an ninh ở địa phương, lập doanh trại Phước Thắng. Năm 1822, vua Minh Mạng cho họ giải ngũ - và được ở lại khai khẩn vùng đất này. Phạm Văn Dinh lập làng Thắng Nhất, Lê Văn Lộc lập làng Thắng Nhì, Ngô Văn Huyền lập làng Thắng Tam. Vua Minh Mạng ban 3 lá sắc cho 3 làng. Nhưng cả 3 lá sắc này đều được thờ ở đình Thắng Tam(32).

Một tài liệu khác cho biết, khi triều đình ban sắc phong, cả 3 làng đều cử người ra kinh đô nhận, nhưng do không chờ đợi được, nên 2 làng Thắng Nhất, Thắng Nhì đã bỏ về. Do vậy, làng Thắng Tam nhận luôn 3 lá sắc và thờ chung cả 3 vị thần Thành Hoàng. Hiện các sắc phong này đều bị thất lạc(33).

Về các sắc phong cho 3 viên đội này có lẽ do đời sau “thêm thắt” vào, vì theo một tài liệu thì: “Để thưởng công cho họ nhà vua cho ba làng mới này được miễn mọi thứ thuế’(34).

Hiện nay đình Thắng Tam chỉ lưu giữ 12 đạo sắc phong cho Đại Càn quốc gia Nam Hải Tứ vị thánh nương, Nam Hải cự tộc ngọc lân tôn thần (cá voi), Thiên Y Ana, Thủy Long thần nữ (35'.

Một tài liệu khác cho rằng địa danh Vũng Tàu có tên là Ô Trạm(36) nhưng khảo qua sử liệu chúng tôi không thấy chúng được nhắc đến ở tài liệu nào.

Trong một bài viết, Nguyễn Hữu Thái cho biết theo sử sách nhà Nguyễn thì Vũng Tàu có tên Thuyền Áo với nghĩa là “chỗ ven biển mà thuyền lớn đỗ được”(37). Áo là một âm khác của úc, có nghĩa là “khúc sông, vùng biển ăn sâu vào đất liền”

Vốn là một bán đảo trải dài theo hướng đông bắc - tây nam, ba bề biển cả bao la, nên Vũng Tàu còn được gọi theo tên tiếng Pháp là Au Cap Saint Jacques, tức đi ra mũi Đất (Aller au ' Cap(39), đọc gọn lại là Au Cap (Ố Câp) (40)

Địa danh Ô Cấp được nhiều nhà nghiên cứu cho là dịch từ tiếng Pháp Au Cap (Cap Saint Jacques) hoặc dịch sát nghĩa là mũi Thánh Jacque(41)

Có từ điển giải thích địa danh Vũng Tàu: “Ô Cấp là cách gọi tắt Au Cap Saint Jacques (gọi nôm na là Vũng Tàu)(42), có lẽ do chép lại từ cuốn Từ điển địa danh lịch sử, văn hóa, du lịch Việt Nam(43) hoặc Từ điển địa dạnh ván hóa và thắng cành Việt Nam(A4). Trong các sách viết về địa danh Vũng Tàu chúng ta chỉ thấy phổ biến cách gọi Cap Saint Jacques hoặc Ô Cấp (xuất hiện vào khoảng 1930)

Trong các tài liệu địa phương chí xuất bản vào đầu thế kỷ XX, thành phố Cap Samt Jacques vẫn thường được đọc gọn là Cap(45)

Chú thích:

1. Châu Đạt Quan, Chân Lạp phong thổ kỷ, Lê Hương dịch, Kỷ Nguyên Mới xb, Sài Gòn, tr.21-22.

2. Paul Pelliot, Mémores sur les coutumes du Cambodge, BEFEO,1902, p.l58_dẫn theo Châu Đạt Juan, Chân Lạp phong thổ ký, Hà Văn Tân dịch, Phan Huy Lê giới hiệu, Nguyễn Ngọc Phúc chú thích, Nxb Thế giới 2006 tr.22.

3. Nguyễn Đình Đẩu, Chê' độ ông điền công thổ trong lịch sử khẩn hoang lập ấp ở Nam kỳ lục  tỉnh, Hội Sử học Việt Nam, 1992,

4. Lữ Huy Nguyên – Giang Tấn, Đất Thắng cảnh Vũng tàu, nxb Văn Hóa, 1987, tr 24- 25.

5. Lữ Huy Nguyên - Giang Tấn, Sđd, tr.27-28; Địa phương chí tỉnh Phước Tuy, 1961, tr.3; Địa phương chí thị xã Vũng Tàu, 1968, tr.2; Huỳnh Minh, Vũng Tầu xưa và nay, Sài Gòn, 1970, tr 17.

6. Lữ Huy Nguyên - Giang Tấn, Sđd, tr.26-27.

7. Le petit Larousse, Larousse- Bordas, Paris, 1999, p.262.

8. Thái Văn Kiểm, Đất Việt trời Nam, Nguồn Sông xb, Sài Gòn, I960, tr.37.

9. Le petit Larousse, Larousse- Bordas, Paris, 1999, p. 1.424.

10. Trịnh Hoài Đức, Gia Định thành thông chí, Tái bản lần thứ nhất, Lý Việt Dũng dịch và chú giải, Huỳnh Văn Tới hiệu đính, giới thiệu, Nxb Tổng hợp Đồng Nai, 2006, tr.37.

11. John White, History a voyage the China Sea, Boston, 1823, p. 168.

12. Trần Bạch Đằng - Dương Minh Hồ chủ biên, Sơ khảo huyện Cần Giờ (TP. Hồ Chí Minh), Nxb Khoa học Xã hội, 1993, tr.90-91.

13. Trịnh Hoài Đức, Gia Định thành thông chí, Lý Việt Dũng dịch và chú giải, Sđd, tr.37.

14. Trịnh Hoài Đức, Gia Định thành thông chí, Tập thượng, Nguyễn Tạo dịch, Nha Văn hóa Phủ Quô'c vụ khanh đặc trách văn hóa, Sái Gòn, 1972, tr.31.

15. Trịnh Hoài Đức, Gia Định thành thông chí, Đỗ Mộng Khương, Nguyễn Ngọc Tỉnh dịch, Đào Duy Anh hiệu đính và chú thích, Nxb Giáo dục, 1998, tr.29.

16. Vũng biển: vịnh nhỏ, phần biển ăn sâu vào lục địa, ít chịu ảnh hưởng của sóng gió, thường được giới hạn ở phía ngoài bởi mùi đá, đảo hay doi cát, nơi tương đối kín, neo tàu thuận lợi (vd. Vũng Rô, Vũng Tàu,...) (Từ điển Bách khoa * Việt Nam, tập 4, Nxb Từ điển bách khoa, 2005, tr.949).

17. Hoàng Phê (chú biên), Tử điển tiếng Việt In lần thứ mười, có sửa chữa, Nxb Đà Năng Trung tâm Từ điển học, 2004, tr. 1.132.

18. Pierre Pigneaux de Béhaine, Tự vị Annam Latinh, Hổng Nhuệ Nguyễn Khắc Xuyên dịch và giới thiệu , nxb Trẻ, tr.444. Trong sách này ghi rõ “Vũng Tàu” là một danh từ chung chứ không phải là địa danh như cách hiểu sai trong sách Địa chí Bà Rịa - Vũng Tàu (Thạch Phương - Nguyễn Trọng Minh chủ biên, Nxb Khoa học Xã hội, 2005, tr. 114-115).

19. Paulus Huỳnh Tịnh Của, Đại Nam quốc âm tự vị, Nxb Trẻ, 1998, tr 1.179.

20. Trương Vĩnh Ký, Tiểu giáo trình địa lý Nam kỳ, Nguyễn Đình Đầu lược dịch và chú thích, Nxb Trẻ, 1997, tr.28

21. Lê Quý Đôn, Toàn tập, Tập 1, Phủ biên tạp lục, Nxb Khoa học Xã hội, 1977, tr.124.

22. Lê Quý Đôn, Sđd, tr.77-78.

23. Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, tập 1, Nguyễn Ngọc Tỉnh dịch, Đào Duy Anh hiệu đính, Nxb Giáo dục, 2002, tr.258. Xem thêm: Nguyễn Đình Tư, về một sô' địa danh trong sách Lược khảo nguồn gốc địa danh Nam bộ, Tạp chí Xưa&Nay, Bố 76B, tháng 6, 2000, tr.30-31.

24. Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, tập 1, Sđd, tr.287.

25. Taberd, An Nam đại quốc họa đồ, in trong Tự điển Latinh- Việt, 1838

26. Nguyễn Linh trong bài viết Thành -Phước-Thắng ở Vũng Tàu in trên tập san Vũng Tàu du lịch bốn mùa, tháng 12-1996, sau được in lại trong cuốn Bà Rịa Vũng Tàu đất và người (Nguyễn Thị Tuyết chủ biên, Nxb Văn_nghệ thành phố Hồ Chi Minh, 1999, tr.194) có sự nhầm lẫn khi cho rằng dưới thời Gia Long, ba đội quân được phái đến trấn thù vùng đất nay là Vũng Tàu thuộc Thuyền úc thủ, tức đồn Vũng Tàu. Vì thuyền (đơn vị quân đội cấp thấp nhâ't) thì thuộc cơ hoặc đội chứ không thuộc thủ

27. Quốc sử quán triều Nguyền, Đại Nam nhất thống chí, tập 5, Phạm Trọng Điềm dịch, Đào Duy Anh_hiệu đinh, Nxb Thuận Hóa, 1992, tr.65.

28. Quôc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, tập 1, Sđd, tr.266.

29. Thời các chúa Nguyễn, quân đội có bộ binh, thủy binh và tượng binh, chia làm thuyền, đội, cơ, dinh. Thuyền là đơn vị thấp nhất. Cơ có khi gồm nhiều thuyền hoặc nhiềụ đội số thuyền và số đội cùa mỗi cơ không nhất định. Số lính của mỗi cứng không nhất định: 260, 300, 500, có khi đến 2.700 người như cơ Tiền Trung bộ. Đội chia làm nhiều thuyền, 4-5 thuyền, từ 220-500 lính. Thuyền thì thuộc cơ hoặc đội, 30-50 hoặc hơn 100 lính. (Phan Khoang, Việt sử xứ Đàng Trong 1558-1777,  Nhà sách Khai Trí, Sài Gòn, 1967, tr.468-469). An Nhứt thuyền thuộc tổng Bình Cách Trung, huyện Bình An, tỉnh Biên Hòa cũng là một ví dụ về cách thức tổ chức quân sự kiêm quản nhiệm vụ hành chính như trường hợp Thắng Tam Vũng Tàu.

30. Nguyễn Đình Đầu, Nghiên cứu địa bạ triều Nguyễn Biên Hòa (Đồng Nai, Sông Bé, Bà Rịa, Vũng Tàu), Nxb Thành phố Hồ*Chí Minh, 1994, tr.169.

31. Nội các triều Nguyễn, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, tập 9, Bản dịch Viện Sử học, Nxb Thuận Hóa, 1993, tr.248-249.

32. Huỳnh Minh, Sđd, tr.22-23^ 63-65. Theo đó, sau này rất nhiều nhà nghiên cứu dựa vào thuyết này mà dẫn ra trong nhiều tài liệu như: Phạm Chí Thân chủ biên, Di tích danh thắng Bà Rịa Vũng Tàu, Nxb Chính trị Quốc gia, 1996; Lịch sử đấu tranh cách mạng của Đảng bộ và nhân dân thành phố Vũng Tầu (1930-1954), Nxb Chính trị Quốc gia, 1998; Hương Mai, Vũng Tầu. những chặng đường lịch sử, Tạp chí Xưa & Nay, tháng 1-2,1999; Nguyễn Thị Tuyết chủ biên, Bà Rịa Vũng Tầu đất và người, Nxb Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh, 1999; Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, tập 1, (1930-1954), Nxb Chính trị Quốc gia, 2000... Nhưng không phải 3 làng Tam Thắng xưa được gọi là “ba làng Thắng Nhất thuyền, Thắng Nhị thuyền, Thắng Tam thuyền” (Đinh Văn Hạnh, Phan An, Lễ  hội dân gian của ngư dân Bà Rịa - Vũng Tàu, Nxb Trẻ, 2004, tr.34).

33. Phạm Chí Thân - Nguyễn Cẩm Thúy, Di sản Hán Nôm trong các di tích lịch sử  văn hóa Bà Rịa - Vũng Tàu, Sở Khoa học Công nghệ và Môi trường Bà Rịa – Vũng Tàu, 2000, tr. 108-109. Trong tài liệu này, các tác giả cho biết thời điểm được vua Minh Mạng sắc phong là năm 1840, không rõ dựa vào căn cứ nào. Huỳnh Ngọc Trảng chủ biên, sổ tay hành hương đất phương Nam, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 2002, tr.179. Kết quả điều tra về thần tích các vị thần các làng của Viện Viễn Đông Bác Cổ vào năm 1939 cho biết: làng Thắng Nhất có 1 thành hoàng không rõ tên làng Thắng Nhì có 1 thành hoàng không rõ tên, làng Thắng Tam có 1 nhân thần (Nam Hải).(Trương Thị Thọ-Nguyễn Văn Hội chủ biên, Thư mục thẩn tích thần sắc, Viện Thông tin Khoa học xã hội, 1997, tr.1267).

34. Thạch Phương - Nguyễn Trọng Minh chủ biên, Sđd, tr.117.

35. Phạm Chí Thân - Nguyễn Cẩm Thúy, Tlđd, tr.108.

36. Lịch sử đấu tranh cách mạng của Đảng bộ và nhân dân thành phố Vũng Tau (1930-1954), Sđd, tr.13-14.

37. Nguyễn Hữu Thái, Bà Rịa -Vũng Tầu vùng đất giao lưu giữa Đông và Tây (Tạp chí Xưa & Nay, số 104, tháng 11, 2001, tr.20) sau này in lại trong miền Đông Nam bộ lịch sử & phát triển, Tạp chí Xưa & Nay,Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 2002, tr.70.

38. Nguyễn Quốc Hùng, Hán Việt tồn từ điển, Nhà sách Khai Tri, Sài Gòn, 1975, tr. 19, 769.

39. Lữ Huy Nguyên - Giang Tấn, Sđd, tr.26; Thạch Phương - Nguyễn Trọng Minh chủ biên, Sđd, tr.119.

40. Trong bài 100 năm Vũng Tàu của Đinh Ván Hạnh in trên báo Vũng Tàu chủ nhật xuân Ất Hợi 1995, sau được in lại trong cuốn Bà Rịa Vũng Tàu đất và người (Nguyễn Thị Tuyết chủ biên, Nxb Văn nghệ thành phố Hổ Chí Minh, 1999, tr.202) cho rằng vào thời Nguyễn, Ô Cấp là một tên gọi khác của Vũng Tàu. Cách hiểu như vậy là chưa chinh xác vi mải đến thời Pháp thuộc mới xuất hiện địa danh Ô Cấp.

41. Huỳnh Minh, Sđd, tr.33; Vương Hổng sển, Tự vị tiếng Việt miền Nam, Nxb Văn hóa, 1993, tr.713; Nguyễn Hửu Thái,Bđd, tr20.

42. Đinh Xuân Lâm chủ biên, Từ điển địa danh lịch sứ Việt Nam, Nxb Giáo dục, 2007, tr.441.

43. Nguyễn Vân Tân, Từ điển địa danh lịch sử - văn hóa - du lịch Việt Nam, Nxb Vồn hóa - Thông tin, 2002, tr. 1417

44. Nguyễn Như Ý chủ biên, Từ điển địa danh văn hóa và thắng cảnh Việt Nam, Nxb Khoa học Xã hội, 2004, tr.1121.

45. Monographie de la province de Bà Rịa et de la ville du Cap Saint Jacques, Imprimerie L. Ménard, Saigon, 1902

Tài liệu tham khảo:

1. Đinh Xuân Vịnh, sổ tay địa danh Việt Nam, Tái bản có chỉnh lý, bổ sung, Nxb Đại học Quốc gia Ha Nội, 2002.

2. Huỳnh Minh, Vũng Tàu xưa và nay, Tác giả xb, Sài Gòn, 1970.

3. Lê Trung Hoa, Tim hiểu nguồn gốc địa danh Nam bộ và - tiếng Việt văn học, Tái bản lần thứ nhất có bổ sung sửa chữa, Nxb Khoa học Xã hội, 2005.

4. Lữ Huy Nguyên - Giang Tấn, Đất thắng cành Vũng Tà u^Nxb Văn hóa, 1987.

5. Lương Văn Lựu, Biên Hòa sử lược toàn biên, quyển 1, Tác giả xb, Sài Gòn, 1972.

6. Monographie de la province de Bà Rịa et de la ville du Cap Saint Jacques, Imprimerie L. Ménard, Saigon, 1902.

7. Nguyễn Dược, Trung Hải, Sổ tay địa danh Việt Nam, Tái bản lần thứ tám, chỉnh lý năm 2007, Nxb Giáo dục, 2008.

9. Nguyễn Đình Tư, Từ điển địa danh hành chính Nam bộ, Nxb Chinh trị Quốc gia, 2008.

10. Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam nhất thống chí, tập 5, Phạm Trọng Điềm dịch, Đào Duy Anh hiệu đính, Nxb Thuận hóa, 1992.

11. Thạch Phương - Nguyễn Trọng Minh chủ biên, Địa chí Bà Rịa - Vũng Tàu, Nxb Khoa học Xã hội, 2005.

12. Trịnh Hoài Đức, Gia Định thành thông chí, Tái bản lần thứ nhất, Lý Việt Dũng dịch và chú giải, Huỳnh Văn Tới hiệu đính, giới thiệu, Nxb Tổng hợp Đồng Nai, 2006.

13. Vương Hồng sển, Tự vị tiếng Việt miền Nam, Nxb Văn hóa,1993