Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ bảy, 08/04/2006 16:07 (GMT+7)

Ứng dụng kỹ thuật hạt nhân để cải tạo giống lúa chịu mặn cho vùng đồng bằng ven biển Bắc bộ

Hàng năm, đất cát phù sa bồi ra biển hàng trăm mét. Đi tiên phong trong việc chinh phục và giữ những miền đất mới này là quần thể cây Đước (Rhizophara apiculata), Mắm (Avicenia), Bần Ối (Sonneratia), Vẹt Dù (Bruguia), Sú (Agiceras) và Dừa Nước (Nipa fruticans). Vào sâu bên trong các quần thể này là vùng đất có độ mặn cao. Để trồng trọt được, người ta phải cải tạo bằng hệ thống kênh mương thuỷ lợi, bờ bao, ngăn phèn, mặn, do vậy đất đai vùng này có thể trồng lúa và cói. Ở vùng đất mặn ven biển Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định, người dân quen gieo trồng các loại giống lúa địa phương như: Cườm, Nhộng, Tẻ Tép, Tẻ Đỏ, Chiêm Bầu, Chiêm Cút, Cút Hương, năng suất rất thấp, chỉ đạt 18-20 tạ/ha. Các giống lúa mới có năng suất cao được đưa vào các vùng này cũng khó tồn tại vì không chịu nổi độ mặn và các điều kiện sinh thái khác. Mặt khác, ruộng ven biển nói chung là những ruộng lúa hai mùa, không sợ hạn trong mùa khô cũng như úng trong mùa mưa.

Vì vậy, việc cải tạo giống lúa có nguồn gốc địa phương bằng phương pháp sử dụng kỹ thuật hạt nhân cho năng suất cao, thích nghi với điều kiện sinh thái của vùng mặn, nhằm xoá đói giảm nghèo cho người dân nơi đây là điều kiện quan trọng và cần thiết hơn bao giờ hết.

Nghiên cứu về lượng muối tan tính bằng % ở các loại hình đất mặn nhiều, trung bình và ít cho thấy nếu nồng độ muối tan >0,4%, cây lúa của hầu hết các giống đều bị chết do mặn. Vì vậy, nhiều giống lúa có năng suất cao gieo trồng tốt trong vùng thâm canh khi đưa vào gieo cấy ở vùng mặn đều chết hết, độ mặn biến đổi trong năm nhưng cao nhất vào tháng 2, tháng 3. Có những giống mới được tạo ra cho vùng mặn lại không tồn tại được ở vùng mặn, nhưng tồn tại được ở vùng thâm canh như IR46. Giống IR 1960 là một giống lúa mới được tạo chọn, nếu gieo cấy ở vùng đất thâm canh thì năng suất gấp đôi giống Nona Bokra (giống lúa cổ truyền được IRRI đánh giá là giống chịu mặn nhất vẫn dùng trong sản xuất), nhưng nếu gieo trồng ở vùng đất mặn thì năng suất rất thấp từ 1,3-1,5 tấn/ha.

Hạt lúa Chiêm Bầu đã được chọn làm vật liệu để nghiên cứu. Đây là giống địa phương của thành phố Hải Phòng, có đặc điểm: chịu mặn cao, chống chịu sâu bệnh tốt, nhược điểm: cây cao, mềm yếu, hay bị đổ ngã khi hạt vào chắc và chín, hơn nữa, hạt gạo có cám đỏ, cơm nấu lên ăn khô, cứng, vì thế người dân ở đây quen gọi là Chiêm Đá hay Bầu Đá, nhìn chung, giống này không phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng. Các nhà nghiên cứu lấy hạt khô, sạch của giống lúa Chiêm Bầu, độ ẩm 13% đem đi xử lý với liều 15Krad, 20Krad và 25Krad. Nguồn xạ là tia Gamma ( 60Co) được chiếu bằng máy Chisoball II tại Bệnh viện K, Hà Nội. Hạt giống sau đó được ngâm ủ và gieo trồng theo phương pháp phả hệ (Pedigree).

Sau khi được xử lý phóng xạ bằng tia gamma với liều lượng 20Krad các lô được gieo trồng đã tách được một dòng số 4, ký hiệu là CM1. Dòng chịu mặn CM1 có nhiều đặc tính ưu viện hơn hẳn giống gốc như dạng hình được cải thiện từ dạng xoè thành đứng, chiều cao cây giảm đáng kể dẫn tới khả năng chống đổ tốt hơn, số hạt/bông đã tăng từ 90 hạt lên 150 hạt/bông, tỷ lệ lép giảm xuống. Năng suất của CM1 cao hơn hẳn giống gốc (45,1 tạ/ha so với 18,2 tạ/ha năm 1998). Hàm lượng Protêin ở CM1 cao hơn giống đối chứng (Chiêm Bầu), hàm lượng Amylose của Chiêm Bầu lại cao hơn của CM1, điều này giải thích tại sao cơm của giống gốc lại cứng hơn cơm của giống CM1 cải tiến. Giống CM1 ra đời đã kế thừa được những đặc tính quý của giống gốc như chịu mặn tốt, khắc phục được nhược điểm dạng hình xoè, năng suất cao hơn, thấp cây hơn, chống chịu được tốt với các điều kiện bất thuận của môi trường. Năng suất tương đối ổn định ở các vùng khác nhau của Hải Phòng, Thái Bình và Quảng Ninh. Giống CM1 đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn công nhận là giống quốc gia 1/1999.

Bên cạnh đó, hạt lúa của giống Chiêm Bầu sau khi được xử lý bằng tia gamma với liều lượng 25Krad được gieo trồng và chọn lọc theo phương pháp phả hệ (Pedigree) cũng đã tạo nên dòng mới được đặt tên là CM5 có nhiều ưu điểm nổi bật so với giống gốc như về dạng hình cây (giống gốc xoè, lá rủ giống mới tạo ra gọn, đứng thẳng), chiều cao giảm đi dẫn tới khả năng chống đổ tốt hơn, số hạt chắc/bông cũng tăng, tỷ lệ hạt lép, khả năng chống rầy và khô vằn cũng tốt hơn giống gốc.

Đẻ khảo sát năng suất của CM5, chúng tôi đã tiến hành thí nghiệm với 4 lần nhắc lại, mỗi ô với diện tích 10m 2, đất thí nghiệm là đất mặn với nồng độ Nacl là 0,6%. Liều lượng phân bón như sau: phân chuồng: 6000 kg/ha, phân đạm: 60 kg/ha, phân lân (P 2O 5): 60 kg/ha, phân kali (K 2O): 40 kg/ha (tương ứng với 2 tạ phân chuồng/sào; 2,1 kg đạm/sào; 2,1 kg lân/sào; 1,44 kg kali/sào), kết quả cho thấy với nền phân bón như nhau, giống gốc Chiêm Bầu cho năng suất thấp (18,1 tạ/ha) trong khi đó CM5 cho năng suất cao (45,1 tạ/ha). Vì vậy CM5 đã được nhân nhanh để đưa vào sản xuất. Dòng CM5 đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn công nhận là giống khu vực hoá tháng 5/2000.

Qua hai dẫn chứng trên, có thể kết luận rằng phương pháp gây đột biến nhân tạo với nguồn 60Co khi chiếu xạ khô là phương pháp có hiệu quả cao trong chọn, tạo giống lúa. Liều xạ cao 20Krad và 25Krad cho những đột biến có lợi cho chọn giống. CM1, CM5 là những giống được tạo ra cho vùng chịu mặn, đã kết hợp được những đặc tính chống chịu mặn, kháng đổ, kháng bệnh và cho năng suất cao, có thể thay thế cho những giống lúa địa phương có năng suất thấp tại các vùng đất mặn.

Viện di truyền nông nghiệp cần tiếp tục nghiên cứu, mở rộng diện tích các giống CM1 và CM5 ra các vùng đất mặn khác thuộc ven biển cả nước. Đồng thời, tiếp tục sử dụng phương pháp gây đột biến nhân tạo như là một công cụ hữu ích để cải tạo giống lúa cho vùng đất phèn mặn trên cả nước vì phương pháp này có hiệu quả nhanh và diện tích đất mặn là rất lớn (300 000 ha).

Nguồn: Thông tin KH và CN hạt nhân, số 4, 2004, tr 28-30

Xem Thêm

Phát triển nhân lực trẻ cho các lĩnh vực công nghệ chiến lược
Bộ Khoa học và Công nghệ được giao nghiên cứu, đề xuất cơ chế, chính sách phát triển nhân lực trẻ chất lượng cao trong các lĩnh vực công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, hàng không vũ trụ và năng lượng nguyên tử, với thời hạn hoàn thành trong quý IV/2026.
Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

GS.VS. Châu Văn Minh: Tăng cường kết nối khoa học, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân
Ngày 25/10/2026, tại Hà Nội, GS.VS. Châu Văn Minh, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam), đã tham dự và phát biểu tại Hội nghị khoa học “Cập nhật các tiến bộ mới trong quản lý bệnh tiêu hóa và gan mật”, kết hợp kỷ niệm 8 năm thành lập Viện Nghiên cứu và Đào tạo Tiêu hóa, Gan mật.
TECHFEST Việt Nam 2026 đưa sản phẩm công nghệ đến gần người dân
TECHFEST Việt Nam 2026 sẽ diễn ra tại Hà Nội từ ngày 13 đến 15/11, khu vực hồ Hoàn Kiếm và phố đi bộ là trung tâm với mô hình không gian mở, đưa các hoạt động trình diễn công nghệ, triển lãm sản phẩm khởi nghiệp và kết nối đầu tư đến gần hơn với người dân, doanh nghiệp, nhà đầu tư.
Liên hiệp Hội Thành phố Hồ Chí Minh và 7 giải pháp phát huy vai trò trí thức
Tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh là một hoạt động quan trọng nhằm phát huy trí tuệ, kinh nghiệm và trách nhiệm xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong quá trình hoạch định chính sách, quy hoạch và triển khai các chương trình, dự án phát triển.
Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Đưa tri thức số về bản, giúp người dân làm chủ công nghệ
Phổ biến kiến thức khoa học, kỹ thuật chỉ thực sự phát huy giá trị khi người dân có thể vận dụng vào đời sống. Từ hoạt động giảng dạy của chuyên gia Hội Mã số Mã vạch Việt Nam trong chương trình tập huấn “Người bản số” tại Lào Cai, có thể thấy rõ cách tiếp cận lấy kỹ năng thực hành, khả năng tự chủ và an toàn trên môi trường số làm trọng tâm.
VUSTA tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ tại cơ sở
Nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm và kỹ năng xử lý tình huống cháy, nổ cho cán bộ, nhân viên làm việc tại tòa nhà, ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức tập huấn công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn. Chương trình kết hợp phổ biến quy định pháp luật với hướng dẫn kỹ năng thực hành, góp phần chủ động phòng ngừa và hạn chế thiệt hại khi có sự cố xảy ra.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
Đắk Lắk: Từ chính sách đãi ngộ đến yêu cầu sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao
Việc HĐND tỉnh Đắk Lắk thông qua Nghị quyết quy định chính sách thu hút, hỗ trợ đào tạo phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2026- 2031 thể hiện sự đồng thuận cao đối với yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo nền tảng cho phát triển trong giai đoạn mới. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để chính sách đi vào cuộc sống, thu hút được người có năng lực và tạo môi trường để trí thức cống hiến.