Xứ Đồng Cột – Nam Đàn và giai thoại về vua Quang Trung
Nguyễn Huệ đốc suất đại binh vừa thuỷ và bộ binh tiến bước. Ngày 29 đến Nghệ An, cho người mời cống sĩ ở huyện La Sơn là Nguyễn Thiếp vào dinh hỏi về việc đánh quân Thanh. La Sơn Phu Tử nói: Bây giờ trong nước trống không, lòng người tan rã, quân Thanh ở xa tới dây, không biết tình hình quân ta yếu hay mạnh, không hiểu rõ nên đánh nên giữ ra sao? Chúa công ra đi chuyến này không quá mười ngày giặc Thanh sẽ bị dẹp tan. Nhà vua phấn khởi lắm liền sai một đại tướng tuyển mộ thêm lính, cứ 3 suất đinh lấy 1 người, thì có đến 5 vạn người, nâng tổng số quân lên 10 vạn binh sĩ.
Đoàn quân vua Quang Trung Nguyễn Huệ tổ chức duyệt binh lớn ở doanh trấn Nghệ An, nhà vua mặc áp bào, ngồi trên voi chiến đọc Hịch xuất quân: “Nay người Thanh lại sang mưu đồ lấy nước Nam ta đặt làm quận huyện không biết trông gương mấy đời Tống, Nguyên, Minh ngày xưa, vì vậy ta phải kéo quân ra đánh đuổi” (1).
Sau lễ duyệt binh, Quang Trung tiến quân ra Bắc. Ngài cho quân đi qua Truông Hến, ra Yên Thành, không đi theo đường chính, tránh kênh nhà Lê, đến Bảo Nham, ra dốc Bò Lăn, Ba Xanh, Ba Quanh tiến ra Thanh Hoá.
Đến địa phận huyện Nam Đàn, đại quân Quang Trung có dừng chân tại làng Xuân Hồ (xã Xuân Hoà ngày nay). Tại đây có một địa danh là “xứ Đồng Cột”, nơi cột voi, cột ngựa của Quang Trung. Đồng thời nhà vua tổ chức cầu vị đức thánh ở đền Tán Sơn, xin vị thần này đi gặp nhiều may mắn, đánh thắng giặc Thanh.
Xứ Đồng Cột, giáp dưới chân núi Anh (phía trái) cạnh núi Tán Sơn, núi Nhón. Xứ này xa xưa rộng khoảng 4 ha đất, có trồng lúa, ngô, khoai, sắn. Dưới lưng chừng núi có nhiều cỏ tốt, nhân dân hiền lành hết lòng ủng hộ Quang Trung Nguyễn Huệ đánh quân Thanh xâm lược.
Đền Tán Sơn được xây dựng trên đỉnh núi Tán. “Núi Tán, mạch từ núi Hồng Lĩnh, phía đông chạy xuống đồng bằng thì đột xuất nổi lên. Núi này hình tròn như cái lọng. Nhánh bên trái có những hòn đá kỳ quái nổi lên liền nhau, gọi là núi Sắt. Phía bên phải có các núi Anh Sơn, Nhuệ Sơn và Trăn Sơn chầu quanh chiếu sáng. Phía tây có hồ Nón như vành trăng, quang cảnh khá đẹp” (2).
![]() |
Nhận thấy đền Tán sơn đẹp đẽ uy nghi, lại thờ một vị phó quốc vương, có công lớn, được nhân dân kính trọng, Quang Trung Nguyễn Huệ quyết định tổ chức lễ cầu siêu tại đền và cũng chính tại đây Ngài đã thảo bài hịch, có đoạn như sau:
Thỉ chí hoại ngạ cương thổ
Trà sơn chi thảo mộc đồng cừu
Kế như trọc ngã hải tần
Tấn khẩu chi ba đào cọng nộ
Nghịch tặc bất dung ư thiên địa
Phàm dân gian đắc như tru chi
Try năng tụ cụ ư nhân tâm
Kiến nghĩa bất vi vô dụng giã.
Tạm dịch:
Ban đầu là nó vào phá hoại bờ cõi của ta
Cây cối trên núi Trà Sơn vẫn căm giận
Tiếp đó nó phá hoại cửa biển của ta
Sóng vỗ nơi cửa biển còn căm giận
Bọn giặc nghịch trời đất không dung
Dân ta phải có trách nhiệm tiêu diệt giặc
Dân ta phải đoàn kết một lòng
Việc nghĩa dân với nước không làm là con người vô dụng (3).
Bài hịch này cũng là để răn dạy quân sĩ tạo tư tưởng tốt cho ba quân chuẩn bị quyết chiến với quân xâm lược nhà Thanh.
Vua Quang Trung còn cho lập Tràng Rèn ở Xóm Rú để rèn vũ khí, gươm giáo cho quân sĩ (xóm 2 bây giờ). Lúc đó Tràng Rèn có tới hàng trăm người, với 90 bể thụt lò rèn. Nhân dân khắp vùng nô nức hiến bù rù, xập xoảng, chiêng, chuông đồng của các nhà dân cho nghĩa quân của Quang Trung. Cả một vùng ven rú Tán Sơn tiếng đe, tiếng búa rân ran. Nhân dân rất phấn khởi góp một phần công sức cho chiến thắng quân Thanh. “Noi gương tổ tiên đi trước, lớp con cháu, di duệ của cụ Mạc Đăng Lượng (họ Lê gốc Mạc) đã có những đóng góp to lớn… Tích cực tham gia sức người, sức của cho vua Quang Trung kéo quân ra Bắc đại phá quân Thanh 1788” (4).
Trong dân gian còn truyền tụng câu chuyện: Vua Quang Trung còn xem tướng số ở một ông thầy chiết tự trong vùng.. khi thầy đến, vua Quang Trung ăn mặc như một người nông dân, hỏi:
- Thầy giỏi chiết cho ta một tự xem thử hậu vận sau này thế nào?
Thầy tướng số bảo:
- Anh hãy viết một chữ, chữ gì cũng được, tôi sẽ đoán cho anh.
Quang Trung nói:
- Tôi không biết chữ?
Thầy tướng số lại nói:
- Anh không biết chữ à, thôi được, anh lấy chân gạch một gạch dưới đất.
Quang Trung ngồi ngay ngắn, rồi làm theo chỉ dẫn của thầy tướng số.
Sau khi ngắm nhìn gạch sổ dưới đất của Quang Trung, thầy tướng số xây xẩm mặt mày, vội quỳ xuống, phủ phục trước mặt Quang Trung, vái ba vái, rồi vẫn quỳ như cũ.
Quang Trung lấy làm lạ, liền đỡ ông thầy tướng số dậy và nói:
- Sao thầy lại lạy tôi, tôi là thường dân cơ mà.
Thầy tướng số phủi sạch đất trên tay và nói giọng run run:
- Thưa Ngài, Ngài nói Ngài không biết chữ à? Thần dân nhìn thấy cả rồi. Này nhé: chữ Nhất đè lên chữ Thổ là chữ Vương, là Vua. Bệ hạ là vua nước Nam ta. Bệ hạ đi đánh quân Thanh xâm lược, nhất định thắng rồi.
Quang Trung tươi cười, sai tả hữu lấy vàng bạc ra hậu tạ thầy tướng số.
Sau khi đánh tan 29 vạn quân Thanh xâm lược, trên đường về, đi qua đây, vua Quang Trung ăn mặc như một thầy đồ, cho mời thầy tướng số đến, hỏi:
- Tôi đi dạy học, nhưng mà không ai nuôi cơm ông ạ?
Thầy tướng số nói:
- Ngày mà là thầy đồ à? Nếu muốn tôi đoán cho, thì thầy hãy viết một chữ vào đây?
Thầy tướng số đưa cho Quang Trung một mảnh giấy.
Quang Trung viết một chữ: Vấn (chữ Hỏi).
Thầy trả lời:
- Ngài là bệ hạ, là vua nước Nam ta, con xin kính lạy Ngài. Chữ Vấn lật trở lại bên trái để thế là chữ Quân, bên phải lật nghiêng cũng thành chữ Quân. Mà chữ Quân là Vua.
Quang Trung nghe nói phục tài thầy tướng số. Để tỏ lòng tri ân người đã xem tướng cho mình, vua Quang Trung mời thầy vào kinh đô trọng thưởng rất hậu (5).
Quang Trung - Nguyễn Huệ, người anh hùng dân tộc có những kỷ niệm đẹp trên đất Nghệ An. Nhân dịp kỷ niệm 220 năm ngày Quang Trung chiến thắng quân xâm lược Thanh, chúng tôi viết bài này mong góp thêm một tư liệu nhỏ về cuộc đời người anh hùng áo vải trên mảnh đất xứ Nghệ.
Chú thích:
1/ Dẫn theo Chu Trọng Huyến: Nguyễn Huệ với Phượng Hoàng Trung Đô, Nxb Nghệ An, 2005, tr 92.
2/ Bùi Dương Lịch, Nghệ An ký, Nxb KHXH, Hà Nội 1993, tr 138.
3/ Lời kể của cụ Lê Tuấn, 82 tuổi, xóm 11, xã Xuân Hoà Nam Đàn, ngày 1 - 5 - 2008.
4/ Sách Trương Văn Lĩnh - Lê Hồng Sơn, Nxb Nghệ An, năm 2000, tr 217.
5/ Lời kể của cụ Lê Tuấn, 82 tuổi, xóm 11, xã Xuân Hoà Nam Đàn, ngày 1 - 5 - 2008.









