Ứng dụng hệ thống thâm canh tổng hợp trong sản xuất lúa ở một số tỉnh phía Bắc
Từ năm 2003 đến hiện nay, với sự tài trợ của chương trình IPM DANIDA, Cục Bảo vệ thực vật đã kết hợp với các nhà khoa học của Viện Thổ nhưỡng – Nông hóa, Viện Nghiên cứu lúa Quốc tế cùng nông dân và cán bộ Bảo vệ thực vật của 12 tỉnh phía Bắc triển khai nhiều chương trình thực nghiệm đồng ruộng có sự tham gia của nông dân để khẳng định khả năng ứng dụng hệ thống các biện pháp thâm canh tổng hợp đối với lúa cấy để có "cây lúa khỏe" giảm nguy cơ gây hại của sâu bệnh, ngoại cảnh; tiến tới một nền sản xuất lúa theo hướng bền vững, an toàn và hiệu quả; trong đó chú trọng đến kỹ thuật sử dụng phân bón hợp lý, hiệu quả; kỹ thuật cấy mạ non với mật độ phù hợp và kỹ thuật tưới nước khô ướt xen kẽ để làm thông thoáng đất định kỳ.
Kết quả ứng dụng hệ thống thâm canh tổng hợp đối với lúa cấy ở một số tỉnh phía Bắc đã được Hội đồng Khoa học Công nghệ Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đánh giá tốt và đề nghị công nhận là tiến bộ kỹ thuật.
Các biện pháp kỹ thuật chủ yếu của hệ thống thâm canh tổng hợp
1. Kỹ thuật làm mạ, tuổi mạ khi cấy
Gieo mạ trên nền đất cứng hoặc trong khay. Để cấy 1 ha lúa, cần chuẩn bị 200m2 đất để gieo khoảng 10kh hạt giống lúa (0,5kg hạt giống/gieo trên 10m2 đất).
Ngâm hạt giống sạch vào nước trong thời gian 24 giờ và tiếp tục ủ trong 24 giờ. Dùng bùn trộn dều với (7-10kg) phân chuồng hoai mục, san đều trên mặt đất tạo thành luống với độ dày khoảng 2-3 cm. Gieo hạt giống đã nảy mầm thật đều tay. Sau khi gieo 24 giờ, dùng nước bùn pha loãng tưới đều lên mặt luống; sau đó luống mạ cần được duy trì đủ ẩm bằng cách dùng bình tưới nước đều lên mặt luống, không được tưới ngập luống mạ. Trong vụ đông xuân, để chống rét cho mạ, dùng ni lông che phủ luống mạ vào ban đêm, sáng sớm, chiều tối và những ngày có nhiệt độ dưới 15 oC.
Sau 8 ngày (vụ mùa) và khoảng 14 ngày (vụ xuân) cây mạ được 2,5 lá, dùng xẻng xúc nhẹ (hoặc cắt luống mạ thành từng miếng) đem đi cấy ngay trong ngày.
2. Kỹ thuật làm đất ruộng cấy
Đất ruộng cấy phải được làm kỹ, nhuyễn, cày và bừa cấy 2 lần, san phẳng mặt ruộng trước khi cấy.
Trước khi bừa cấy lần cuối tiến hành bón lót phân chuồng (nếu có) phân lân và không quá 20% phân đạm để trộn đều và vùi các loại phân bón lót vào tầng đất canh tác giúp cây mạ không bị ngộ độc cục bộ, đồng thời san phẳng mặt ruộng trước khi cấy. Mức bước trong ruộng khi cấy hoảng 2-3cm.
3. Kỹ thuật cấy, mật độ, khoảng cách cấy
Cấy 1-2 dảnh/khóm. Dùng tay bẻ từng dảnh mạ đặt nhẹ nhàng lên mặt ruộng theo khoảng cách đã xác định.
Mật độ cấy tùy thuộc vào đặc tính của giống, chân đất, mùa vụ. Các giống đẻ khỏe hoặc đất giàu dinh dưỡng, mật độ cấy tối thiểu 20 khóm/m2, tối đa không quá 36 khóm/m2; các giống đẻ kém hoặc đất nghèo dinh dưỡng, mật độ cấy tối thiểu 25 khóm/m2, tối đa không quá 42 khóm/m2.
Khoảng cách khóm này đến khóm kia theo lưới ô vuông (vuông mắt sàng).
4. Kỹ thuật sử dụng phân bón hợp lý(4 đúng)
- Bón đủ lượng, đủ loại và bón cân đối phan đạm, phân lân, phân kali: xây dựng quy trình bón phân trước mỗi vụ sản xuất: ước tính lượng phân đạm, lân, kali cần bón ngay từ đầu vụ phù hợp với giống, chân đất… dựa vào kinh nghiệm sử dụng phân bón của nông dân tiên tiến có cùng điều kiện sản xuất và quy trình chỉ đạo sản xuất trên cây lúa của địa phương.
- Bón đúng cách và đúng thời điểm cây lúa cần (theo bảng):
+ Bón lót sâu phân chuồng, phân lân và 20% phân đạm trước khi bừa cấy (không bón lót đạm vượt quá mức 20% tổng lượng đạm dùng cho cả vụ)
+ Bón thúc lần 1 khi lúa bắt đầu đẻ và bón lần cuối cùng khi lúa ở giai đoạn tượng khối sơ khởi (sử dụng bảng so màu lá lúa 1 lần ở giai đoạn tượng khối sơ khởi (TKSK) để quyết định lượng phân đạm cần bón bổ sung lần cuối).
Thời gian và phương pháp bón phân theo quản lý dinh dưỡng
5. Kỹ thuật quản lý nước(tưới khô ướt xen kẽ)
Áp dụng cho vùng chủ động nước tưới, tiêu.
* Giai đoạn sinh trưởng dinh dưỡng:
Sau khi bón thúc lần 1 khoảng 6- 7 ngày, rút nước cạn trong ruộng trong thời gian 7 – 10 ngày, sai đó cho nước vào ruộng với mức nước 3-4cm khoảng 7-10 ngày. Cứ như vậy, trong giai đoạn sinh trưởng dinh dưỡng sẽ rút nước làm khô ruộng khoảng 2 lần (tùy theo điều kiện).
*Giai đoạn sinh trưởng sinh thực:
40-45 ngày sau cấy (giai đoạn tượng khối sơ khởi) cho nước vào ruộng, giữ mức 4 – 5cm đến trước khi gặt 15 -20 ngày rút cạn nước phơi ruộng cho đến khi gặt.
6. Kỹ thuật quản lý sâu bệnh và cỏ dại
* Phòng trừ sâu bệnh:
- Chỉ phun thuốc trừ sâu khi mật độ sâu cao đến mức có khả năng gây tổn hại đến năng suất lúa:
+Sâu cuốn lá nhỏ: Giai đoạn đẻ nhánh > 50 con/m2
Giai đoạn đòng –trỗ: > 20 con/m2
+ Sâu đục thân:>0,3 ổ trứng/m2
(trong điều kiện chưa xuất hiện bệnh vàng lùn, lùn xoăn lá hoặc các bệnh nguy hiểm khác do rầy nâu là môi giới truyền bệnh).
- Đối với bệnh hại:
+ Bệnh đạo ôn, bệnh bạc lá, bệnh đốm sọc vi khuẩn cần phòng bệnh là chính; khi điều kiện thời tiết thích hợp cho bệnh phát triển nhất thiết phải dùng các loại thuốc có hiệu lực cao để phòng trừ khi lúa chớm bị bệnh.
+ Đối với các bệnh khô vằn, nếu có trên 10% số dảnh bị bệnh ở giai đoạn đòng thì tiến hành phun thuốc.
* Phòng trừ cỏ dại:
Có thể làm cỏ bằng tay, cào cỏ hoặc sử dụng thuốc trừ cỏ thích hợp tùy theo điều kiện sản xuất của từng địa phương./
Nguồn : khuyennongvn.gov.vn








