Vấn đề siêu âm trong khám thai
Một thai kỳ bình thường kéo dài khoảng 280 ngày (40 tuần) tính từ ngày kinh đầu tiên của kỳ kinh cuối, được chia làm 3 giai đoạn: Ba tháng đầu, ba tháng giữa và ba tháng cuối thai kỳ.
+ Trong ba tháng đầu, siêu âm có thể được thực hiện sớm nhất từ tuần thứ 5, nhằm mục đích:
- Tính tuổi thai và ngày sinh dự đoán trong trường hợp thai phụ không nhớ ngày kinh chót hoặc kinh không đều.
- Xem có bao nhiêu thai: một thai, hai thai hay ba thai; thai cùng trứng hay khác trứng (Xin xem thêm bài “Tìm hiểu hiện tượng đa thai”).
- Thai nằm trong tử cung (bình thường) hay trong ổ bụng (bất thường).
- Có phải thai trứng (một dạng thoái hóa tế bào nhau) không?
- Thai còn sống hay đã chết.
- Sau 12 tuần có thể tìm xem thai có dị tật bẩm sinh không?
Ngoài ra, khi thai phụ đột ngột có triệu chứng bất thường như đau bụng, ra huyết... thì siêu âm để xem:
- Có phải thai ngoài tử cung vỡ không? (đây là trường hợp cấp cứu sản khoa).
- Có sẩy thai hay dọa sẩy thai, nếu sẩy thai thì đã ra hết hay còn sót. Nếu dọa sẩy thì xem bánh nhau bị bóc tách nhiều hay ít, có thể giữ thai được không?
- Xem thai có kèm với khối u không, nếu có thì xem kích thước và vị trí khối u.
+ Trong ba tháng giữa thai kỳ, lúc này thai nhi đã hình thành đầy đủ các cơ quan bộ phận trong cơ thể, vì vậy siêu âm biết được thai nhi là trai hay gái. Nhưng quan trọng hơn là để phát hiện những dị tật bẩm sinh trên cơ thể hay các cơ quan nội tạng của thai nhi. Đánh giá vị trí và tình trạng bánh nhau, lượng nước ối. Đánh giá thai nhi có bị suy dinh dưỡng bào thai hay thai quá to (có khả năng mẹ bị đái tháo đường, cần ổn định mức đường huyết). Qua đó, bác sĩ sẽ cho thai phụ lời khuyên: về chế độ ăn uống hay cần điều trị bệnh nội khoa; nếu thai nhi có dị tật nặng thì cân nhắc xem có nên tiếp tục giữ thai.
Lưu ý: Đối với những bất thường do rối loạn nhiễm sắc thể hay chức năng cơ quan, siêu âm không đủ để xác định bệnh mà cần chọc lấy nước ối để khảo sát và làm thêm một số xét nghiệm khác.
+ Trong ba tháng cuối thai kỳ, siêu âm để phát hiện các bất thường mới xuất hiện như: dị tật đầu trướng nước, phù nhau. Đến tháng cuối thai kỳ thì siêu âm để chuẩn bị cho cuộc sinh nở, xem:
- Bánh nhau bám ở đâu? có bị nhau tiền đạo không? mạch máu nhau bình thường không? có nhau cài răng lược hay mạch máu bám màng không? có các bệnh lý như phù nhau, khối u nhau hay nhau bong non? có vôi hóa không?
- Nước ối: có thiếu nước ối hay đa ối?
- Dây rốn: có bị dây rốn quấn cổ hay dây rốn thắt nút
- Thai to hay nhỏ hay suy dinh dưỡng
- Xem có ngôi thai ngược, ngôi ngang (cần phải can thiệp mổ lấy thai) hay ngôi thai thuận.
Như vậy, trung bình trong một thai kỳ, thai phụ cần siêu âm khoảng ba bốn lần, không nên mỗi tháng mỗi siêu âm, và vào ba tháng cuối thai kỳ chỉ cần siêu âm thêm 1 lần vào tuần cuối trước khi sinh. Chỉ siêu âm thêm khi có những bất thường và do bác sĩ chỉ định. Ngoài việc giúp phát hiện và chẩn đoán bệnh, siêu âm còn giúp điều trị trong trường hợp thai đa ối (hướng dẫn chọc rút bớt nước ối) hay thai thiểu ối (truyền thêm nước ối vào lòng tử cung). Hiện nay có những loại siêu âm đặc biệt như Doppler màu và siêu âm ba chiều, nhưng thai phụ không cần thiết “đua đòi” phải làm các loại siêu âm đặc biệt này, chỉ thực hiện khi có chỉ định của bác sĩ trong trường hợp nghi ngờ nhau cài răng lược, nghi thai chậm tăng trưởng.
So với các xét nghiệm khác, siêu âm an toàn cho cả thai phụ và thai nhi, tuy nhiên nếu siêu âm để chọc dò nước ối thì động tác chọc dò có thể gây sẩy thai.








