Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ hai, 29/11/2010 20:53 (GMT+7)

Vai trò của công tác cán bộ trong củng cố và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị cơ sở vùng dân tộc thiểu số hiện nay

Văn kiện Đại hội X cũng chỉ rõ: "Củng cố và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở vùng đồng bào dân tộc thiểu số; động viên, phát huy vai trò của những người tiêu biểu trong các dân tộc. Thực hiện chính sách ưu tiên trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, trí thức là người dân tộc thiểu số. Cán bộ công tác ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi phải gần gũi, hiểu phong tục, tập quán, tiếng nói của đồng bào dân tộc, làm tốt công tác dân vận. Chống các biểu hiện kỳ thị, hẹp hòi, chia rẽ dân tộc". Việc đổi mới công tác cán bộ đã được triển khai rộng rãi ở các cấp, các ngành trong cả nước. Đối với vùng dân tộc miền núi, công tác cán bộ và đổi mới công tác cán bộ đang gặp phải khó khăn và thách thức mới.

Việc củng cố và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở vùng miền núi, dân tộc thiểu số gắn liền với việc đổi mới công tác cán bộ. Tập trung dân chủ và đoàn kết có ý nghĩa quan trọng trong củng cố khối đoàn kết dân tộc ở cơ sở và là nền móng quan trọng cho việc củng cố chính quyền cơ sở vững mạnh.

Hệ thống chính trị ở cơ sở là toàn bộ các thiết chế chính trị như tổ chức Đảng, chính quyền, các đoàn thể nhân dân được tổ chức và hoạt động theo những nguyên tắc nhất định và gắn bó hữu cơ với nhau nhằm thực hiện sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước và phát huy quyền dân chủ của nhân dân ở cơ sở.

Hệ thống chính trị ở cơ sở mang đặc điểm chung của toàn hệ thống chính trị đó là có tổ chức chặt chẽ, có sự phân định rõ ràng chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền cũng như cơ chế hoạt động của mỗi tổ chức trong hệ thống. Mục tiêu chung là đảm bảo quyền lực chính trị thuộc về nhân dân. Khác với hệ thống chính trị chung, hệ thống chính trị ở cơ sở là cấp tổ chức thực hiện đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước đến với dân, là tổ chức gần với cộng đồng dân cư và hoạt động mang tính tự quản cao nhất. Đội ngũ cán bộ ở cấp cơ sở có nhiều biến động nhất và trực tiếp bị chi phối bởi những đặc điểm về văn hóa, phong tục tập quán tộc người và cũng là cấp giải quyết trực tiếp những mâu thuẫn, yêu cầu cấp thiết, thường xuyên đối với cộng đồng dân cư.

Thực tiễn khẳng định rằng, bộ máy quản lý xã hội ở cơ sở luôn có một vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng đối với mọi người dân địa phương trên các lĩnh vực phát triển kinh tế, xây dựng đời sống văn hoá, đảm bảo an ninh xã hội, ổn định chính trị… Nơi nào mà bộ máy này tự quản vững mạnh thì ở nơi đó người dân có tinh thần đoàn kết trong việc thực hiện các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, đặc biệt là quy chế dân chủ ở cơ sở được tôn trọng, ít tệ nạn xã hội, ít các vụ kiện cáo và khiếu nại vượt cấp…

Công cuộc đổi mới đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, làm thay đổi bộ mặt miền núi và nông thôn nước ta. Tỷ lệ đói nghèo giảm nhanh qua các thời kỳ và đặc biệt là những năm gần đây, với sự thành công của các chương trình đầu tư, phát triển vùng dân tộc miền núi như 135, 134… Bên cạnh những kết quả đạt được vẫn còn khá nhiều khó khăn, thách thức trong phát triển vùng dân tộc, miền núi, trong đó phải kể đến là cần đổi mới công tác cán bộ ở vùng dân tộc miền núi. Một trong những thách thức đối với công tác cán bộ vùng dân tộc và miền núi hiện nay là trình độ của cán bộ cấp cơ sở rất hạn chế, nếu không muốn nói là yếu kém, đặc biệt là đội ngũ cán bộ cấp xã và cấp thôn bản. Do sự hạn chế về trình độ quản lý, nghiệp vụ chuyên môn nên tình trạng tranh chấp, khiếu kiện, tiêu cực, tệ nạn ma tuý, truyền đạo trái phép diễn ra ở nhiều địa phương, gây ra sự mất ổn định từ cấp cơ sở, thậm chí còn là điểm nóng về vấn đề dân tộc và tôn giáo ở một số địa phương.

Theo số liệu thống kê của Uỷ ban Dân tộc, trình độ chuyên môn và trình độ lý luận chính trị của cán bộ là người dân tộc thiểu số còn khá hạn chế.

Bảng 1: Trình độ học vấn, chuyên môn nghiệp vụ và chính trị của cán bộ dân tộc thiểu số Đơn vị tính: %

Trình độ

Cán bộ cấp huyện

Cán bộ cấp xã, phường

Trình độ học vấn (THPT trở lên

66.7

42,9

Trình độ lý luận chính trị (trung cấp trở lên)

86,7

55,5

Trình độ quản lý Nhà nước (trung cấp trở lên)

76,7

65,8

Nguồn: Uỷ ban Dân tộc, 2007

Đối với vùng Tây Bắc, trình độ của đội ngũ cán bộ cơ sở còn gặp nhiều thách thức. Qua khảo sát thực tế, phần lớn cán bộ công chức cấp xã chỉ đạt trình độ trung học cơ sở, thậm chí vẫn còn cán bộ người dân tộc thiểu số vùng sâu vùng xa, vùng biên giới chưa đọc thông viết thạo, nhất là đối với cán bộ nữ là người dân tộc Hmông, Dao, Hà Nhì, Mảng, La Hủ. Theo số liệu của Uỷ ban Dân tộc năm 2007, trong số 9886 cán bộ công chức cấp xã ở vùng Tây Bắc có các trình độ như sau:

Bảng 2: Trình độ cán bộ cơ sở vùng Tây Bắc

Trình độ

Đã qua đào tạo

Chưa qua đào tạo

Số lượng (người)

Tỷ lệ (%)

Số lượng (người)

Tỷ lệ %

+ Trình độ học vấn:

9850

99,6

36

0,4

- Tiểu học

2000

20,5

-

-

- Trung học cơ sở

5100

52

-

-

- Trung học phổ thông

2750

27,5

-

-

+ Trình độ chuyên môn nghiệp vụ

1830

18,5

8.056

81,5

- Trình độ cao đẳng, nghiệp vụ

100

1

-

-

- Trình độ trung cấp

1.150

11,5

-

-

- Bồi dưỡng ngắn hạn (3 tháng trở lên)

580

5,9

-

-

+ Trình độ lý luận chính trị

3.346

33,8

6.540

66,1

- Cử nhân, cao cấp

56

0,5

-

-

- Trung cấp

2.090

21

-

-

- Bồi dưỡng ngắn hạn

1.200

16,2

-

-

+ Trình độ quản lý Nhà nước

3014

39,4

6.872

69,6

- Cử nhân

5

0,05

-

-

- Bồi dưỡng ngắn hạn

3.009

30,6

-

-

Nguồn: Uỷ ban Dân tộc, 2007

Sự hạn chế về trình độ học vấn, chuyên môn nghiệp vụ đã ảnh hưởng lớn đến nhận thức và quá trình triển khai các hoạt động quản lý kinh tế, văn hóa, xã hội của cán bộ ở cấp cơ sở. Sự nhạy bén và năng động trong việc chuyển tải và thực hiện triển khai chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước cũng như các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương ở cấp cơ sở gặp rất nhiều khó khăn. Nhiều cán bộ chủ chốt cấp xã, phường còn lúng túng trong chỉ đạo, tổ chức triển khai các hoạt động kinh tế - xã hội tại cơ sở.

Thực hiện chính sách phát hiện, tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ ở vùng dân tộc và miền núi, nhiều địa phương đang gặp khó khăn trong công tác tuyển chọn và cử tuyển những người có khả năng đi đào tạo về văn hoá, chuyên môn nghiệp vụ. Theo chính sách 135, nhiều địa phương miền núi đã cải thiện đáng kể công tác đào tạo, tuyển chọn cán bộ và nâng cao năng lực cho cán bộ qua hình thức cử tuyển. Tuy nhiên, cũng có nhiều địa phương, đặc biệt là vùng Tây Bắc gặp khó khăn trong công tác cử tuyển. Chẳng hạn như huyện Tủa Chùa (tỉnh Điện Biên), trong năm 2009, huyện có 60 chỉ tiêu cử đi đào tạo chuyên môn nghiệp vụ là con em đồng bào dân tộc thiểu số, nhưng trong toàn huỵên chỉ lựa chọn được 40 em đã tốt nghiệp trung học phổ thông. Số lượng các em trong độ tuổi cử đi đào tạo không đạt yêu cầu do hầu hết các em bỏ học ở cấp trung học cơ sở, đặc biệt là các em học sinh nữ.

Đội ngũ cán bộ cấp xã, thôn ở cơ sở vùng dân tộc và miền núi thực sự còn yếu kém cả về số lượng và chất lượng. Theo quy định, đối với các xã, thị trấn có dưới 1.000 dân được bố trí 17 cán bộ công chức cấp xã, riêng với các xã miền núi được bố trí thêm các cán bộ chuyên trách đến 19 và không quá 25 cán bộ. Trên thực tế, một số xã vùng biên giới đã không đủ cán bộ để bố trí các vị trí công chức trong bộ máy chính trị cấp xã và thôn bản. Nhiều vị trí phải kiêm nhiệm hoặc điều động tăng cường cán bộ huyện, bộ đội biên phòng trong một thời gian ngắn. Nguyên nhân chính là do trong địa bàn xã không tìm được những cán bộ là người dân tộc thiểu số đáp ứng được các tiêu chuẩn chức danh cán bộ như về trình độ văn hóa, độ tuổi, khả năng giao tiếp bằng tiếng phổ thông…

Trước thực trạng trên, đổi mới công tác cán bộ ở vùng dân tộc miền núi hiện nay là một nhu cầu cấp bách và tiên quyết trong công cuộc đổi mới, xây dựng và phát triển nông thôn, miền núi của nước ta. Vị trí, vai trò của công tác cán bộ hết sức quan trọng, quyết định sự thành công hay ngăn cản tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa vùng miền núi và dân tộc. Để đáp ứng được yêu cầu đó, công tác cán bộ và miền núi cần phải thực hiện những giải pháp sau:

1. Cần phải có chính sách phù hợp với thực tế công tác cán bộ vùng dân tộc thiểu số và miền núi. Đảng và Nhà nước ta đã đặc biệt chú trọng công tác đào tạo cán bộ là người dân tộc nhưng ở một số địa phương, công tác này vẫn chưa được đặc biệt quan tâm. Trong điều kiện cụ thể của từng địa phương, cần phải có chính sách cử tuyển theo đặc thù dân tộc và đặc thù vùng miền. Ở một số dân tộc có dân số ít hoặc các dân tộc có trình độ cán bộ yếu kém cần có chính sách ưu đãi tuyển chọn cán bộ và đào tạo, bồi dưỡng cả về trình độ văn hóa và trình độ chuyên môn nghiệp vụ.

2. Xây dựng chiến lược trung và dài hạn về công tác cán bộ với các dân tộc ở vùng đặc biệt khó khăn, vùng biên giới hải đảo để có nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu trong tình hình hiện nay.

3. Đổi mới nhận thức của đội ngũ cán bộ, đặc biệt là cán bộ chủ chốt trong công tác đào tạo, bồi dưỡng và tuyển chọn cán bộ. Nhiều địa phương còn tình trạng khoán trắng cho cơ quan làm công tác tổ chức hoặc cứng nhắc trong tiêu chuẩn hóa một số chức danh cán bộ, chưa tạo điều kiện và cơ hội cho cán bộ được bồi dưỡng, nâng cao trình độ văn hóa và chuyên môn nghiệp vụ.

4. Cần đặc biệt chú trọng đào tạo nguồn nhân lực cán bộ nữ. Thường xuyên rà soát, đánh giá đội ngũ cán bộ là người dân tộc thiểu số để có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cho phù hợp với từng vị trí, chức danh cán bộ ở các cấp. Đối với cán bộ là người dân tộc ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa không nên quá câu nệ về hình thức, tiêu chuẩn trình độ văn hóa, tuổi tác trong sắp xếp, bố trí vị trí của cán bộ. Cần phải có cách nhìn khái quát hơn về đặt trưng văn hóa tộc người, uy tín của cán bộ và khả năng làm việc, nhận thức trong đội ngũ cán bộ, từ đó có kế hoạch bồi dưỡng đội ngũ cán bộ để đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra.

5. Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cần phải gắn với việc quy hoạch và bố trí sử dụng cán bộ ở từng lĩnh vực chuyên môn, nghiệp vụ, vùng miền và khu vực. Đối với một số vị trí mang tính chất chuyên môn, nghiệp vụ cao như công tác thống kê, địa chính, kỹ thuật nông, lâm nghiệp, giao thông, thuỷ lợi cần phải có kế hoạch đào tạo dài hạn với các nhóm đối tượng trẻ tuổi, có trình độ học vấn phù hợp. Công tác đào tạo phải gắn với kế hoạch sử dụng cán bộ để tránh tình trạng cán bộ được đào tạo không được bố trí đúng nghiệp vụ chuyên môn.

Công tác cán bộ luôn là vấn đề phức tạp và gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là ở cấp cơ sở. Đây là vấn đề quan trọng, có ý nghĩa quyết định trong sự ổn định về quản lý kinh tế - xã hội của địa phương. Vấn đề quy hoạch, sử dụng cán bộ ở cấp cơ sở vùng dân tộc, miền núi rất có ý nghĩa trong công cuộc đổi mới, hiện đại hoá phát triển vùng dân tộc và miền núi hiện nay.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam: Điểm tựa khoa học công nghệ gắn với chuyển đổi số quốc gia
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam với gần 40 năm phát triển đang thể hiện rõ vai trò tổ tổ chức xã hội - nghề nghiệp uy tín trong lĩnh vực vô tuyến, điện tử, viễn thông, công nghệ thông tin đồng thời đóng góp thực chất vào tiến trình chuyển đổi số quốc gia theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Đầu tư khoa học công nghệ giải quyết điểm nghẽn của ngành Thủy sản Việt Nam
Phát biểu tại Hội nghị khoa học công nghệ thủy sản và kiểm ngư toàn quốc năm 2026, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến đã nhấn mạnh sự cần thiết của đổi mới sáng tạo khoa học công nghệ trong giải quyết điểm nghẽn về logistics, môi trường, nâng cao sức cạnh tranh của ngành Thủy sản trong nước.
Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng nhận danh hiệu Giáo sư danh dự Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga
Sáng 30/4/2026, tại Trường Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga (MPEI), TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã vinh dự đón nhận danh hiệu Giáo sư danh dự của MPEI. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng là công dân đầu tiên của Việt Nam được trao tặng danh hiệu Giáo sư tại MPEI, đứng trong bảng danh dự cùng với các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới.
51 năm thống nhất đất nước: Khơi thông nguồn lực tri thức trong kỷ nguyên mới
Thông tấn xã Việt Nam giới thiệu bài phỏng vấn với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) về vai trò của lực lượng trí thức và những giải pháp đột phá để hiện thực hóa khát vọng hùng cường vào năm 2030 và 2045.
Phát huy vai trò nòng cốt của trí thức KH&CN tỉnh Cà Mau
Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Cà Mau lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031 tổ chức thành công thực sự đã mở ra một không gian mới để hội tụ sức mạnh, tâm huyết và trí tuệ của đội ngũ trí thức tỉnh nhà, định hình con đường kiến tạo và phát triển trong kỷ nguyên mới của đất nước.
Công bố Quyết định bổ nhiệm Giám đốc, Tổng biên tập Nhà xuất bản Tri thức
Ngày 28/4, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức Hội nghị Công bố quyết định về công tác cán bộ. Tại hội nghị, TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã trao Quyết định bổ nhiệm bà Bùi Thị Thu Hằng, Phó Giám đốc phụ trách, Phó Tổng biên tập NXB Tri thức giữ chức vụ Giám đốc, Tổng biên tập NXB Tri thức.