Về những nguyên nhân các dự án nhiệt điện chậm tiến độ đưa vào vận hành
Những nguyên nhân chậm tiến độ được các đại biểu nêu ra gồm những nguyên nhân chủ quan và khách quan, trong đó chủ quan được coi là những nguyên nhân quan trọng. Chúng tôi xin tóm lược một số nguyên nhân chủ yếu sau:
1/ Về mặt quy hoạch
Chúng ta đã có các quy hoạch chiến lược phát triển ngành điện (được gọi là các tổng sơ đồ điện III, IV, V, VI). Đúng ra tại các quy hoạch này, quy mô công suất, thời điểm xuất hiện và sự đóng góp của từng dự án vào công suất và điện năng của hệ thống đã được khẳng định. Song do các dự án điện không được đưa vào đúng tiến độ đã định, mặt khác trong những năm qua, tốc độ tăng trưởng phụ tải lớn hơn tốc độ tăng trưởng dự kiến nên các quy hoạch điện đã nhanh chóng bị lạc hậu so với thực tế, một số quy hoạch điện phải hiệu chỉnh nhiều lần như quy hoạch điện V, VI.
Hơn nữa ngay trong các quy hoạch, nhiều điều kiện để thực thi đự án chưa được đặt ra và chưa có sự phối kết hợp với các quy hoạch khác như quy hoạch khai thác than, dầu khí, quy hoạch giao thông, cảng biển, quy hoạch sử dụng đất đai của địa phương.
Cũng cần lưu ý rằng các dự án điện khi đã có mặt trong quy hoạch điện thì được bỏ qua giai đoạn lập báo cáo tiền khả thi nghĩa là về mặt chủ trương đã được chấp nhận đầu tư. Vì vậy, những vấn đề cơ bản sau đây của dự án phải được khẳng định:
- Địa điểm triển khai đự án
- Quy mô công suất của dự án
- Thời điểm xuất hiện của dự án
- Vị trí của dự án trong hệ thống điện (vấn đề đầu nối và cấp điện áp đấu nối với hệ thống điện)
- Nguồn than và chất lượng than cấp cho nhà máy.
Trong các quy hoạch đã công bố, nhiều vấn đề trên chưa được khẳng định, thường chủ yếu mới chỉ khẳng định về quy mô công suất của dự án, còn về địa điểm thì có dự án được khẳng định, có dự án còn mờ nhạt, nguồn than và chất lượng than chưa rõ. Đành rằng khi triển khai các bước tiếp theo của dự án, các vấn đề trên sẽ được chính xác hoá và khẳng định, song nếu những vấn đề trên đã được xác định tương đối rõ thì nhiều vấn đề trước khi triển khai dự án sẽ có thể chuẩn bị trước như giải phóng mặt bằng (một vấn đề thường làm chậm tiến độ của hầu hết các dự án), triển khai công tác khảo sát địa chất, thuỷ văn…
Rút kinh nghiệm từ quy hoạch điện VI, mới ban hành chưa được 3 năm đã lạc hậu so với tình hình thực tế, quy hoạch điện VII sắp tới cần được xây dựng chi tiết hơn, với các thông tin liên quan đến mỗi dự án được xác định rõ ràng hơn để sao cho dự án khi triển khai ít bị vướng mắc.
Hiện nay theo quy định các dự án xây dựng nhà máy điện được triển khai theo các bước sau:
- Lập báo cáo dự án đầu tư và thiết kế cơ sở (tức báo cáo khả thi), được bỏ qua giai đoạn báo cáo tiền khả thi (tức báo cáo đầu tư),
- Lập hồ sơ mời thầu, chấm thầu và ký kết hợp đồng giao thầu,
- Thiết kế thi công,
- Thi công xây dựng dự án,
- Chạy thử nghiệm thu.
Tuỳ dự án, tuỳ chủ đầu tư, đa số các dự án hiện nay đã gộp khâu thiết kế kỹ thuật và thiết kế thi công làm 1 giai đoạn.
Giai đoạn lập và phê duyệt báo cáo dự án đầu tư - thiết kế cơ sở thường kéo dài hàng năm, thậm chí vài năm, nhất là đối với những dự án mà điều kiện ban đầu đặt ra đã bị thay đổi (như Dự án Ninh Bình 2 phải chuyển địa điểm về Thái Bình thành dự án Thái Bình 1, Dự án Thái Bình 2 phải thay đổi than dùng từ than cám 5 sang than cám 6B nên phải thay đổi công nghệ lò hơi từ đốt than bột (lò PC) sang đốt lớp sôi (lò CFB) và do đó phải thay đổi cấu hình từ 1 lò – 1 tuabin – 1 máy phát sang cấu hình 2 lò – 1 tuabin – 1 máy phát, nghĩa là phải lập lại báo cáo dự án đầu tư và thiết kế cơ sở.
2/ Việc chọn nhà thầu
Nhà thầu chính (nhà tổng thầu EPC) và các nhà thầu phụ được lựa chọn thông qua đấu thầu hoặc chỉ định thầu. Trong hồ sơ mời thầu thường yêu cầu các nhà thầu có kinh nghiệm đã thực hiện ít nhất 2 dự án ở vị trí dự thầu. Có nhiều nhà thầu chào giá rẻ nhưng năng lực kinh nghiệm tổng thầu còn ít nên khi triển khai xây dựng dự án thường không đạt tiến độ. Các hợp đồng giao thầu thường quy định nếu không đạt tiến độ thì sẽ bị phạt chậm tiến độ (phạt không quá 10% giá trị hợp đồng giao thầu) nhưng việc chậm tiến độ vẫn xảy ra do chính nguyên nhân về phía nhà thầu.
3/ Về công nghệ của nhà máy nhiệt điện
Nhà máy nhiệt điện là một nhà máy có công nghệ rất phức tạp, các công đoạn có liên hệ chặt chẽ với nhau và có tác động qua lại đến nhau. Trình độ tự động hoá của nhà máy rất cao, giai đoạn hiệu chỉnh sau khi xây lắp xong nhà máy tốn nhiều công sức và thời gian. Nếu các điều kiện thực tế khác nhiều so với các điều kiện ban đầu đặt ra như chất lượng than… thì thời gian hiệu chỉnh nhà máy sẽ kéo dài.
Các nhà máy điện ở miền Bắc đều dùng than ở khu mỏ Quảng Ninh, là than antraxit ít chất bốc, rất khó cháy, cộng thêm nếu nhà thầu thiếu kinh nghiệm về việc đốt than antraxit ít chất bốc thì thời gian hiệu chỉnh lò hơi càng kéo dài, làm chậm tiến độ đưa vào vận hành nhà máy dẫn đến thời điểm để chạy nghiệm thu đưa vào vận hành thương mại càng chậm, kể cả thời gian chạy thử nghiệm thu cũng sẽ bị kéo dài.








