Văn hoá dân gian làng Sơn Đồng, Hà Tây
Theo địa danh hành chính từ đời Lê, Nguyễn đến hiện nay, làng Sơn Đồng là nhất thôn, nhất xã. Nhưng trong tâm thức của người dân sở tại thì làng chia làm hai thôn: Thôn Nội và thôn Ngoại. Hai thôn này được phân giới bằng con đường gạch chạy qua trước cổng đình.
Căn cứ vào gia phả các dòng họ như họ Nguyễn Trung, Nguyễn Viết, Sơn Đồng tuy là địa danh hình thành muộn hơn về cơ cấu tổ chức so với Kẻ Giá, Kẻ Sấu nhưng lại phát triển nhanh và ổn định. Đây là vùng đất khoa bảng với những bậc sĩ phu lỗi lạc như ở thời Trần có Vương Hữu Phùng, đỗ Thám Hoa khoa thi Đinh Mùi - năm Thiên Ứng Chính Bình thứ 21 (1227); đời vua Trần Thái Tông có Nguyễn Hữu Phu, đỗ Hoàng Giáp khoa thi Nhâm Tuất (1442); Nguyễn Viết Thứ (1644-1692) đỗ Tiến sĩ Đình Nguyên khoa thi Giáp Thìn (1664), Đông Các đệ nhị danh khoa thi Bính Thìn 1676, ông là người đỗ đạt cao nhất trong làng...
Sơn Đồng là làng nghề gỗ thủ công nổi tiếng gồm: Điêu khắc, sơn son thếp vàng tượng, đồ thờ, đồ tế khí,... Nghề tạc tượng Sơn Đồng được biết đến với những nghệ nhân như cụ Chủ Chuông, cụ Nguyễn Viết Khuông, cụ Nguyễn Đức Mỗ, Nguyễn Đức Đấu, Nguyễn Khánh Nhân... Người Sơn Đồng thường tạc tượng thờ cho các đình, đền, chùa. Hiện nay, nghề gỗ ở Sơn Đồng là nguồn thu nhập chính của người dân.
Thành hoàng làng Sơn Đồng qua truyền thuyết và di tích
Sơn Đồng lưu giữ được một hệ thống di tích kiến trúc cổ bao gồm: đình, đền, chùa, lăng miếu, từ đường của các dòng họ...
Ngôi đền Thượng thờ đức thánh Đào Trực là công thần thời Tiền Lê được phong sắc vào năm Hồng Phúc nguyên niên (1572). Tương truyền, đức thánh Đào Trực là người có công mở trường dạy học cho dân tại địa phương. Khi quân Tống sang xâm lược nước ta, ông đã hưởng ứng lời kêu gọi của vua Lê Đại Hành cùng với các học trò ở trại Sơn Đồng luyện tập đánh giặc cứu nước. Khi thắng giặc trở về, nhà vua mở tiệc ăn mừng, phong thực ấp cho ông tại phủ Quốc Oai trong đó có trại Sơn Đồng. Dân làng tưởng nhớ công lao của ông đã lập đền thờ, các đời vua sắc phong "Trực công hiển ứng đại vương"; "Bảo quốc an dân, Dương vũ dực thánh, thông minh, anh tuấn, phùng kiệt tráng sĩ, thượng đẳng thần”.
Đình làng thờ Vương Thanh Cao là một học trò nghèo, khi đi qua Sơn Đồng đói và khát liền rẽ vào vườn cà trẩy một quả để ăn. Chẳng may bị chủ vườn cà bắt được dùng đòn gánh đánh vào chỗ phạm nên chết. Do chết vào giờ linh nên dân làng lập miếu thờ. Tục lệ trong ngày lễ hội mùng 6 tháng 2 hàng năm lễ vật dâng thánh "bánh dày bánh cuốn" là biểu tượng cho quả cà và chiếc đòn gánh. Ngoài ra, trong tâm thức của cư dân Sơn Đồng thì đức thánh Đào Trực về đất Sơn Đồng mở trường dạy học, truyền đạt kiến thức cho nhân dân, chữa bệnh cứu người... và khi ông mất được tôn làm thành hoàng làng.
Một truyền thuyết nữa được người dân nhắc tới liên quan rất nhiều đến kiến trúc của ngôi đình. Ngôi đình Sơn Đồng tọa lạc trên trán con rồng theo thuật phong thủy, đình làng nằm theo hướng Tây Nam . Tấm bia dựng trong dịp sửa đình có ghi rõ: “Năm Duy Tân thứ 7 (1913) hai thôn quyết định tu sửa mả rồng, long mạch chạy dài về đình, không ai được làm thương tổn, đứt đoạn. Từ nay về sau cấm đào bới, ai không tuân theo sẽ bị thần linh tru diệt’’.
Trên nghi môn của di tích với hàng đại tự Thánh Hậu Vương Từ. Cả không gian và chữ nghĩa đều có thể coi đây là một ngôi đền thờ mẫu cổ.
Đình làng hiện nay không còn lưu giữ sắc phong, thần phả để chứng minh vị thành hoàng đích thực. Theo tâm thức dân gian của người dân nơi đây có 4 truyền thuyết về vị thánh được thờ. Về vị trí địa lý, Sơn Đồng nằm giữa những địa danh của người Việt cổ cho nên cư dân ở đây đã cư trú trên địa bàn này từ rất lâu đời. Nhìn vào hiện trạng di tích: Nội dung đại tự ghi trên nghi môn chứng tỏ đây xưa là ngôi đền cổ thờ mẫu, cùng với tục múa mo, làm bánh dày, bánh cuốn, trò chơi giằng bông - tín ngưỡng phồn thực của cư dân Việt cổ... Vì thế, thực chất ẩn sâu trong những truyền thuyết và những tập tục cổ thì đây chính là một trong những di tích thờ nữ thần xưa, trải qua các thời kỳ lịch sử ngôi đình có thêm nhiều truyền thuyết khác nhau và cùng với nó là nhiều lớp thần được thờ.
Tục làm bánh dày, bánh cuốn
Là một làng Việt cổ truyền với cơ cấu tổ chức làng xã hết sức chặt chẽ, Sơn Đồng còn bảo lưu được những tín ngưỡng dân gian phong phú như: tết cổ truyền, các phong tục tập quán trong nghi lễ vòng đời người và nhất là lễ hội giằng bông - một trong những nghi lễ mang tính chất cổ xưa của người Việt cổ truyền xứ Đoài.
Để chuẩn bị cho lễ hội Giằng Bông, từ rằm tháng Giêng dân làng Sơn Đồng đã họp và bầu ra vị chủ tế.
Lễ hội xưa bắt đầu từ ngày 4 tháng 2 âm lịch hàng năm. Các vị chức sắc, chủ tế, trưởng các giáp, ban khánh tiết ra đình làm lễ mộc dục tắm rửa bài vị, đồ tế khí, dàn nghi trượng... Trong lễ hội xưa, mỗi giáp chọn một gia đình để làm bánh dày, bánh cuốn cung tiến thành hoàng. Gia đình nào được chọn làm bánh dâng thánh thì đó là điều rất vinh dự.
Hiện nay, trưởng xóm là người được tín nhiệm cao nhất cho nên từ sớm mọi người tập trung tại nhà trưởng xóm cùng chuẩn bị mọi việc từ chọn, ngâm gạo, đỗ, đường phèn, lá dừa, lá bưởi… cho đến trang trí sao cho kiệu bánh dày bánh cuốn của thôn mình phải giành được giải nhất. Họ cũng quan niệm, nếu kiệu bánh nào được giải nhất và được rước vào hậu cung dâng lên vị thành hoàng làng thì thôn đó trong năm tới sẽ làm ăn phát đạt…
Bánh dày, bánh cuốn được làm với các loại nguyên liệu như: gạo nếp, đậu xanh, đường mật, lá dừa, lá bưởi. Trước tiên, người ta làm nhân bánh cuốn. Nhân làm bằng bột đỗ xanh giã tan (hiện nay người dân thường xay khô), đường mật cắt nhỏ, mỏng và đun sôi, nhìn thật quánh, vàng đều. Sau đó đổ thẳng mật được đun sôi vào bột đậu rồi trộn với nhau. Khi trộn cần phải thật đều tay, trộn theo một chiều thì độ kết dính của nhân bánh mới quyện, dẻo, bánh cuốn khi làm sẽ đẹp, ăn sẽ ngon hơn.
Bánh cuốn gói lá dừa, được dọc và cắt thành từng miếng nhỏ khoảng chừng 10-15 cm rửa sạch để ráo nước. Lá để đặt bánh dày là lá bưởi vì người dân quan niệm với hương bưởi lễ vật dâng thánh sẽ tinh khiết hơn.
Gạo được chọn để giã bánh dày bánh cuốn phải là loại nếp cái, được ngâm kỹ từ hôm trước. Theo tục cũ đêm mùng 5 tháng 2 những nhà làm bánh tiến thành hoàng làng bắt đầu giã bánh dày, làm bánh dày bánh cuốn để chuẩn bị cho lễ tế vào sáng hôm sau. Gạo được đồ chín, dẻo quyện. Chõ được bê lên nhà trên, hoặc sân - nơi được coi là sạch sẽ nhất trong nhà để chuẩn bị giã bánh. Trước khi giã, người ta trải một cái chiếu mới, một mảnh cói lên trên, sau đó lấy mỡ lợn quết một lớp mỏng lên trên bề mặt nơi chuẩn bị giã bánh và chày giã bánh - lớp mỡ này có tác dụng làm cho xôi không dính, cũng tạo thêm độ dẻo, bóng cho bánh khi giã xong. Xôi được giã thật dẻo thì bắt đầu làm bánh. Bánh tròn và phía mặt trên của bánh thật mịn, đặt trên khuôn cắt lá bưởi. Muốn tăng thêm độ mịn và bóng của bánh dày người ta lấy bát úp lên những chiếc bánh. Khác với bánh dày, bánh cuốn được làm thành hình dài - hay còn được ví như linga. Người ta cũng lấy một nắm nhỏ xôi vừa giã nhuyễn, nặn dài khoảng 10-12 cm để làm vỏ bao ngoài cho bánh. Lấy nhân đã làm cho vào giữa và bọc lại thật khéo sao cho không lộ nhân ra ngoài. Sau đó lấy lá dừa được rửa sạch, khô bọc ra ngoài. Vừa làm bánh thanh niên hay nói những chuyện vui, tếu, có khi cả trêu ghẹo nhau - để tạo không khí vui vẻ. Theo quan niệm xưa, người ta vừa làm bánh vừa nói chuyện tếu chính là sự cầu mong được nhiều con cái.
Bánh muốn được chọn để tế thánh thì phải làm sát với thời gian tế nhất. Lúc đó bánh mới dẻo, bóng, mịn hơn. Làng còn có lệ: khi nào bánh dâng thánh của các giáp và hiện nay là các thôn làm xong thì tại các gia đình trong làng mới được phép giã bánh cúng tổ tiên và cúng thành hoàng. Nếu gia đình nào thắp hương trước thì phạm tội bất kính đối với thành hoàng, họ sẽ gặp nhiều chuyện buồn trong năm, làm ăn sẽ lụn bại…
Tế tự và đám rước
Vào ngày 4 tháng 2 âm lịch là ngày chợ phiên, đây được coi phiên chợ trâu đông nhất trong năm. Cư dân quanh vùng đều mang trâu đến bán vì họ biết rõ tục tế trâu trong lễ hội làng Sơn Đồng. Trâu được chọn để tế thành hoàng phải là trâu mộng, đủ tuổi, đẹp dáng, sừng cánh ná, dạ bình vôi. Trâu được "tế chong", nghĩa là sau khi được thui vàng, lau sạch sẽ bằng rơm, rồi lại lau lại bằng các loại lá thơm, để cả con, dùng giá đỡ, khiến cho trâu thui mà như trâu sống, đầu nghểnh, sừng nghênh, chân đứng thẳng, hai con được đặt hai bên hương án, đầu quay vào trong cung.
Sáng mùng 5 dân làng đóng kiệu văn với vài chục hàng đô khiêng kiệu, nghi trượng đầy đủ, gươm trường bát bửu đến nhà vị có học vị tam tứ trường, rước văn ra đình để tế thành hoàng. Ngày nay, dân làng Sơn Đồng bắt đầu tế yết vào chiều tối mùng 5. Trước hết chủ tế làm lễ cáo với thần linh và xin phép thành hoàng cho dân làng mở hội và tế chính hội vào sáng mùng 6. Đội tế 17 người gồm chủ tế, 14 vị tế viên và 2 vị thông xướng, họa xướng. Mỗi năm dân làng bầu chọn một người làm chủ tế cho lễ hội và phải dựa theo những tiêu chuẩn: là người phúc đức, được mọi người trong làng tôn trọng, nhà không có đại tang... Chủ tế, tế quan mặc áo thụng xanh, (riêng chủ tế: có thêu hoa và rồng), đầu đội mũ y quan, mặc quần trắng bỏ ngoài hia đen. Người dân ở đây quan niệm, chủ tế và các tế quan từ xưa với trang phục tế lễ quần phủ ra ngoài hia tức là thành hoàng làng chính là quan văn.
Theo tục xưa thì đám rước mẫu từ chùa Kỳ Đà lên chùa Diên Phúc được tiến hành đồng thời với việc rước kiệu lễ và tế lễ tại đình Hát. Ngày nay cũng vậy, khi ở đình Hát rước kiệu lễ dâng thánh và tổ chức tế lễ thì một bộ phận không nhỏ người dân Sơn Đồng cũng ra chùa Kỳ Đà để chuẩn bị làm lễ rước mẫu lên chùa Diên Phúc. Trình tự đám rước từ chùa Kỳ Đà lên chùa Diên Phúc: Đi đầu là đội múa sư tử, trống bản, chiêng, chấp kích bát bửu, múa sênh tiền, kiệu hoa do 4 người khiêng, kiệu lễ (bánh dày, bánh cuốn), bát âm, kiệu rước văn, đoàn dâng hương, kiệu võng rước mẫu, đoàn dâng hương và cuối cùng là dân làng. Mẫu được rước qua làng, qua mỗi xóm ngõ, dân ở xóm đó thường làm một bàn thờ vọng xin thánh mẫu phù hộ cho gia đình và làng xóm. Đoàn rước ra đến chùa Diên Phúc và bắt đầu làm lễ dâng hương.
Tục Giằng bông
Theo lệ làng từ xa xưa, vào chiều mùng 6 dân làng tổ chức lễ giằng bông. Mỗi thôn Nội và Ngoại phải làm một cây bông xong từ chiều mùng 4. Cây bông là một đoạn tre đực tươi dài đủ 5 đốt lấy theo ngũ phúc. Cây tre được chọn phải là cây có ngọn, đủ lá. Thân thẳng, không kiến, không muội, không bị cộc ngọn, da xanh óng ả, cây phải ở giữa khóm. Khóm tre đó phải là khóm tre của gia đình đủ phúc đức, hòa thuận, không có đại tang. Gia đình được chọn tre thường sẵn sàng dâng tiến. Đoạn tre được chọn đem cạo sạch tinh, từ giữa hai mấu tre người ta tước ập vào, bọc xung quanh mấu thành một đám bông tướp tre xù tròn lên nhuộm phẩm ngũ sắc. Các ống tre được dán khoanh bằng các băng giấy đủ màu. Hai cây bông được rước lên bàn thờ ở hai bên hương án đã trở thành linh vật của lễ hội Sơn Đồng - cây bông biểu trưng cho sinh thực khí - linga.
Xưa, người được chọn để giao trách nhiệm tung cây bông trước thềm đình thường là một trong số các đào nương của giáo phường hát ca trù. Trước khi tung bông, cô đào cấu những viên xôi nhỏ ở mâm xôi đặt trên hương án thờ thần (cho quân lính ăn trước khi vào trận), tung ra tứ phía đoạn nâng cây bông lên, nói dăm ba câu luật lệ (như là giằng bông) múa vài đường rồi tiến ra thềm đình, đoạn tung lên trời. Ở dưới sân đình trai làng, trai dự hội nhảy lên bắt bông. Ngày nay, người tung bông là cụ thủ từ. Sau khi lễ tế, khoảng 12 giờ trưa, cụ thủ từ vào tạ lễ trong hậu cung, xin phép thành hoàng được tổ chức hội giằng bông để cầu đinh cho người dân. Cụ rước cây bông từ hậu cung ra trước cửa tòa tiền tế, ở đây dân chúng tập trung rất đông, nhất là thanh niên trai tráng trong và ngoài làng.
Tục xưa truyền rằng: Ai cướp được cây bông sẽ sinh con trai. Chính vì vậy nên cánh đàn ông trong làng, ngoài xã thường chờ phút này hơn ai hết. Các bà, các mẹ lại hy vọng nhặt được túm bông rơi vãi mang về cho trẻ con đeo để lấy khước.
Có tích cho rằng "Giằng bông" là sự luyện sức cho quân tướng của Hai Bà Trưng sức mạnh dẻo dai, biết chọn thời cơ, biết ra những thế tống, chèn, vuốt để dứt điểm… và bản thân nó đã mang trong mình tinh thần thượng võ. Tiếng trống cổ động, tiếng reo hò khiến người trong cuộc vô cùng phấn khích… Khi giằng bông những người trong họ, trong xóm phải phân chia nhau, cùng đoàn kết tập trung sức cho một người thì người đó mới có thể giằng được bông. Người nào giằng được bông sẽ làm lễ tạ tại đình và rước cây bông giằng được mang về để lên bàn thờ của gia đình thờ cúng cho đến hết năm. Họ tin rằng trong năm này, họ sẽ sinh được con trai và cuộc sống sẽ no đủ. Dân làng kể lại, thanh niên trai tráng cướp bông hăng say đến nỗi lôi nhau ngã xuống ao nhưng cũng không chịu thả cây bông. Điều này chứng tỏ rằng, tục giằng bông đã ăn sâu vào tiềm thức, là yếu tố tâm linh không thể thiếu của người dân trong vùng.
Ngoài hội Giằng bông ở Sơn Đồng còn có thú vui chọi gà. Chọi gà được tổ chức ở ngoài sân đình - nơi khoảng đất bằng phẳng nhất và không có cỏ dây để gà khỏi ngã vì vướng phải cựa. Một hiệp chọi gọi là một hồ (một hồ khoảng 15-20 phút). Khi gà mệt phải nghỉ gọi là “khuya hồ”. Chọi gà cũng có giải thưởng, có luật lệ và có ban giám khảo để phân thắng...
Sơn Đồng là một trong những làng Việt cổ truyền ở châu thổ Bắc Bộ nổi tiếng với nghề gỗ - tạc tượng truyền thống. Cụm di tích đình - đền - chùa làng Sơn Đồng tự thân nó đã mang trong mình nhiều yếu tố cổ xưa. Lễ hội Sơn Đồng xưa với tục múa Mo và Giằng bông và lễ vật dâng thánh là bánh dày bánh cuốn tượng trưng cho linga và yoni, đây chính là nghi lễ sinh thực khí cổ xưa của người Việt xứ Đoài. Cây bông là linh vật được tung cho mọi người tranh giành trong lễ hội (tượng trưng cho dương) và người phụ nữ múa nghi lễ (tượng trưng cho âm), đây được coi là sự giao hòa âm - dương tạo ra sự phát sinh phát triển. Với nhiều lớp văn hóa đan xen, ít nhiều chịu ảnh hưởng của đời sống đương đại, lễ hội Sơn Đồng vẫn lưu giữ được nét độc đáo riêng, biểu trưng được phần lớn những nghi thức cổ truyền của người Việt.








