Văn hoá rượu cần Thái
Ở nghĩa thứ nhất, chỉ mùi vị đặc trưng của rượu cần; nghĩa thứ hai tưởng không dính dáng gì đến rượu, nhưng xét kỹ cũng thấy là một cụm từ chỉ cách thức riêng khi muốn làm rượu cần. Người Thái thường sấy khô các loại ngũ cốc (nguyên liệu để làm rượu) trên ránh bếp và để lâu cho nhiễm khói, dính bồ hóng, một trong những yếu tố quan trọng tạo nên hương vị đặc biệt của rượu cần. Cho nên, khi thưởng thức loại rượu cần làm bằng “sắn gạc nai” ( mển khổ) - loại nguyên liệu để làm ra rượu cần đặc trưng Thái, người ta thường “chơi chữ” Láu xa, xa mển khổđể khen rượu ngon (vì “xa” là tên rượu, là vị rượu, cũng là nguyên liệu dùng làm rượu).
Rượu cần Thái được ủ từ loại men tự chế. Nguyên liệu làm men là bột gạo nếp kết hợp với khoảng 20 loại củ, cây, lá khác nhau, được gọi chung là co péng láu(cây men rượu) hay co da láu(cây thuốc men - rượu). Những loại củ, cây, lá này thường có vị chủ là cay nóng như giềng, trầu không, lá dọng dẹng, lá hang én, nhân trần… Tuỳ theo nhu cầu chế biến ra loại rượu cần có vị ngọt ( láu bản), chua ( láu xốm), đắng ( láu khổm) mà quyết định mức độ sử dụng các loại “cây men rượu” ra thành bột, trộn với bột nếp, cho vừa nước vào nào rồi nặn thành từng bánh. Dùng đầu ngón tay (hay đầu đũa) ấn lên mặt bánh, tạo những lỗ lõm để đổ rượu có độ mạnh vào nhằm khích thích sự lên men. Gói, đậy kín ủ cho đến khi mặt bánh xuất hiện lớp mốc, dậy mùi thơm của rượu là đã thành men, hong phơi cho khô, rồi cất lên ránh bếp dùng dần.
Tất cả các loại ngũ cốc đều chế biến được thành rượu cần. Nhưng nguyên liệu được đồng bào ưa thích nhất là “sắn gạc nai”. Sắn càng được sấy lâu ngày thì càng tốn vì khi luộc (hay đồ), sắn rất dẻo, lên men thành cơm rượu không mủn ra làm rắt cần khi hút, lại giữ được chất rượu qua những lần châm thêm nước. Mặt khác, bồ hóng bám vào sẽ tạo thêm vị the cho rượu. Sắn là cây lương thực mới được đồng bào người Thái du nhập, nguyên liệu làm rượu ở đây từ xa xưa là nếp. Cũng vì thế mà câu: Láu xa, xa mển khổ, có người vội cho là không ổn. Nhưng tập quán trong nông nghiệp từ xa xưa là khi thu hoạch, lúa được hong phơi ngoài đồng rồi mới mang về để lên thán (gác); khi nào muốn dùng đến thì lấy để lên ránh bếp cho khô thêm. Muốn có vò rượu ngon thì phải sấy kỹ, làm cho hạt lúa cứng đanh lại. Vỏ trấu đã “dính” mùi khói bếp có tác dụng làm cho cơm rượu không bị mủn ra, không lọt được vào ống hút (cần), và khi uống lại có thêm vị the, cho nên câu: Láu xa, xa mển khổvẫn đúng.
Nếu làm rượu bằng nếp, người ta để cả vỏ trấu, rửa sạch rồi đem nấu bung lên, khi chín thì dỡ ra, chờ cho nguội rồi mới rắc men ủ. Thời gian ủ từ 3 - 5 ngày (do men không được mạnh). Khi làm thành cơm rượu thì trộn thêm vỏ trấu sạch không quá nát, cho vào chum, dùng tro bếp trộn với đất sét bịt miệng chum lại, để nơi khô, ấm, thoáng mát. Thường là sau 15 ngày trở đi rượu mới ngon, được nhiều nước và khi uống có vị cay, tê nơi đầu lưỡi.
Rượu cần được đồng bào dùng trong sinh hoạt hàng ngày, đặc biệt là sinh hoạt cộng đồng, tiếp khách, ma chay, cưới xin, hội họp… Người Thái có thành ngữ: Kháu láu: nâng rượu nói chung và rượu cần nói riêng lên ngang tầm với cơm gạo. Tiêu chí về một cuộc sống sung túc là Pay kin pa; ma lín láu; táu, non xứa hôm pha(Đi ăn cá; về nhà uống rượu; ở, nằm đệm đắp chăn). Tục ngũ cũng có câu: Pí nọng mà, lung ta táu; Khá cay, khảy láu(Anh em đến, thông gia tới; giết gà, mở rượu) hay ở tầm cao hơn vế sau là Láu xi, mủ há(rượu đãi, lợn mổ) để biểu thị một việc đáng vui, phải vui, đó là tập quán tiếp đãi khách, cũng ẩn chứa một hàm ý: Đã có cuộc vui là có rượu cần và ngược lại.

Vui - mở rượu cần; mở rượu cần phải vui, theo đúng phong tục cũ thì phải tuân thủ cách thức uống được nâng lên tầm nghi thức và trở thành phép tắc, tiếng Thái gọi là hịt láu(luật - cách thức uống rượu). Không quy định số lượn khách nhưng người tổ chức tiệc rượu cần mời khách ngồi theo cơ cấu, tôn ti. Thường là những vị cao tuổi, có uy tín và vị trí quan trọng trong gia đình, dòng họ, xã hội thì được ngồi trang trọng. Nếu có mặt người họ ngoại của gia chủ phải bố trí ngồi cạnh người có vị trí quan trọng trong họ hàng thân thuộc, thường là ở năm tang nưa(hàng phía trên) là dãy chạy sát vách nhà. 






