Xã hội hóa hoạt động khoa học và công nghệ ở Việt Nam
Theo đó, xã hội hóa hoạt động khoa học và công nghệ (KH&CN) bao hàm nhiều nội dung, trong đó tập trung vào quá trình mở rộng các thành phần xã hội tham gia hoạt động KH&CN và quá trình tăng tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức KH&CN vốn thuộc Nhà nước.
1. Tính tất yếu của xã hội hóa hoạt động KH&CN ở nước ta hiện nay
Xã hội hoá hoạt động KH&CN ở nước ta là một tất yếu phù hợp với quá trình đổi mới sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN), với xu hướng gắn kết chặt chẽ giữa KH&CN với sản xuất và đẩy mạnh phong trào phát huy sáng kiến và cải tiến kỹ thuật trong đội ngũ những người lao động.
Trước đây, cơ chế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp từng chi phối hoạt động KH&CN ở nước ta trong một thời gian dài. Đặc điểm cơ bản của cơ chế quản lý cũ là đề cao tuyệt đối vai trò của Nhà nước: hoạt động KH&CN được thực hiện trên cơ sở kinh phí Nhà nước cấp, bằng lực lượng của Nhà nước và thông qua biện pháp quản lý hành chính, trực tiếp từ Nhà nước. Trải qua thực tế, cơ chế quản lý kế hoạch hoá quan liêu, bao cấp đã bộc lộ rõ những hạn chế của mình. Một mặt, phạm vi hoạt động bị bó hẹp do giới hạn trong phần kinh phí của Nhà nước, đội ngũ nghiên cứu của Nhà nước, hệ thống tổ chức KH&CN thuộc Nhà nước. Hiệu quả sử dụng tiềm lực cho KH&CN không cao do chịu sự chi phối của phương thức quản lý mang nặng tính hành chính, bao cấp.
Cơ chế cũ cũng bỏ qua và thậm chí cản trở, kìm hãm việc huy động những tiềm lực to lớn trong xã hội cho hoạt động KH&CN. Đáp ứng đòi hỏi của cuộc sống, "Đổi mới" có sứ mệnh khơi dậy tiềm năng của toàn xã hội đóng góp vào sự nghiệp phát triển KH&CN và xã hội hoá hoạt động KH&CN chính là một biện pháp quan trọng phục vụ cho sứ mệnh đó.
Thị trường KH&CN có ý nghĩa rất quan trọng đối với phát triển KH&CN và kinh tế - xã hội ở nước ta như: phá vỡ tính khép kín trong hoạt động KH&CN giữa các bộ/ngành và địa phương; thúc đẩy liên kết nghiên cứu khoa học với sản xuất, thúc đẩy phối hợp công tác khoa học với xã hội và kinh tế; tạo điều kiện để cải cách phương thức cấp kinh phí cho các viện nghiên cứu, để các viện nghiên cứu có thể dần dần tự lo kinh phí của mình; thúc đẩy chuyển giao công nghệ; tạo điều kiện thuyên chuyển hợp lý và lưu động lao động KH&CN. Chính vì vậy Đảng và Nhà nước ta đã nhiều lần khẳng định phải tích cực phát triển thị trường này.
Để thị trường KH&CN tồn tại và phát triển, cần phải có những chủ thể thị trường. Các tổ chức thuộc Nhà nước mới chỉ có thể đóng vai trò là một bộ phận của chủ thể thị trường. Trong khi đó các tổ chức ngoài nhà nước là lực lượng to lớn có thể tham gia thị trường và thể hiện được sự độc lập tự chủ cao trong quan hệ sở hữu và quan hệ quản lý.
Thị trường KH&CN phải tồn tại trên nguyên tắc cạnh tranh. Cạnh tranh thị trường chỉ có thể thực hiện trên cơ sở xoá bỏ các quan hệ độc quyền của thành phần kinh tế nhà nước. Ngoài ra, cạnh tranh thị trường cũng đòi hỏi sự đa dạng, linh hoạt về lực lượng KH&CN.
Như vậy, có sự đồng hành giữa xã hội hoá hoạt động KH&CN và phát triển thị trường KH&CN xã hội hoá đã và đang được tiến hành rộng rãI trên nhiều lĩnh vực kinh tế, xã hội ở nước ta.
Trong kinh tế xuất hiện nhiều doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh. Trong giáo dục, đào tạo xuất hiện các trường dân lập. Trong y tế xuất hiện các bệnh viện tư. . . Đó vừa là nhữmg chủ thể hoạt động KH&CN, vừa là đối tượng tiếp nhận thành tựu KH&CN. Từ đây, đặt ra đòi hỏi phải xã hội hoá hoạt động KH&CN để tạo quan hệ tương thích giữa lĩnh vực KH&CN với các lĩnh vực kinh tế - xã hội khác.
Trong xu thế phát triển mới đang diễn ra trên thế giới, vai trò của KH&CN nổi bật hơn bao giờ hết. Quan hệ gắn kết nghiên cứu với sản xuất trở nên hết sức chặt chẽ. Một khía cạnh cơ bản của gắn kết này là doanh nghiệp tham gia vào hoạt động nghiên cứu và phát triển (NC&PT).
Trước hết, các nhà doanh nghiệp đang phải giải quyết hai vấn đề dường như mâu thuẫn với nhau: một mặt, phải chế tạo những sản phẩm luôn mới hơn, dựa trên công nghệ hiện đại nhất; mặt khác, phải giảm triệt để giá thành cũng như thời hạn đưa sản phẩm ấy ra thị trường. Nhiệm vụ đầu đòi hỏi phải tiếp cận được với kiến thức khoa học của những tổ chức KH&CN hàng đầu, phải có khả năng tiến hành những nghiên cứu giàu trí tưởng tượng và phải tạo ra một môi trường thuận lợi cho sự đổi mới, sáng tạo.
Nhiệm vụ thứ hai đòi hỏi phải chú trọng kế hoạch hoá quá trình sản xuất ngắn hạn, bám sát vào thực tại và đi vào giải quyết những sự cố kỹ thuật cụ thể Nhà doanh nghiệp không phải chỉ biết kinh doanh mà còn phải biết về khoa học. Điều này hoàn toàn có thể thực hiện được, như nhận định của Alvin Tomer về y học, hoàn cảnh hiện nay hoàn toàn thuận lợi cho mọi người, trong đó có doanh nhân tiếp xúc với khá nhiều tri thức khoa học, vốn trước kia là độc quyền của giới chuyên môn. Đồng thời, trên thực tế việc nâng cao tri thức khoa học của nhà doanh nghiệp không phải lúc nào cũng được coi trọng khiến sự gắn kết nghiên cứu với sản xuất bị ảnh hưởng. Ngay ở Mỹ, một trong những vấn đề của nền kinh tế được nhóm nghiên cứu Viện Massachusett tìm ra là: người quản lý xí nghiệp Mỹ được đào tạo tốt về nghiệp vụ như một nghề quản lý nhưng phần lớn không xuất thân từ cán bộ công nghệ nên ít nhạy cảm với đổi mới công nghệ.
Thứ hai, doanh nghiệp đầu tư khá lớn cho nhà nghiên cứu khoa học cùng với đầu tư, hoạt động nghiên cứu cũng chiếm phần đáng kể trong quy mô hoạt động của doanh nghiệp. Bản thân doanh nghiệp được tổ chức lại để gắn kết chặt chẽ giữa bộ phận nghiên cứu với các bộ phận khác, nhất là bộ phận maketing. Các biện pháp giảm sự ngăn cách các bộ phận có thể là kích thích quay vòng công việc giữa các bộ phận, hợp tác toàn thể bộ phận dưới hình thức các nhóm theo những dự án cụ thể... Về quan hệ bên ngoài, doanh nghiệp cũng tăng cường mối liên kết với các lược lượng nghiên cứu khác trong khuôn khổ hệ thống đổi mới quốc gia.
Thứ ba, tính thiếu hoàn hảo của thị trường KH&CN bộc lộ rõ hơn trong bối cảnh phát triển mới: Do bất cập về mua bán, lưu thông tri thức nên doanh nghiệp phải phát triển những tri thức nội bộ và sử dụng trong nội bộ để thu được giá trị cao nhất.
Trong nông nghiệp, gắn kết chặt chẽ nghiên cứu với sản xuất cũng là cơ sở hình thành phương thức nghiên cứu có sự tham gia của nông dân (Farmer Participatory Research - FPR): nghiên cứu được xuất phát từ nông dân, do nông dân đặt kế hoạch và thực hiện trong sự hợp tác giữa nông dân và cán bộ nghiên cứu.
- Phát triển phong trào phát huy sáng kiến cải tiến kỹ thuật từng rất được chú ý từ lâu ở nước ta. Tuy nhiên, những gì diễn ra trên thực tế vẫn chưa như mong muốn. Chưa hình thành một phong trào sáng tạo kỹ thuật có ý nghĩa khơi dậy và phát huy tiềm năng sáng tạo từ dân chúng trên các mặt: đặt người lao động trước những yêu cầu đòi hỏi về mặt kỹ thuật và tạo điều kiện cho họ cảm nhận rõ nhu cầu đó; xã hội thừa nhận sự tìm tòi của bất kỳ ai nếu họ có đóng góp; tạo làn sóng ganh đua và bổ sung phát triển các sáng kiến của nhau; hình thành các sáng kiến mang tính đồng bộ. Hơn thế, phong trào này dường như lại có phần lắng xuống trong thời gian gần đây do xu hướng sùng bái công nghệ nhập ngoại, xã hội hoá hoạt động KH&CN chính là góp phần thúc đẩy phong trào phát huy sáng kiến cải tiến kỹ thuật trên cơ sở thu hút mọi người tham gia tích cực vào hoạt động KH&CN.
2. Một số đặc điểm nổi bật của xã hội hóa hoạt động KH&CN
2.1. Mở rộng các đối tượng tham gia vào hoạt động KH&CN
Nội dung mở rộng các đối tượng tham gia hoạt động KH&CN được thể hiện trên nhiều mặt:
- Khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham gia hoạt động KH&CN. Thực hiện sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế trong hoạt động KH&CN.
- Tăng cường chức năng nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ trong các doanh nghiệp. Khuyến khích doanh nghiệp đầu tư cho KH&CN, thu hút và sử dụng đội ngũ nhân lực nghiên cứu, tổ chức hoạt động NC&PT trong doanh nghiệp. Điều này liên quan tới hình thành những doanh nghiệp kiểu mới mà các học giả trên thế giới đã nói đến (Rothwell, 1974 và Freeman, 1982). Đó là các doanh nghiệp có các bộ phận NC&PT và marketing gắn kết, quan hệ chặt chẽ với nhau...
- Khuyến khích mọi người dân tham gia vào hoạt động KH&CN. Tạo môi trường hoạt động sáng tạo trong các tổ chức kinh tế - xã hội và trong xã hội. Phát huy tiềm năng của người dân không chỉ trong tuyên truyền phổ biến kiến thức KH&CN mà cả trong nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ. Tổ chức thông tin, tuyên truyền rộng rãi những thành quả KH&CN của người dân. Khắc phục quan điểm cho rằng lực lượng cán bộ tham gia NC&PT phải gắn liền với tổ chức KH&CN. Trên thực tế, nhiều người không thuộc các tổ chức KH&CN vẫn có thể tham gia NC&PT tốt. Lịch sử thế giới từng biết đến các nhà sáng chế tài năng hoạt động trong các đơn vị sản xuất như J. Watt, A. Darby, J.Kay. . . hay nhà khoa học Lengomoro suốt cả cuộc đời làm việc ở các xí nghiệp công nghiệp và đã giải quyết hàng loạt nhiệm vụ kỹ thuật to lớn trong công nghiệp làm bóng đèn, đồng thời, trong khi tiến hành những công việc này, ông đã có hàng loạt nghiên cứu cơ bản về khoa học điện tử và trong vật lý chân không.
- Tăng cường vai trò của các tổ chức xã hội (Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh, Đoàn Thanh niên, Hội Khuyến học...) trong hoạt động KH&CN. Đưa phổ biến kiến thức KH&CN trở thành một nội dung quan trọng trong sinh hoạt của các tổ chức xã hội.
Đương nhiên, mức độ và tính chất tham gia vào hoạt động KH&CN của các đối tượng xã hội phải phù hợp với năng lực KH&CN của mình. Sự phù hợp là rất quan trọng để thống nhất được cả hai mục tiêu: mở rộng lực lượng xã hội tham gia hoạt động KH&CN và đảm bảo chất lượng hoạt động KH&CN. Cũng nên cảnh giác với xu hướng biến hoạt động KH&CN (nhất là hoạt động nghiên cứu khoa học) thành phong trào mang tính hình thức và dẫn tới tầm thường hoá nghiên cứu khoa học.
Với các nội dung trên, xã hội hoá sẽ tạo ra bộ mặt mới trong hoạt động KH&CN với những lực lượng mới, nguồn đầu tư mới, đối tượng hưởng thụ mới, phương thức quản lý mới... và hứa hẹn mang lại các tác dụng mới.
2.2. Quan hệ cạnh tranh và phối hợp giữa các đối tượng tham gia hoạt động KH&CN
Quan hệ giữa các đối tượng xã hội tham gia hoạt động KH&CN phải vừa là cạnh tranh, vừa là phối hợp. Cạnh tranh thể hiện trên các mặt:
- Cạnh tranh trong thu hút nhân tài;
- Cạnh tranh trong thu hút nguồn tài chính;
- Cạnh tranh trong trao đổi sản phẩm nghiên cứu.
- Phối hợp giữa các đối tượng thể hiện trên các mặt:
- Phối hợp trong giải quyết những vấn đề lớn;
- Phối hợp giữa các lĩnh vực KH&CN;
- Phối hợp giữa các khâu trong quá trình từ nghiên cứu đến sản xuất;
- Phối hợp giữa các đối tượng khác nhau và phối hợp giữa các đối tượng cùng loại (như giữa các doanh nghiệp vừa và nhỏ).
- Môi trường bình đẳng cho cạnh tranh và môi trường hợp tác giữa các đối tượng tham gia xã hội hoá hoạt động KH&CN có ý nghĩa rất quan trọng. Đồng thời việc xây dựng môi trường bình đẳng phải tính đến nhiều mặt. Theo kinh nghiệm của Trung Quốc, để tạo điều kiện cạnh tranh công bằng cho xí nghiệp KH&CN dân doanh, họ đă đề ra khá nhiều quy định và đề xuất cụ thể như: Quỹ Sáng tạo công nghệ xí nghiệp KH&CN vừa và nhỏ đã được thành lập, giúp đỡ có trọng điểm cho hoạt động sáng tạo công nghệ của xí nghiệp KH&CN, trong đó bao gồm xí nghiệp KH&CN dân doanh. Các loại quỹ chuyên ngành phát triển KH&CN do địa phương thành lập, cũng phải cung cấp cho hoạt động sáng tạo của xí nghiệp KH&CN dân doanh. Tạo điều kiện cho xí nghiệp KH&CN dân doanh có đề tài nghiên cứu khoa học theo kế hoạch nhà nước, và khi đã có đề tài thì các viện nghiên cứu, trường đại học của nhà nước phải mở cửa phòng thí nghiệm cho phép họ sử dụng tài nguyên KH&CN nhà nước có hoàn trả. Tích cực giải quyết vấn đề bảo đảm vay của xí nghiệp KH&CN dân doanh, cơ quan bảo đảm tín dụng xí nghiệp vừa và nhỏ của các địa phương phải đưa xí nghiệp KH&CN dân doanh vào phạm vi phục vụ bảo đảm, phân tán rủi ro vay, giúp đỡ xí nghiệp KH&CN dân doanh nhận được khoản vay cho đề tài nghiên cứu khoa học. Tất cả các chính sách liên quan tới việc nhà nước khuyến khích xí nghiệp xuất khẩu phải phát huy đầy đủ tác dụng quan trọng của xí nghiệp KH&CN dân doanh trong mở rộng xuất khẩu sản phẩm công nghệ cao và dịch vụ có liên quan. Trong hưởng thụ chính sách thuế của chính phủ, quyền lợi hợp pháp của xí nghiệp KH&CN dân doanh được đảm bảo một cách đầy đủ. Cho phép xí nghiệp KH&CN dân doanh phù hợp điều kiện, thông qua các chương trình như phát hành chứng khoán và cổ phiếu, tham gia thị trường vốn quốc tế... để huy động phát triển vốn.
Về môi trường hợp tác, mối quan hệ hợp tác không phải chỉ giữa viện nghiên cứu tư nhân với viện nghiên cứu Nhà nước, doanh nghiệp với viện nghiên cứu, mà chú ý cả những người nông dân có sáng kiến với tổ chức KH&CN. Minh chứng cho điều này là đề xuất kiến nghị của ông Nguyễn Cẩm Lũy trong Báo cáo tham luận tại Hội nghị toàn ngành triển khai Chiến lược phát triển KH&CN đến năm 2010 và Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Trung ương 9, khoá IX (do Bộ Khoa học và Công nghệ tổ chức tại Hà Nội, tháng 4/2004) là "... ). Trước tiên, tôi luôn khẳng định mình chỉ là một "người thợ dân gian", vì vậy lúc nào tôi cũng rất trân trọng những đóng góp kiến thức, kinh nghiệm, tri thức của cô bác, anh em gần xa và đặc biệt là của các nhà khoa học chuyên ngành; được cộng tác với các trường và trung tâm khoa học ứng dụng chuyên ngành để lạo cơ hội trao đổi những hiểu biết và kinh nghiệm tôi có được) tiếp nhận sự giúp đỡ từ mọi phía dù là cá nhân, tổ chức của Nhà nước trong lĩnh vực khoa học - kỹ thuật, hợp tác với mọi thành phần để đủ lực xử lý các công trình quy mô rộng lớn và quan trọng hơn".
Nhấn mạnh điều này cũng là khẳng định lại tinh thần được nêu trong Nghị quyết số 51 (năm 1981 ), của Bộ Chính trị về chính sách khoa học và kỹ thuật của nước ta khi đề cập tới việc phát động phong trào "Phải kết hợp hoạt động của lực lượng nòng cốt là đội ngũ cán bộ khoa học và kỹ thuật với phong trào quần chúng rộng rãi".
2.3. Nhà nước đóng vai trò quan trọng trong xã hội hoá hoạt động KH& CN
So với thời kỳ kế hoạch hóa tập trung quan liêu, bao cấp trước đây, vai trò Nhà nước trong bối cảnh xã hội hóa hoạt động KH&CN không mất đi, tuy nhiên có sự thay đổi. Để xã hội hóa hoạt động KH&CN diễn ra thuận lợi và hiệu quả yêu cầu đặt ra đối với Nhà nước là tạo môI trường pháp lý, hỗ trợ hoạt động KH&CN của các lực lượng xã hội,..tuyên truyền nâng cao nhận thức về KH&CN của người dân, phát triển hạ tầng KH&CN...
Nhấn mạnh vai trò của Nhà nước nhằm thúc đẩy xã hội hóa hoạt động KH&CN cũng là phù hợp với kinh nghiệm của thế giới. Ngay cả nhĩmg nước có truyền thống về phát triển thị trường, về xã hội hóa hoạt động KH&CN, các chức năng của Nhà nước vẫn được khẳng định, chẳng hạn như trong cuốn Sách trắng về khoa học và đổi mới của Chính phủ Anh được xuất bản tháng 7/2000 đã xác định vai trò của Nhà nước là: i) nhà đầu tư chủ chốt về cơ sở hạ tầng khoa học; ii) người tạo điều kiện thuận lợi cho sự hợp tác giữa các trường đại học với doanh nghiệp; iii) người điều tiết sự đổi mới, kể cả việc thúc đẩy niềm tin của công chúng vào khoa học.
3. Một số gợi ý đối với Việt Nam trong việc tiếp tục thúc đẩy xã hội hoá hoạt động KH&CN qua kinh nghiệm quốc tế
Ở nước ta, thu hút rộng rãi các thành phần xã hội tham gia vào hoạt động KH&CN từng được đề cập nhiều trong các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Đặc biệt, đã có những biện pháp chính sách cụ thể phát huy tác dụng trên thực tế về các mặt: mở rộng các đối tượng tham dự vào tuyển chọn chủ nhiệm, chủ trì nhiệm vụ KH&CN các cấp; khuyến khích, hỗ trợ doanh nghiệp hoạt động KH&CN, đẩy mạnh phong trào sáng kiến cải tiến kỹ thuật; tăng cường nội dung KH&CN trong hoạt động khuyến công, khuyến nông...; khuyến khích thành lập tổ chức KH&CN thuộc mọi thành phần kinh tế . . .
Đồng thời, bên cạnh những bước chuyển biến đáng kể, xã hội hóa hoạt động KH&CN ở nước ta vẫn còn các hạn chế thể hiện ở mức đầu tư của xã hội cho KH&CN, mức độ và tính chất tham gia vào hoạt động KH&CN của các thành phần xã hội; hiệu quả của các hoạt động KH&CN mà công chúng tham gia... Như vậy, vẫn cần phải có các giải pháp tiếp tục thúc đẩy xã hội hóa theo hướng mở rộng các thành phần xã hội tham gia hoạt động KH&CN. Dưới đây xin nêu một số kinh nghiệm nước ngoài có ý nghĩa tham khảo đối với chúng ta.
3.1. Kinh nghiệm về nâng cao nhận thức của xã hội đối với KH&CN
Một trong những điển hình về kinh nghiệm nâng cao nhận thức của xã hội đối với KH&CN là trường hợp của Nhật Bản. Để tăng tốc phát triển kinh tế và rút ngắn khoảng cách tụt hậu so với các nước đi đầu, Nhật Bản rất coi trọng vai trò của KH&CN. Khẩu hiệu thường được nói đến trong thời kỳ sau Thế chiến thứ Hai là: “Phát triển KH&CN phải được theo đuổi không ngừng như là một mục tiêu quốc gia". Nhật Bản cũng cảm nhận rõ hạn chế về nhận thức từ quần chúng là trở ngại to lớn đối với phát triển KH&CN. Nỗ lực nâng cao nhận thức xã hội Nhật Bản về KH&CN đã được thực hiện bằng nhiều biện pháp, trong đó có những biện pháp rất đáng lưu ý:
Trước hết, thái độ của Chính phủ có ý nghĩa làm gương cho quần chúng nhân dân. Chính phủ Nhật Bản đă tiến hành nhiều hoạt động phục vụ phát triển KH&CN thông qua việc tổ chức và không ngừng kiện toàn bộ máy quản lý về KH&CN, ban hành và thực thi các chính sách ưu đãi... Nhưng dường như ấn tượng hơn cả đối với người dân lại chính là những biểu hiện của người đứng đầu Chính phủ. Thủ tướng Nhật Bản từng thu hút sự chú ý của xã hội bởi các việc làm cụ thể của mình như: trực tiếp đảm nhiệm vai trò Chủ tịch Uỷ ban Quản lý khoa học kỹ thuật (thành lập tháng 5/1956) và Chủ tịch Hội đồng KH&CN (thành lập tháng 2/1959); chỉ đạo kiên quyết và sát sao những chương trình KH&CN trọng điểm, điển hình là thành lập Sở chỉ huy xây dựng thành phố khoa học Tsukuba trong Văn phòng Thủ tướng (tháng 9/1963) và thành lập Hội đồng Phát triển vũ trụ (chuẩn bị cho chương trình phát triển vũ trụ quy mô lớn) trong Văn phòng Thủ tướng (tháng 6/1960); Thủ tướng Nhật Bản trực tiếp trao tặng nhiều giải thưởng khuyến khích hoạt động nghiên cứu như Huy chương dải băng vàng, Huy chương dải băng tím, Huy chương dải băng xanh... Vượt ngoài những tác động trực tiếp, hoạt động của người đứng đầu Chính phủ có hiệu ứng lan toả khá rộng trong xã hội Nhật Bản.
Nhằm làm cho người dân hiểu rõ sự cần thiết của KH&CN, Chính phù Nhật Bản đã phát động "Tuần lễ KH&CN", "Ngày phát minh sáng chế", "Ngày năng lượng nguyên tử"... Trong Tuần lễ KH&CN nhiều hoạt động khác nhau được tổ chức bao gồm các nghi lễ chính thức, mở cửa các viện nghiên cứu quốc gia cho công chúng vào tham quan, nói chuyện, triển lãm, chiếu phim, hội thảo và các hoạt động khác có liên quan tới KH&CN.
Nhật Bản cũng đã chú trọng đến việc thành lập các tổ chức truyền bá KH&CN. Quỹ Thúc đẩy KH&CN Nhật Bản được thành lập năm 1960 có vị trí như là một tổ chức trung tâm cho các hoạt động liên kết chính phủ và phi chính phủ để truyền bá và mở mang tri thức KH&CN. Đồng thời, các trung tâm sáng chế đã được thành lập với sự hỗ trợ của các chính quyền địa phương khác nhau nhằm thúc đẩy hoạt động sáng chế (Hiroshima, Kinki và Okayama năm 1960; Niigata và Hyogo năm 1961; Gumma năm 1962).
Sự tích cực và bền vững trong nhận thức vai trò KH&CN của công chúng gắn liền với hiểu biết sâu sắc của họ về KH&CN. Nhật Bản đã coi trọng điều này bằng cách công bố rộng rãi Sách trắng KH&CN. Cục KH&CN đã công bố Sách trắng KH&CN lần đầu tiên vào năm 1958, lần thứ hai vào năm 1962 và mỗi năm một lần kể từ sau năm 1964. Sách trắng KH&CN là báo cáo hàng năm về thực trạng, định hướng và chính sách phát triển KH&CN của Chính phủ.
Để xoá đi mặc cảm khoa học là cái gì đó xa lạ, khó hiểu, Viện Bảo tàng về khoa học đã được xây dựng và mở cửa đón mọi người dân vào thăm quan. Đó là nơi trưng diễn các sáng tạo và thực nghiệm tại chỗ về những công nghệ tiên tiến và là nơi người ta có thể trao đổi với các diễn giả là các nhà khoa học nổi tiếng thông qua những buổi thuyết trình đề tài khoa học.
Trường hợp Thái Lan cũng là một điển hình khác. Chiến lược nâng cao nhận thức và hiểu biết của công chúng về KH&CN là một trong 5 chiến lược được chú ý đến trong Kế hoạch quốc gia về KH&CN Thái Lan (2004 - 2013). Chiến lược này bao gồm các biện pháp chủ yếu như: Đưa ra cơ chế hỗ trợ cho quá trình nghiên cứu KH&CN và tư duy sáng tạo đối với giới trẻ và công chúng; khuyến khích các nhà khoa học, chính trị gia đóng một vai trò quan trọng trong việc phổ biến tri thức và giới thiệu thông tin liên quan tới KH&CN trên các phương tiện truyền thông đại chúng; thành lập Trung tâm Nghiên cứu KH&CN trên mọi lĩnh vực và phát triển các kênh thông tin để phổ biến tri thức KH&CN và thành tựu nổi bật; khuyến khích các phương tiện truyền thông đại chúng phát triển nội dung và thông tin về KH&CN, đặc biệt những thông tin liên quan đến đời sống hàng ngày và những thông tin hỗ trợ phát triển các ngành công nghiệp mũi nhọn; phát triển cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin và truyền thông nhằm mở rộng khả năng truy cập thông tin trên toàn quốc.
Chiến lược nâng cao nhận thức và hiểu biết của công chúng về KH&CN của Thái Lan cho thấy những nỗ lực nhằm gắn kết chặt chẽ giữa nhận thức về vai trò KH&CN với hiểu biết KH&CN và năng lực sáng tạo KH&CN của công chúng; tạo ra nhiều cơ hội tiếp cận KH&CN đối với mọi thành phần trong xã hội; sử dụng các cơ chế khác nhau để tác động vào công chúng . . .
3.2. Kinh nghiệm về nhà nước xây dựng hệ thống thông tin mang tính chất cơ bản, nền tảng cho hoạt động KH&CN
Chính phủ nhiều nước đã chú trọng xây dựng hệ thống cơ sở thông tin KH&CN phổ biến rộng rãi trong xã hội. Tại Nhật Bản, hăm 1956, Cục KH&CN (STA) ra đời và một trong những chính sách đầu tiên của STA là thành lập Trung tâm Thông tin KH&CN (JICST) vào năm 1957. JICST đã phát triển như một cơ quan trung ương cung cấp thông tin KH&CN ở Nhật Bản. Đến năm 1970, thực hiện "Chính sách cơ bản về cung cấp thông tin KH&CN", Hệ thống Thông tin KH&CN (NIST) được hình hành với mục tiêu để nhiều cơ quan thông tin tiến hành các chức năng độc lập có thể chia sẻ và phối hợp với nhau, để liên kết chúng dưới sự kiểm soát của chính phủ và cuối cùng là xây dựng được một hệ thống cung cấp thông tin KH&CN toàn quốc đáp ứng các nhu cầu khác nhau của người dùng tin. Gần đây, theo "Đạo luật Xúc tiến và nâng cao công nghệ sản xuất cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN)" ban hành năm 2006, Nhà nước đã có Chương trình hỗ trợ việc chuyển giao công nghệ cơ bản của các DNVVN. Trên cơ sở sử dụng công nghệ thông tin, chương trình này sử dụng các công cụ để lựa chọn, số hoá và phạm trù hoá các công nghệ, kỹ năng và bí quyết quan trọng nổi bật đối với DNVVN. Từ đó cho phép chia sẻ và chuyển giao rộng rãi các công nghệ, kỹ năng và bí quyết mà trước đây chỉ có một số ít nhân viên được biết.
Một dạng thông tin cơ bản, nền tảng nữa là kết quả của các hoạt động dự báo công nghệ do nhà nước tiến hành, kế hoạch phát triển công nghệ, lộ trình công nghệ do nhà nước xây dựng.
Hoạt động dự báo công nghệ (Technology Forecasting - TF) là việc xem xét một cách các hệ thống toàn cảnh công nghệ có thể xảy ra trong tương lai, giúp dự đoán được tốc độ tiến bộ của công nghệ. TF bao gồm: theo dõi môi trường công nghệ, dự đoán những thay đổi của công nghệ, xác định công nghệ bằng việc đánh giá các khả năng lựa chọn. Dự báo công nghệ có ý nghĩa quan trọng đối với doanh nghiệp trong hoạch định công nghệ, xây dựng chiến lược công ty nói chung và tiến hành mua bán công nghệ nói riêng. Tuy nhiên, đây là hoạt động phức tạp và tốn kém cần sự sự hỗ trợ từ bên ngoài - nhất là đối với DNVVN. Tổ chức tư vấn môi giới chuyển giao công nghệ cũng cần nắm được các vấn đề về dự báo công nghệ để phục vụ hoạt động tư vấn và môi giới của mình. Đồng thời đây cũng là vấn đề mà các tổ chức này không dễ tự mình giải quyết.
Dự báo công nghệ không chỉ có ý nghĩa riêng đối với doanh nghiệp và tổ chức tư vấn, môi giới chuyển giao công nghệ. Bản thân nhà nước cũng cần áp dụng dự báo công nghệ trong hoạch định chính sách KH&CN, chẳng hạn như đưa vào dự báo công nghệ khi xác định các hướng ưu tiên trong chiến lược phát triển KH&CN...
Như vậy, vừa là nhu cầu hỗ trợ từ phía doanh nghiệp và tổ chức tư vấn, môi giới chuyển giao công nghệ, vừa là yêu cầu của công tác quản lý nhà nước; nhà nước cần phát triển hoạt động dự báo công nghệ và cung cấp kết quả cho xã hội.
Trong các báo cáo về Chính sách công nghệ của Chính phủ Ấn Độ năm 1985 có đề cập tới sự cần thiết có những cơ chế để dự báo công nghệ (TF), theo dõi công nghệ (TM) và đánh giá công nghệ (TA). Tiếp theo, năm 1988, Hội đồng Thông tin, Dự báo và Đánh giá Công nghệ (TIFAC) được thành lập với chức năng dự báo công nghệ và tìm biện pháp giúp các ngành và doanh nghiệp phát triển theo hướng mà lộ trình công nghệ đã vạch ra. TIFAC đã xây dựng được gần 200 tài liệu, báo gồm hầu hết các ngành kinh tế Ấn Độ, từ lĩnh vực nông nghiệp đến môi trường và vật liệu. Một công trình dự báo công nghệ lớn ở quy mô toàn quốc với sự tham gia của 5.000 chuyên gia đã được tiến hành trong thời gian từ 1994 - 1996 và kết quả đã xây dựng được 25 bộ tư liệu với nhan đề: "Tầm nhìn Công nghệ tới năm 2020 ở Ấn Độ".
3.3 . Kinh ngh iệm về vai trò Nhà nước trong liên kết giữa các thành phần xã hội trong hoạt động KH& CN
Thường có không ít các vướng mắc, cản trở mối liên kết giữa các thành phần xã hội trong hoạt động KH&CN cần hỗ trợ của nhà nước để vượt qua như: thiếu kinh phí cho các hoạt động liên kết; những khác biệt giữa viện, trường và doanh nghiệp... Nói cách khác, liên kết trong hoạt động KH&CN đặt ra nhiều vấn đề mà các thành phần xã hội không thể tự giải quyết, do vậy cần sự tham gia, tác động của nhà nước.
Có những điểm đáng lưu ý trong tác động của nhà nước vào liên kết hoạt động KH&CN như:
- Chương trình cứng là một hình thức mà nhiều nước sử dụng nhằm tác động vào liên kết KH&CN.
Chương trình hỗ trợ của nhà nước cho liên kết KH&CN tồn tại rất phổ biến và phong phú. Có thể nêu lên các dẫn chứng như: Luật hợp tác nghiên cứu và phát trên (CRADA) của Mỹ tạo điều kiện cho các đối tác của khu vực tư nhân được tự do đề nghị việc hợp tác ở các lĩnh vực thuộc phạm vi nhiệm vụ nghiên cứu của các phòng thí nghiệm của Chính phủ Liên bang; Chương trình xây dựng cơ chế liên hợp "Sản xuất - học tập - nghiên cứu ở Trung Quốc có nhiệm vụ xúc tiến và khuyến khích xây dựng quan hệ hợp tác ổn định, mở cửa giữa phần lớn xí nghiệp quốc doanh loại lớn với các trường đại học, cao đẳng, viện, trung tâm nghiên cứu khoa học; trong Chương trình Đổi mới công nghệ của Chile, có một bộ phận Quỹ thúc đẩy Nghiên cứu KH&CN Quốc gia (FONDEF) nhằm vào tăng cường năng lực của các cơ quan NC&PT quốc gia và tăng cường liên kết giữa cơ quan NC&PT phi lợi nhuận và ngành công nghiệp; Quỹ ICES/KIS ở Hà Lan nhằm tài trợ cho các dự án hợp tác giữa viện và doanh nghiệp; Hội đồng khoa học Quốc gia (NSC) của Đài Loan lập ra chương trình "hợp tác nghiên cứu giữa ngành công nghiệp và trường đại học" thực thi từ năm 1992 ...
Nhà nước thường hỗ trợ cho quan hệ liên kết KH&CN gắn vào những hướng ưu tiên cụ thể. Chẳng hạn trong Chương trình Pro Inno (Hỗ trợ nâng cao năng lực đổi mới của DNVVN) của Cộng hòa Liên bang Đức có các loại dự án liên quan tới liên kết viện, trường với doanh nghiệp như KF (Các dự án hợp tác giữa doanh nghiệp và cơ sở nghiên cứu) và KA (Các dự án hợp tác của doanh nghiệp thông qua hợp đồng giao việc với cơ sở nghiên cứu). Điều kiện được nhận tài trợ ở đây là hướng tới sự tăng trưởng rõ rệt về thứ hạng của công nghệ và năng lực công nghệ; một lĩnh vực công nghệ mới hoặc là sự kết hợp một số chuyên ngành công nghệ; cộng tác nghiên cứu lần đầu, cộng tác nghiên cứu với nhiều đối tác hoặc đối tác nước ngoài. Ở Mỹ, hỗ trợ của Chính phủ cho việc thiết lập quan hệ hợp tác giữa viện, trường và doanh nghiệp được nhấn mạnh vào thúc đẩy phát triển các hướng nêu trong Sáng kiến KH&CN quốc gia - công nghệ nanô, công nghệ than sạch và pin nhiên liệu là những sáng kiến gần đây nhất của Chính quyền Liên bang. Bộ KH&CN Philippines cũng đang tích cực hỗ trợ các NC&PT mang tính hợp tác về robot, trí tuệ nhân tạo và xử lý ảnh. Như vậy, có thể thấy khuyến khích liên kết KH&CN thường đặt trong một số ưu tiên chung về phát triển KH&CN của nhà nước.
Một đặc điểm nổi bật là phần lớn các chương trình nhằm vào mối quan hệ giữa trường, viện của nhà nước với doanh nghiệp tư nhân. Điển hình như Chương trình các Trung tâm hợp tác nghiên cứu (CRC) của Úc; Chương trình LINH của Anh,... Ngoài ra, tài trợ thông qua các chương trình thường có điều kiện và giới hạn. Chương trình tài trợ của Uỷ ban Công nghệ và đổi mới (CTI) của Thụy Sỹ yêu cầu các đối tác tư nhân đầu tư vào một dự án ít nhất là phải tương đương với một đối tác do nhà nước tài trợ. Dự án liên quan tới liên kết viện, trường với doanh nghiệp như KF (Các dự án hợp tác giữa doanh nghiệp và cơ sở nghiên cứu) thuộc Chương trình Pro Inno (Hỗ trợ nâng cao năng lực đổi mới của DNVVN) của Đức phân biệt rõ tỷ lệ phần trăm có thể tài trợ: doanh nghiệp thuộc những bang cũ của Đức là 35%, doanh nghiệp thuộc các bang mới sau khi thống nhất nước Đức là 45%, doanh nghiệp thuộc Đông Berlin là 40%; cơ sở NC&PT hoạt động với một phần từ ngân sách và kết quả NC&PT được dùng chung thì có thể được tài trợ 75%, cơ sở NC&PT hoạt động với nhiều kinh phí từ ngân sách và kết quả NC&PT được dùng chung thì có thể được tài trợ 60%, cơ sở NC&PT tư nhân khác có thể được tài trợ 45%.
- Tác động của nhà nước vào liên kết hoạt động KH&CN được nói đến nhiều trong thời gian gần đây như là một phần của đổi mới chính sách ở các nước. Tại một số trường hợp, tác động của nhà nước vào liên kết viện, trường còn xuất hiện trong những kế hoạch dành cho tương lai như chủ trương "Thay vì chú trọng vào năng lực công nghệ của từng hãng, nay chuyển sang chú trọng vào mối quan hệ liên kết..." được nêu trong Chiến lược KH&CN hướng vào thế kỷ XXI của Canada, chủ trương "Thúc đẩy đổi mới công nghệ thông qua một loạt dự án/chương trình hợp tác" !à một trong các nguyên tắc cơ bản trong Chiến lược KH&CN của CHLB Đức khi bước vào thế kỷ XXI. Là một hướng đi mới, chắn chắn ở đây sẽ còn không ít những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện...
-Tham gia vào hỗ trợ cho quan hệ liên kết KH&CN gồm có nhiều cấp chính quyền. Bên cạnh chính quyền trung ương, chính quyền địa phương ngày càng thể hiện rõ vai trò của mình trong thúc đẩy những liên kết giữa các lực lượng trên địa bàn. Ví dụ, Chương trình FIRST ở Bỉ yêu cầu các chính quyền vùng chịu trách nhiệm chi lương cho các nhà nghiên cứu, ít nhất là 2 năm, để thực hiện các dự án có thể đem lại những kết quả cho ngành công nghiệp trong vùng. Một trong ba hướng của chương trình này là FIRST- Europenhằm vào tài trợ cho các nhà nghiên cứu tham gia các dự án hợp tác với một đối tác công nghiệp của vùng.








