Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ hai, 06/10/2008 14:35 (GMT+7)

Văn hoá gia tộc Ra-glai - đối tượng văn hoá cần được trân trọng gìn giữ và phát huy

Như đã dẫn, do nhiều nguyên nhân, văn hoá làng Ra - glai đã từ lâu không còn nữa. Trong mỗi thôn mới hiện nay, các di sản văn hoá - văn nghệ dân gian như trang phục truyền thống, lễ hội, sử thi, dân ca, nhạc cụ, chuyện cổ… nếu còn được bảo lưu, chúng sẽ tồn tại phân tán trong từng gia đình, từng người ở nhiều tộc họ khác nhau. Ở những thôn nào, trong gia tộc có nhiều gia đình, nhiều thành viên, chiếm số đông trong thôn mới, vị trưởng tộc lại may mắn còn sống thì chắc chắn ở đó sẽ còn bảo lưu được nhiều tài sản, di sản văn hoá - văn nghệ dân gian của gia tộc - một “mảng vỡ lớn” của văn hoá làng xưa - được mang về thôn mới sau ngày giải phóng.

Thực tiễn này đang tồn tại ở các làng Ra - glai hiện nay.

Để giúp cho những đồng nghiệp, những người muốn tìm hiểu về văn hoá Ra - glai, để rút ngắn bớt thời gian và lộ trình tiếp cận, tôi xin được phép giới thiệu vài gia tộc Ra - glai tiêu biểu ở Ninh Thuận.

Từ kép gia tộcmà tôi nói ở đây là một đại gia đình nhưng không cùng sống trong một nhà dài như ở Tây Nguyên xưa mà đã tách ra thành nhiều gia đình nhỏ, sống quần tục gần nhau, mang cùng họ mẹ, cấm kỵ không được lấy nhau. Danh từ Tộc họ tôi dùng trong bài viết này là để chỉ cho những người Ra - glai có cùng một họ như: Taing, Katơr, Pinăng… nhưng có thể sinh sống ở nhiều làng khác nhau, có thể lấy nhau vì khác chi, không trực hệ, tuy vậy từ xa xưa họ ở cùng một gốc mà ra.

Trước khi giới thiệu một gia tộc tiêu biểu mang họ Taing ở thôn Là A, xã Phước Hà, huyện Ninh Phước, người viết xin giới thiệu một số nghệ nhân mang họ Taing ở khác xã, khác huyện mà vai trò của họ về văn hoá gia tộc đã góp phần rất quan trọng trong việc bảo lưu các di sản văn hoá dân gian của cả tộc người.

Bây giờ xin mời bạn đọc hãy đến làng Barau 2 thuộc xã Lợi Hải, huyện Thuận Bắc - nơi có nhiều người mang họ Taing, nơi trước đây trong thời kỳ Mỹ - nguỵ, chúng đã dồn dân Ra - glai về đây để thực hiện âm mưu “Tát nước bắt cá”.

Ban đầu tôi cũng tưởng rằng: ở một địa bàn gồm dân của hàng chục làng Ra - glai từ núi cao dồn về, làm gì còn gìn giữ được những di sản văn hoá của cha ông mình nữa, có tìm đến để sưu tầm nghiên cứu, chắc cũng hoài công. Nhưng không, tôi đã nhầm. Một trong những địa bàn thực tiễn sinh động đã minh chứng cho đề tài “ Trang phục cổ truyền Ra - glai” của tôi là có thực. Trong khi cả một vùng dân cư Ra - glai Nam kéo dài từ rẻo đất cuối cùng về phương Nam của tỉnh Bình Thuận ra đến xã Ma Nới, huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận, kể cả những gia đình mang họ Taing ở đây, không một nơi nào còn dấu vết của áo váy truyền thống và người dân cũng không biết là dân tộc mình có trang phục cổ hay không, thì ở đây, hiện nay trong thôn Baru 2 này lại còn rất nhiều phụ nữ mặc trang phục cổ truyền của dân tộc mình. Đó là những phụ nữ mang họ Taing mà người chuyên may áo váy truyền thống cho mình là bà Taing Thị Đợp. Đây là một minh chứng khẳng định rằng: “Người Ra - glai từ xưa vốn đã có trang phục truyền thống của mình” Áo Kuang và áo loah kuang (1).

Ngoài trang phục truyền thống Ra - glai đang hiện hữu ở đây, người Ra - glai ở thôn Barau 2 này còn có nhiều nghệ nhân sử dụng các loại nhạc cụ Chhar (mã - la), Sarakel, Kupoăt (kèn bầu), Koq t’lơr (đàn ống tre 12 dây, 6 phím), Chiek (chiêng)… còn giữ được các lễ hội dân gian truyền thống: Budhi Atau (Bỏ mả), “Bbâk padai birau” (ăn lúa mới)… còn có các nghệ nhân Suri ikhat yulukal (hát kể chuyện)…

Thế mới biết: càng bị áp bức, đoạ đày thì di sản văn hoá của cha ông, càng được giữ gìn cẩn thận và ngược lại.

Bây giờ bạn đọc hãy quay trở lại, theo đường quốc lộ 27 lên Ninh Sơn, rẽ vào làng Yarok, thuộc xã Ma Nới để lại tiếp tục gặp gỡ với gia tộc Taing ở làng này, để xem thử vai trò của họ ra sao trong việc bảo lưu các di sản văn hoá của cha ông mình. Tuy họ Taing ở đây, (thuộc vùng Tây Phước) do tính chất “Địa văn hoá” và hệ quả của việc dân cư bị xáo trộn trong một thời gian dài, phong tục, nghi lễ không giống như bà con họ Taing ở vùng Tương Phúc (gồm Hà - Dài, Do, Là - A, Giá. Rô-ôk…) nhưng kể về dân số thì ở đây cũng là nơi tập trung nhiều gia đình mang họ Taing sau làng Là -A.

Có thể nói rằng, trong toàn cõi Ra -glai (tức là cả Ra -glai Bắc và Nam ) không có một nơi nào còn lưu giữ được lễ hội tiêu biểu của người Ra -glai: Bbâk akoa padai (Ăn đầu lúa) như ở họ Taing làng Yarok. Những nghệ nhân tiêu biểu ở đây có thể nhắc đến là ông Taing Phân Hoa, người thông thạo nhiều về lễ nghi cúng tế, giỏi về hoà tấu nhạc cụ mã la đôi, biết làm trống đất và tạo tác ra nhiều loại nhạc cụ dân tộc. Ông Taing Lức giỏi về tấu mã la đối đáp, điêu luyện tiếng kèn Gadet và am tường nhiều phong tục Ra -glai Nam . Ông Taing An giỏi về nhiều mặt văn nghệ dân gian và là linh hồn của làng Yarok về tiếng kèn Sarakel trong các lễ hội. Kế tục sự nghiệp của ông Taing An, hiện nay là người cháu của ông, Anh Warringhong Nam .

Sau hai làng ngoại vi, giờ đây bạn đọc hãy đến làng Là -A, xã Phước Hà, huyện Ninh Phước, tâm điểm của một mô hình văn hoá gia tộc, thuộc nhánh Ra -glai Nam: Trong chiến tranh, Là -A có hai xã: Là -A trong và Là -A ngoài, toạ lạc trên núi cao, cách thôn mới ngày nay chừng nửa ngày đường. Ngày nay hai xã Là -A nhập lại thành một thôn mới, vẫn lấy tên cũ. Thôn Là -A hiện có 83 hộ, trong đó gia tộc Taing chiếm đến 80% (gồm hai chi: Taing Kuơh Bia (2) và Taing Jamok). Vị nữ tộc trưởng của họ Taing là bà Taing Thị Kiên, đến nay đã thọ gần 90 tuổi.

Gia tộc này còn bảo lưu được nhiều di sản văn hoá dân gian quý giá, một trong những gia tộc tiêu biểu hiếm hoi ở nhánh Ra -glai Nam . Trong khi cả xã Phước Hà, và Ma Nới hầu như không còn gia đình nào giữ được lễ “Ăn lúa mới” (3) (Bbâk padai birau) sau khi kết thúc một chu kỳ sản xuất trong năm, gia tộc Taing Kuơh Bia vẫn bảo lưu được một lễ hội với quy mô lớn hơn nhiều là lễ hội “Ăn đầu lúa” (Bbâk akoq padai). Vì họ là gốc, là con cháu của hai vị thuỷ tổ - thành hoàng Kay Kamu và Taing Kuơh Bia, gia tộc này còn bảo lưu được hai lễ hội rất độc đáo: Sôm và Chher(cúng cầu Kay Kamau - Kuơh Bia). Hai lễ này, vật hiến tế phải có heo nhưng không cắt tiết mà lại đập đầu do trong lễ kiêng màu máu (4).

Hiện nay ai đến khu mộ của thôn Là -A cũng có thể nhìn thấy một nhà mồ khác lạ, chung quanh dừng ván, mái lợp ngói. Đó là nhà mồ của ông Chamaleăq Hào, chồng của bà tộc trưởng Taing Thị Kiên. Ông Chamaleăq Hào theo vợ về sống ở Là -A nhưng gốc gác của mẹ ông sống ở nhanh Ra -glai Bắc nên khi chết đi, các con trai của ông ở Là -A dựng nhà mồ theo phong tục của quê cha ở vùng giáp ranh giữa nhánh Bắc và nhánh Nam (vùng Tây Phước, Ma Nới). Vì vậy trong khu mộ lại có một nhà mồ, ngoại tộc. Đã dựng nhà mồ tức phải hành lễ theo tục lệ Bỏ mả của nhánh Ra -glai Bắc, ngay tại một làng ở nhánh Ra -glai Nam . Điều này nói lên chỉ có gia tộc Taing thuộc nhánh Nam ở đây mới làm được một lễ hội Bỏ mả đặc biệt theo nhánh Bắc như vậy.

Một di sản khác có thể gọi là vô giá mà gia tộc này còn gìn giữ được là hát kể chuyện cổ: Anai Ptih koq dal, Anai Jajoai, Chay Blok, Chay Bloq Li-u, Ông Chru wah iku kingăn, Anai Atuq Ruvuk, Ja Balut, Anai jak Danăng, và 4 sử thi ngắn: Kay Kamau, Jurit Budu, Anai Mưpreh, Ano Jorong.

Nghệ nhân hát kể chuyện Chay Sut - Chay Lat, Anai ptih koq dal và sử thi Kay Kamu là ông Taing Yao, hát kể 8 truyện nêu trên cùng 4 sử thi và trên 10 truyện cổ khác là nữ nghệ nhân Taing Thị Rong. Bà là một nghệ nhân vừa được phong tặng danh hiệu Nghệ nhân Dân gian Việt Nam, một nghệ nhân rất khó tìm thấy người thứ hai trên toàn cõi Ra -glai về bảo lưu kho tàng chuyện cổ và hát kể chuyện cổ Ra -glai. Ngoài tài năng này ra, bà còn nhớ nhiều điệu hát dân ca và biết cả tấu mã -la, am tường nhiều lễ nghi phong tục của người Ra -glai nhánh phía Nam .

Trong gia tộc này, có hai người con trai là ông Taing Yao và Taing Hiền rất thông thạo về nguồn cội của gia tộc và tất cả những lễ hội dân gian ở nhánh Nam, ngoài họ ra còn là những tay mã -la điêu luyện, những nghệ nhân có giọng hát Kathơng tuyệt vời. Riêng ông Yao còn sử dụng được nhiều loại nhạc cụ khác. Rất tiếc, ông Taing Hiền đã sớm ra đi, mang theo 4 giọng điệu Kathơng khác nhau ở 4 làng xưa.

Ở đây còn nhiều nghệ nhân khác: ông Taing Chiến có thể thổi kèn bằng đầu lỗ mũi; ông Taing xem sành điệu với kèn sừng Radik và lại có cả hai đội mã -la (Chhar) thanh thiếu niên hoà tấu được nhiều bài.

Chỉ thế thôi, chúng ta đủ thấy gia tộc Taing ở Là -A và các nghệ nhân mang họ Taing ở các làng khác đang bảo lưu được những gì trong kho tàng vốn cổ của dân tộc Ra -glai và “Những mảng vỡ lớn” của văn hoá làng ngày xưa ấy rất đáng trân trọng và gìn giữ như thế nào, để góp phần bảo vệ bảo sắc văn hoá Ra -glai trong thời kỳ đầy biến động về giao lưu văn hoá toàn cầu này.

Tuy nhiên đây mới chỉ là một gia tộc được nói đến. Ở cả hai nhánh Ra -glai Bắc và Nam có khoảng 200 làng, hẳn còn nhiều gia tộc khác mà chúng tôi sẽ tiếp tục giới thiệu trong những bài tiếp theo, nhất là các gia tộc mang họ Katơr, Chamaleăq, Pinăng, Patâu Asah ở nhánh Ra -glai Bắc của tỉnh Ninh Thuận.

Chú thích

1. Áo kuang và áo loah kuang là áo cổ truyền của phụ nữ Ra -glai, vốn có từ một thế kỷ trước đây. Áo kuang vạt ngắn, ống tay dài, có 3 khoang màu đen trắng, ngực áo màu trắng, vạt áo và váy màu đen. Áo loah kuang thân dài đến dưới gối, màu sắc được bố trí như áo kuang. Hiện nay ở họ Katơr, làng Mati, Phước Tân; họ Chamaleăq, làng Ma Nai, Phước Thành (Bắc Ái); họ Taing, làng Bà rau 2, Lợi Hải (Thuận Bắc)… Phụ nữ Ra -glai đang tự may, mặc loại trang phục này với đồ trang sức cùng một kiểu cách giống nhau.

Xem trang phục cổ truyền Ra -glai. Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2 - 2002.

2. Họ Taing có 2 chi: Taing Kuơh Bia (họ gốc, con cháu của bà Taing Kuơh Bia, vợ của anh hùng Kay Kamau). Họ Taing là Là -A đang bảo lưu sử thi Kay Kamau. Taing Jamok là họ tách ra, gắn liền với sự tích Con muỗi. Kay Kamau và Kuơh Bia là thuỷ tổ của nhánh Ra -glai Nam .

3. Hàng năm, kết thúc mùa vụ có cúng “Ăn lúa mới”. Năm, bảy năm cúng lớn hơn, gọi là “Ăn đầu lúa”.

4. Do bị người anh đánh lừa nên Kay Kamau đã giết nhầm đứa con bằng 7 mũi tên của mình. Nay cúng ông, người Ra -glai tránh thấy máu vì sợ ông đau lòng nghĩ đến con mình (suy luận của người viết - người đã phát hiện và ghi âm sử thi này).

Nguồn: Dân tộc & Thời đại, số 121, 5 - 2008, tr 8

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Liên hiệp Hội Việt Nam chủ trì tổ chức họp các đoàn dự Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ XI
Căn cứ Thông tri số 10/TT-MTTQ-UB của Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam về việc triệu tập đại biểu dự Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ XI, với vai trò là Trưởng các Đoàn của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức Liên hiệp, Liên hiệp Hội Việt Nam đã chủ trì tổ chức họp các đoàn để triển khai thực hiện thông tri của MTTQ Việt Nam.
Thủ tướng Lê Minh Hưng lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Philippines
Nhận lời mời của Tổng thống nước Cộng hòa Philippines Ferdinand Romualdez Marcos Jr, Chủ tịch ASEAN năm 2026, ngày 7/5, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Lê Minh Hưng dẫn đầu Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Cebu, Philippines từ ngày 7 đến 8/5/2026.
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam: Điểm tựa khoa học công nghệ gắn với chuyển đổi số quốc gia
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam với gần 40 năm phát triển đang thể hiện rõ vai trò tổ tổ chức xã hội - nghề nghiệp uy tín trong lĩnh vực vô tuyến, điện tử, viễn thông, công nghệ thông tin đồng thời đóng góp thực chất vào tiến trình chuyển đổi số quốc gia theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Đầu tư khoa học công nghệ giải quyết điểm nghẽn của ngành Thủy sản Việt Nam
Phát biểu tại Hội nghị khoa học công nghệ thủy sản và kiểm ngư toàn quốc năm 2026, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến đã nhấn mạnh sự cần thiết của đổi mới sáng tạo khoa học công nghệ trong giải quyết điểm nghẽn về logistics, môi trường, nâng cao sức cạnh tranh của ngành Thủy sản trong nước.