Vệ sinh an toàn thực phẩm - Nỗi băn khoăn lo lắng của toàn xã hội
Theo báo cáo giám sát của Ủy ban thường vụ Quốc hội: “ lượng sữa ở Việt Nam chủ yếu là do nhập khẩu, năm 2008 sữa nhập khẩu chiếm 72% (trong đó 50% là sữa bột nhập để hoàn nguyên) sữa tươi sản xuất trong nước chỉ chiếm 28%”. Như vậy, bà con nông dân chăn nuôi bò sữa không thể cạnh tranh được, do quy mô nhỏ bé bao giờ cũng đi liền với giá thành cao; mặt khác, mặt hàng sữa kém chất lượng bị thu giữ có xu hướng ngày càng tăng, nếu năm 2004 có 967 hộp, năm 2007 có 21.998 hộp thì đến năm 2008 là 71.728 hộp; sữa có hàm lượng protein thấp, không đúng tiêu chuẩn công bố, ảnh hưởng lớn đến chi tiêu, niềm tin của người tiêu dùng. Trong đó các đối tượng chịu ảnh hưởng nặng nề nhất là trẻ em, người già, người bệnh. Thực phẩm không an toàn, không đảm bảo vệ sinh không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe nhân dân, đến lợi ích của người tiêu dùng, mà còn tác động đến sự phát triển kinh tế - xã hội và di truyền giống nòi, thực sự đang là nỗi băn khoăn lo lắng của toàn xã hội.
Thực tế công tác quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm tuy đã có rất nhiều cố gắng nhưng vẫn chưa đáp ứng được kỳ vọng của nhân dân, các cơ quan có chức năng quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm mới chỉ quan tâm tập trung khi có dịch bệnh xảy ra, hoặc trong các đợt phát động phong trào tháng hành động về VSATTP, chưa thực sự thực hiện chức trách của mình một cách thường xuyên, liên tục. Một bộ phận lớn thực phẩm kém chất lượng đều nhập qua con đường tiểu ngạch, nhưng giải pháp hạn chế, ngăn ngừa chưa có tính thuyết phục cao.
Việc xây dựng hệ thống quản lý, thanh tra, kiểm tra và quy định trách nhiệm của các cơ quan quản lý Nhà nước, cũng như công tác tuyên truyền, giáo dục kiến thức về VSATTP cho người dân, đặc biệt là nhân dân vùng nông thôn và quy định vai trò, trách nhiệm đối với cộng đồng của các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm chưa được quan tâm đúng mức.
Điều lo lắng là các cơ sở kiểm nghiệm VSATTP của ta hiện nay: cán bộ vừa thiếu vừa yếu; thiếu trang thiết bị, thiếu hóa chất… nên rất khó để có thể phát hiện được thực phẩm kém chất lượng kịp thời, chính xác. Gần đây một số vấn đề liên quan đến quản lý an toàn vệ sinh thực phẩm, sự khác biệt giữa các kết quả phân tích kiểm tra chất lượng sản phẩm vừa gây không ít khó khăn cho người sản xuất vừa tạo thêm lo lắng cho người tiêu dùng trong khi chúng ta đang cố gắng tạo những ưu thế nhất với cương vị một thành viên bình đẳng của tổ chức thương mại thế giới (WTO).
Như vậy, biện pháp nào để bảo vệ người dân trước nguy cơ thực phẩm không đảm bảo VSATTP? Không những thế làm thế nào quản lý được tốt chất lượng nông, thủy sản, thực phẩm Việt Nam (và nhập khẩu) không nhiễm vi sinh, không chứa hóa chất ngoài danh mục cho phép, hay bị nhiễm hóa chất quá giới hạn cho phép nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh doanh nghiệp, bảo đảm an toàn cho người tiêu dùng, góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế - xã hội của đất nước? Một mặt cần phải có hình thức xử phát nghiêm khắc đối với các cơ sở có hành vi vi phạm về VSATTP, mặt khác, cần đầu tư nghiên cứu khoa học và công nghệ trong việc phục vụ kiểm soát, cảnh báo nguy cơ ô nhiễm thực phẩm trong sản xuất, chế biến thực phẩm an toàn; Đầu tư hệ thống phòng kiểm nghiệm đủ năng lực và theo tiêu chuẩn quy định về phục vụ quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm; Khuyến khích, hỗ trợ hoặc cho vay vốn để các cơ sở sản xuất, chế biến, kinh doanh thực phẩm đổi mới công nghệ, mở rộng quy mô sản xuất, áp dụng hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến như HACCP, GAP, ISO… xây dựng thương hiệu, cung cấp thực phẩm an toàn cho người tiêu dùng được yên tâm trong các bữa ăn hàng ngày; Khuyến khích và đầu tư cho Hội, Hiệp hội thực hiện một số công việc như xây dựng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật an toàn thực phẩm, tuyên truyền giáo dục kiến thức, hiểu biết phát luật về VSATTP cho người sản xuất kinh doanh và tiêu dùng thực phẩm; Quy hoạch vùng sản xuất thực phẩm an toàn, vùng sản xuất rau sạch, cơ sở giết mổ tập trung có kiểm soát; đặc biệt là tăng cường thanh tra chuyên ngành ở địa phương vì các hoạt động sản xuất, kinh doanh thực phẩm chủ yếu ở địa phương. Việc quản lý chất lượng thực phẩm cho chăn nuôi cũng cần phải khắt khe như thực phẩm dành cho người.
Cần có chính sách khuyến khích, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho những đơn vị, doanh nghiệp làm ăn chân chính, “ vì nước – vì dân ” phát triển ngày càng mạnh mẽ, và trở thành những tập đoàn, những Công ty phân phối hàng thực phẩm mạnh, chi phối phần lớn hàng hóa, thực phẩm đảm bảo VSATTP của cả nước; làm chỗ dựa tin cậy cho người tiêu dùng và cũng là niềm tự hào của đất nước, để dẫn dắt các đơn vị khác. Có như thế mới mong cải thiện, tiến tới xóa bỏ tình trạng bất ổn về VSATTP như hiện nay.
Trong khi các cơ quan chức năng còn chưa làm tốt công tác kiểm tra, kiểm soát và nhiều nhà sản xuất còn chưa tuân thủ những quy định về VSATTP thì người tiêu dùng phải tự trang bị kiến thức về VSATTP, khi lựa chọn thực phẩm cần quan tâm đến thương hiệu, thời hạn sử dụng, các chỉ tiêu dinh dưỡng và chỉ tiêu liên quan đến VSATTP ghi trên nhãn hàng. Luật ATTP đã được Quốc hội thông qua gồm có 11 chương và 72 điều, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2011, sẽ là hành lang pháp lý phòng ngừa ngăn chặn và khắc phục sự cố về ATTP.
Thực chất để giải quyết tốt vấn đề này thì cần phải có những biện pháp đồng bộ từ mọi người chúng ta, từ người quản lý, người sản xuất, đến người tiêu dùng đều phải tuân thủ nguyên tắc thực hiện sản xuất, tiêu dùng vì mục tiêu giữ gìn sức khỏe cho thế hệ hôm nay và cả thế hệ con cháu chúng ta ngày mai.








