 Ở Việt Nam, 80% trường hợp ung thư gan phát hiện trễ, khối u đã lớn hoặc đã di căn nơi khác, không có chỉ định mổ. Lúc này, vấn đề điều trị chỉ nhằm làm giảm kích thước khối u, giảm các triệu chứng do u gây ra và kéo dài đời sống bệnh nhân. Hiện nay, trên thế giới, phương pháp điều trị bằng cách “ghép gan” đã được thực hiện, tức là thay lá gan bị ung thư bằng lá gan khác, không bệnh. Việt Nam chỉ mới ghép gan trẻ em từ một phân thùy gan của mẹ hay người thân cho. Phương pháp phá hủy u qua dabằng cách: đốt nhiệt cao tần, điện lạnh, hủy u bằng vi sóng hay tiêm (chích) cồn nguyên chất hay axit acetic vào trong khối u, hơn 90% tế bào ung thư sẽ chết đi. Nghiên cứu cho thấy, phương pháp này có kết quả tương tự phẫu thuật, nhưng ưu điểm là bệnh nhân tránh được cuộc mổ và không phải nằm bệnh viện lâu. Tuy nhiên, chỉ có hiệu quả đối với khối u nhỏ hơn hay bằng 3cm. Phương pháp thuyên tắc hóa dầu qua động mạch (tiếng Anh tương đương là Trans – Arterial Oily Chemo Embolization, gọi tắt là TOCE, Trans – Arteria Embolization = TAE, Trans – Arterial Chemo Embolisation = TACE), dùng ống thông nhỏ, từ động mạch bẹn đưa vào đến các nhánh động mạch gan nuôi khối u một chất hỗn hợp gồm thuốc trị ung thư và chất dầu Lipiodol; đồng thời làm tắc nghẽn các mạch máu nuôi dưỡng khối u gan bằng chất spongel, nhằm tiêu diệt tế bào ung thư và chặn nguồn tiếp tế cho khối u. Kết quả là các tế bào ung thư vừa bị giết vừa bị bỏ đói, khối u sẽ giảm dần kích thước và chết dần. Phương pháp này áp dụng cho bệnh nhân không thể mổ cắt bỏ khối u và tình trạng gan không bị suy quá nhiều. Những trường hợp không thực hiện được phương pháp TOCE là: khi tế bào ung thư đã ăn lan và làm tắc nghẽn các mạch máu ở gan, ung thư đã di căn đến các cơ quan khác, gan đã bị xơ ở giai đoạn cuối (biểu hiện bằng vàng da rõ, bụng trướng nước, máu khó đông); nếu làm phương pháp TOCE ở những bệnh nhân này, bệnh sẽ diễn tiến nặng nhanh hơn và tử vong sớm hơn.  Sau khi làm TOCE, bệnh nhân có thể gặp một số biến chứng do khối u bị hoại tử gây ra, gồm có: - Đau bụng, sốt, nôn ói. - Tăng men gan trong máu và tăng sắc tố mật bilirubin. - Chảy máu trong ổ bụng. - Tử vong khoảng 2 – 8% các trường hợp. Phương pháp nhắm trúng đích, là phương pháp mới nhất, được giới y khoa quan tâm nhiều vì thuốc chọn lọc vào tế bào ung thư để tiêu diệt. Thuốc được dùng cho bệnh nhân ung thư gan với khối u to, không thể phẫu thuật được. Thuốc không chữa khỏi bệnh nhưng kéo dài thời gian sống của bệnh nhân đến mức 44%. Phương pháp xạ trị:xạ trị ngoài không tác dụng, ngoại trừ sử dụng tia proton. Chỉ có thể xạ trị khối u qua động mạch gan hay xạ trị áp sát.  Như vậy, ung thư gan nguyên phát là một bệnh rất ác tính. Nếu không điều trị sớm, thời gian sống thêm chỉ khoảng từ 2 – 6 tháng. Nhưng ở giai đoạn đầu, bệnh nhân không hay biết; đến khi có triệu chứng, bệnh nhân đi khám thì khối u đã lớn và đôi khi đã di căn đến cơ quan khác, điều trị chỉ nhằm kéo dài thời gian sống cho bệnh nhân. Để phát hiện sớm bệnh ung thư gan,những người có nguy cơ cao như: xơ gan (do bất kỳ nguyên nhân nào), đã nhiễm viêm gan siêu vi B, viêm gan siêu vi C, đã từng ăn nhiều ngũ cốc nấm mốc; đặc biệt là phái nam trên 40 tuổi nên tầm soát định kỳ mỗi 6 tháng 1 lần: xét nghiệm chất Alpha Feto Protein và siêu âm bụng tìm u gan. |
|
|
|
|