Về một tâm thế biên khảo nhân đọc một quyển ngữ vựng mới
Thành phần nhóm biên soạn cuốn này khác với cuốn kia, nhưng cả hai đều có chủ biên là nhà ngôn ngữ học Hoàng Phê (1919-2005).
Từ điển tiếng Việtcủa Viện Ngôn ngữ học, ở bản in thứ 12 (Đà Nẵng 2006) gồm 39 924 từ. Từ điển tiếng Việtcủa Vietlex, bản in lần đầu (Đà Nẵng 2007) gồm 45 757 từ.
Tuy nhiên, khác biệt giữa hai cuốn chủ yếu không ở khuôn khổ sách hay số lượng từ mục. Nếu cuốn đã in tới 12 lần nói trên, gần gũi với các cuốn từ điển Việt ngữ khác ở chỗ các ví dụ về thực tiễn sử dụng từ hầu như được các soạn giả tự đặt ra (vì không hề cho biết tác giả nào khác đã dùng từ như thế), thì ở cuốn mới này, các nét nghĩa của mỗi từ thường được minh chứng bằng các ví dụ rút từ thực tiễn sử dụng của những tác giả cụ thể. Chẳng hạn, ở từ “định đoạt”, cuốn cũ (của Viện Ngôn ngữ, viết tắt VNN) sau khi định nghĩa (= quyết định dứt khoát, dựa vào quyền hành tuyệt đối của mình) đã minh họa bằng ví dụ, không biết của ai: “Các dân tộc tự định đoạt lấy vận mệnh của mình”; trong khi, cũng từ đó, cuốn mới (của Vietlex) sau khi định nghĩa hệt như trên, đã minh hoạ bằng một câu văn của Nguyễn Công Hoan trong tác phẩm Trên đường sự nghiệp: “Đã đành rằng cậu mợ cho con quyền kén chọn, nhưng sự định đoạt nên hay không vẫn ở cậu mợ”.Thêm một ví dụ khác, ở từ “động đậy”, cuốn của VNN, sau khi định nghĩa (= chuyển động một ít, thường trong khi bắt buộc phải ở trạng thái yên), đã minh hoạ bằng 2 ví dụ không rõ tác giả: “Ngồi yên không động đậy”; “Có cái gì động đậy trong bụi”; cũng từ đó, cuốn của Vietlex, sau khi định nghĩa tương tự (=[vật sống] chuyển động chút ít [thường trong khi lẽ ra phải ở trạng thái yên]), đã minh hoạ bằng đoạn văn của Nam Cao trong Chí Phèo: “Hắn làm như gật đầu. Nhưng cái đầu không động đậy, chỉ có cái mí mắt là nhích thôi”.
Tất nhiên trong cách tiếp cận này, các soạn giả cũng bộc lộ những ngộ nhận khá ấu trĩ, ví dụ xem Stephen W. Hawking, nhà bác học người Anh vốn chưa biết tiếng Việt, như một trong những tác giả được tham khảo và trích dẫn về thực tiễn sử dụng tiếng Việt! (trong khi hẳn là chỉ có bản dịch tiếng Việt tác phẩm của Hawking là có thể liên quan đến việc sử dụng tiếng Việt mà thôi, và vì vậy tên người cần nêu sẽ phải là dịch giả; đối với các trường hợp tác phẩm chữ Hán của tác gia Trung Quốc và Việt Nam được dẫn dụng, lẽ ra cũng phải được nêu rõ như vậy, bởi đây là từ điển tiếng Việt ghi bằng chữ quốc ngữ).
Tóm lại, chỗ mới mẻ hơn, công phu nhiều hơn, và đáng khích lệ hơn ở cuốn Từ điển tiếng Việtcủa Vietlex, là ở chỗ đã đưa − dưới dạng hiển thị − thực tiễn sử dụng tiếng Việt của hàng trăm tác giả vào công trình của các nhà ngữ học. Vốn từ tiếng Việt được tập hợp không chỉ từ các nguồn dân gian như ca dao, tục ngữ, hoặc từ các nguồn đã trở thành vốn kinh điển như truyện thơ nôm…mà còn từ các nguồn sáng tác văn học tiếng Việt hiện đại và đương đại.
Như ta biết, vốn từ của một sinh ngữ (= ngôn ngữ sống) được bảo tồn và làm giàu thêm bởi cộng đồng người sử dụng nó, trong đó đáng chú ý hàng đầu là những người làm các công việc sáng tạo tri thức (ở mọi lĩnh vực tự nhiên, xã hội-nhân văn), sáng tạo nghệ thuật (trước hết là nghệ thuật ngôn từ, tức là cái ta vẫn gọi là văn học).
Bởi vậy, nhìn vào phạm vi khai thác vốn từ ngữ từ các nguồn hữu danh (các ngữ đoạn được trích dẫn có tên tác giả) ở cuốn từ điển này, ta có thể thấy một sự thiếu sót lớn, nó là hệ quả của một tâm thể biên khảo thiên lệch, đáng cảnh báo.
Đáng cảnh báo ở chỗ nào? Ở một tâm thế biên khảo quá thiên về nguồn ngôn ngữ nghệ thuật, trong khi đó gần như bỏ qua nguồn ngôn ngữ luận thuyết, nghị luận; tức là quá chú trọng nguồn ngữ liệu rút từ các sáng tác thơ, truyện, ký…, gần như bỏ qua nguồn ngữ liệu rút từ các công trình sáng tạo và thông tin tri thức.
Trong số gần 400 tác giả có tác phẩm được dẫn làm ngữ liệu cho các mục từ, tuyệt đại đa số là nhà thơ nhà văn, với các tác phẩm được dẫn dụng là thơ, truyện, bút ký…tức là văn nghệ thuật nói chung.
Trong số tác giả này, có không ít những cái tên mà trong giới văn chương hình như chưa ai biết, những cái tên chưa thể coi là nhà thơ nhà văn (tôi miễn dẫn lại những tên tuổi này); thế thì ngữ liệu rút từ tác phẩm của những tác giả như thế liệu đã đạt chuẩn tiếng Việt hay chưa, liệu đã đáng lấy làm mẫu mực cho người ta noi theo trong khi học hỏi và sử dụng tiếng Việt hay chưa?
Ngay trong số các tên tuổi tạm coi là có thể tin cậy được về văn chương, ta cũng thấy những thiên lệch nực cười. Cứ theo thống kê ở cuối sách mà so, đã thấy như thế; chẳng hạn Vũ Trọng Phụng chỉ có 15 tác phẩm được khai thác, cạnh đấy Vũ Tú Nam có tới 29 tác phẩm được khai thác; − giá trị so sánh giữa hai nhà văn họ Vũ này, ai trong giới văn chương người Việt đều biết, thế thì sao nhà ngôn ngữ học lại thiên lệch theo chiều ngược với giá trị thực? Hay là vì nhà khoa học đo giá trị theo thành tích ngoài văn chương (một ông từng bị cấm tác phẩm liền 30 năm, còn ông kia đã từng là quan chức đứng đầu hội nhà văn)? Cũng đáng suy nghĩ khi Tố Hữu có 42 tác phẩm được khai thác, trong khi Tản Đà chỉ có 8 tác phẩm được khai thác. Và nếu đem thêm nhiều trường hợp nữa ra so sánh, hẳn còn thấy nhiều điều đáng suy nghĩ nữa.
Một điểm khác, số tác giả hoạt động văn học ở miền Nam thời kỳ 1954-75 có tác phẩm được các nhà ngôn ngữ học khai thác ở cuốn sách này là cực ít và hoàn toàn mang tính cách ngẫu nhiên (Nhã Ca − 1 tác phẩm; Nguyên Sa − 2, hình như chỉ có thế!), vì thế có thể nói rằng thành tựu sáng tạo tiếng Việt của cả một mảng văn học lớn đã bị bỏ qua!
Thế nhưng dẫu sao trên đây chỉ mới là những chuyện thiên lệch đối với các nguồn ngữ liệu khai thác từ tác phẩm của giới làm thơ viết truyện; điều đó cho thấy những soạn giả ngữ học ở cuốn từ điển này mặc nhiên coi giới làm thơ viết truyện hầu như là giới duy nhất tham gia sáng tạo tiếng Việt!
Tôi nói những soạn giả ngữ học ở cuốn từ điển này đã coi giới làm thơ viết truyện hầu như là giới duy nhất sáng tạo ngôn ngữ, sáng tạo tiếng Việt, bởi vì số học giả, những người hoạt động cũng bằng ngôn ngữ văn tự, cũng viết tiếng Việt, thậm chí có khi tạo ra được lối viết hay, ở đây hoàn toàn bị các nhà ngữ học này loại trừ.
Xem thật kỹ bảng thống kê cuối sách mới thấy lẻ tẻ dăm ba tác giả thuộc loại sáng tạo tri thức lọt được vào sách này: Đào Duy Anh với duy nhất 1 tác phẩm được khai thác: Việt Nam văn hoá sử cương; Trần Trọng Kim với Việt Nam sử lược; rồi Phạm Quỳnh với 2 tác phẩm Tuyển tập và di cảo; Hành trình nhật ký; Phan Kế Bính với Việt Nam phong tục; Hoài Thanh và Hoài Chân với Thi nhân Việt Nam 1932-41;và có một nhà kinh tế (?) lọt được vào đây: Đặng Mộng Lân với tác phẩm Kinh tế tri thức − những khái niệm và vấn đề cơ bản; một nhà giáo lọt vào đây như một tác gia văn chương nghiệp dư: Văn Như Cương với Hoa chanh trái vụ. Tất cả chỉ có thế. Không có các tác giả chính luận, không có các nhà khoa học, không có các nhà nghiên cứu lịch sử, nghiên cứu văn hoá nghệ thuật, phê bình văn nghệ… Không có Trường Chinh và Lê Duẩn, Trần Đức Thảo và Hoàng Xuân Hãn, Cao Xuân Huy và Đặng Thai Mai, Trần Quốc Vượng và Phan Huy Lê, Hoàng Tụy và Phan Đình Diệu, Hoàng Phê và Hoàng Tuệ, v.v. và v.v…
Họ và giới của họ, − giới những người sáng tạo và thông tin tri thức, kể cả giới của những nhà ngữ học tham gia thực hiện công trình từ điển ta đang bàn này, − có tham gia hoạt động ngôn ngữ tiếng Việt hay không? Hoạt động ngôn ngữ ấy có làm giàu vốn từ và các chuẩn mực ngôn ngữ hay không? Khó mà nói rằng không! Vậy thì tại sao lại gạt cả một thực tế lớn của hoạt động ngôn ngữ này ra khỏi mối quan tâm của mình với tư cách nhà ngữ học trong khi mình đang làm cái công việc tổng kết thực tiễn sử dụng tiếng Việt sau một quãng thời gian lịch sử? −Xin hỏi các nhà ngữ học trong Vietlex là đồng soạn giả quyển Từ điển tiếng Việtvừa ra mắt?
Cái mà tôi tạm gọi là tâm thế biên khảo ngữ vựng quá thiên về nguồn ngôn ngữ thơ văn, và gần như bỏ qua nguồn ngôn ngữ luận thuyết, nghị luận, −một tâm thế như là gói trong nó cái tự ti hèn yếu của giới biên khảo, −tất nhiên, có nguồn cội sâu xa. Rất xa là thói quen trong tâm lý người xưa xem trọng thứ văn chương phù phiếm, thứ văn chương từng khiến người ta một bước thành quan. Gần hơn là cách đối xử của “cơ chế” một thời chưa xa, theo đó, chỉ người làm thơ viết văn mới được xem là chủ thể của văn học, mới thuộc diện nhân sự được cơ cấu vào các ban bệ của những hội văn chương bao cấp các cấp, từ trung ương đến tỉnh thành, v.v… Tâm thế này phổ cập trong xã hội cả một thời gian dài, đến nay chừng như vẫn còn dai dẳng, đã gây không ít hệ quả tai hại.
Ảnh hưởng của tâm thế nói trên đến công trình biên soạn ngữ vựng tiếng Việt của nhóm Vietlex, có thể nói đã làm lệch hẳn mối quan tâm tập hợp ngữ liệu văn hoá-lịch sử của họ; việc thiếu vắng nguồn ngữ liệu của thực tiễn ngôn ngữ luận thuyết, nghị luận, thiếu sự tiếp cận nghiêm túc đối với thực tiễn sáng tạo và thông tin tri thức bằng tiếng Việt, như đã nêu ra ở trên, không gì khác hơn, chỉ làm yếu đi giá trị cần có ở công trình của họ mà thôi. Nhưng đây là điều hoàn toàn có thể sửa chữa, bổ sung.
Nguồn: TC “Thể thao - Văn hoá” (24,25/10/07)








