Trí thức thời Hậu Chô Sơn và Việt Nam
Trong lịch sử Hàn Quốc, người ta thường gọi giai đoạn sau thế kỷ 17 là thời kỳ Hậu Kỳ Chô Sơn.
Lee Su Quang là nhân vật sống từ thời Tiền Kỳ Chô Sơn cho đến Hậu Kỳ Chô Sơn. Có thể nói, Lee Su Quang là người nối kết những nhận thức về nước Việt của những học giả thời Tiền Kỳ Chô Sơn, mặt khác Lee Su Quang cũng là nhân vật đã phát triển thêm những nhận thức, những ấn tượng này theo chiều hướng mới mẻ về nước Việt, và chuyển giao những kiến thức đó cho những trí thức thời Hậu Kỳ Chô Sơn.
Có thể nói, những ghi chép về Việt Nam của các tri thức thời Chô Sơn Tiền Kỳ, bao gồm cả Lee Su Quang về cơ bản là thông qua sự tiếp cận với các sứ thần Việt Nam.
Ở thời kỳ đó, tầng lớp trí thức của cả Việt Nam và Hàn Quốc đều sử dụng được Hán văn là thứ văn tự chung của toàn châu Á lúc bấy giờ một cách nhuần nhuyễn, vì thế mặc dù không qua Hán văn người ta có thể diễn đạt một cách đầy đủ các thông tin cần trao đổi. Do vậy đến Hậu Kỳ Chô Sơn thì chủng loại những bài viết được ghi chép lại, đã phong phú hơn nhiều, ví dụ như:
1. Tiếp cận với sứ thần Việt Nam .
2. Những ghi chép, lời kể của những người đi Việt Nam về.
3. Những thông tin thu thập được ở Bắc Kinh.
4. Những tài liệu ghi chép lịch sử của Trung Quốc có liên quan đến Việt Nam .
Cũng giống như thời Tiền Kỳ Cho Sơn, vào thời Hậu Kỳ Chô Sơn các sứ thần Việt Nam và sứ thần Hàn Quốc thường gặp nhau ở Bắc Kinh.
Vào thời Chô Sơn Hậu Kỳ người ta thường phê bình “Công lý, công luận” của các học giả Chu Tử và coi trọng, nhấn mạnh đến tính hiện thực và tính thực dụng, gây nên làn sóng “thực học”. Những học giả theo trường phái thực học như vậy được gọi tên chung là “Thực học giả”. Một điều đáng chú ý là trong số các Thực học giả này con số những nhật vật quan tâm đến Việt Nam không ít. Ví dụ như So Hô Su (Từ Hạo Tu 1736 - 1799), hay Yu Tức Kông (Liễu Đắc Cung 1748 – 1807) là những người như vậy. So Hô Su đã được phái đến Trung Quốc làm sứ thần ngoại giao với vai trò là phó sứ vào năm 1790, sau khi về nước ông đã viết Trung Quốc du hành ký(tên gốc là Yên Hành ký). Trong đó có ghi việc ông đã trao đổi hoạ đáp với một nhân vật trong sứ đoàn Việt Nam là Phan Huy Ích. Trong hoạ đáp này của ông so với những hoạ đáp của Lee Su Quang với sứ giả Phùng Khắc Khoan trước đó thì cụ thể hơn nhiều, nó chứa đựng nhiều thông tin mới mẻ về văn hoá và lịch sử Việt Nam.
![]() |
| Vua Sejong (1418 - 1450). |
Một Thực học giả thân thiết với Yu Tức Kông là Lee Tok Mu (Lý Đức Mậu) cũng rất quan tâm đến Việt Nam . Lee Tok Mu cũng là một người đã tháp tùng đoàn sứ thần đến Trung Quốc nhưng chưa từng gặp sứ thần Việt Nam . Trong thư Lee Tok Mu gửi cho người Trung Quốc có tên là Pan Chang Kyun (Phan Đình Duân), Lee Tok Kyun đã hỏi rằng ngoài những Tứ Thư cổ người bạn này có đọc sách nước ngoài như sách của Chô Sơn, sách của Việt Nam, sách của Nhật Bản, sách của Yu Ku (Lưu Cầu) hay không? Điểm đáng chú ý ở đây là sau sách của Chô Sơn, ông không nhắc đến sách của Nhật Bản mà là sách của Việt Nam . Lee Tok Mu có viết một quyển sách giới thiệu về Nhật Bản có tên là Đất nước có tên Nhật Bản(tên gốc là Thanh Linh quốc chí), và ở phần cuối của sách này có một mục gọi là mục “Các nước khác”, ở đây ông đã giới thiệu về Việt Nam cùng với một số nước khác thuộc Đông Nam Á như Mianma, Thái Lan, Champa… Như vậy cũng có thể thấy, Lee Tok Kyun có những mối quan tâm vượt quá Đông Á và đã tới cả Đông Nam Á.
Lee Tok Mu đã truyền cho người cháu của mình là Lee Kuy Kiêng (Lý Khuê Cảnh 1788 - ?) mối quan tâm về Việt Nam . Lee Kuy Kiêng cũng là một Thực học giả và đã viết cuốn sách khổng lồ có tên là Từ điển bách khoa tri thức (Tên gốc là Ngũ châu diễn văn trường tiên tản cảo). Trong sách này có ghi rất nhiều những thông tin và kiến thức đa dạng về Việt Nam . Một mặt, ông đã kế thừa những kiến thức học thuật trên sách vở của Lee Su Quang, Yu Tức Kông, Lee Tok Mu mặt khác ông cũng tiếp thu những thông tin khác qua các tài liệu của Trung Quốc có ghi chép những điều liên quan đến Việt Nam, ví dụ như An Nam chí lược. Lee Kuy Kiêng đã quyết định soạn thảo cuốn sách có tên là Nghiên cứu về giao lưu của Việt Nam(tên gốc là Namgiao dịch khảo). Một điều rất tiếc la cuốn sách này hiện nay không còn. Suy đoán dựa trên tên của sách này thấy rằng nó là cuốn sách mà ở đó có ghi lại những sự tiếp xúc của Việt Nam và Hàn Quốc trong lịch sử. Có thể nói rằng trải qua một thời gian rất dài những cuộc tiếp xúc giữa Việt Nam và Hàn Quốc đã được lưu lại trong kho tàng kiến thức sách vở, và cuối cùng mới có thể sắp xếp lại được trong cuốn sách này.
Cuối thế kỷ 16, Việt nam bị chia cắt thành cục diện Nam - Bắc phân tranh, cho đến cuộc khởi nghĩa Tây Sơn năm 1771, đã tiêu diệt cả hai tập đoàn phong kiến họ Trịnh và họ Nguyễn.
Lê Chiêu Thống của triều đình nhà Lê khiếp sợ trước thế lực của quân Tây Sơn đã yêu cầu nhà Thanh giúp sức. Vào tháng 10 năm 1788, vua Càn Long nhà Thanh đã đưa 200.000 quân đến Việt Nam, quân Thanh sau một tháng đã tiến đến thành Thăng Long. Nhưng đến ngày 5 tháng 1 năm sau thì quân Thanh đã thua và chịu thất bại lớn trước quân đội của Quang Trung. Lúc đó Lê Chiêu Thống quay lại chịu khuất phục và Hoàng đế Quang Trung đăng quang lên ngôi trị vì đất nước. Vua Quang Trung trở thành vua của An Nam Quốc với điều kiện: hứa tiếp tục cống nộp cho nhà Thanh và sẽ trực tiếp tham dự lễ chúc thọ 80 tuổi của vua Càn Long vào năm 1790 theo yêu cầu của nhà Thanh. Nhưng không giống như đã hẹn, ông đã không đến dự lễ chúc thọ mà đã gửi một người là Nguyễn Quanh Bìnhcó dung mạo giống mình đi thay.
Năm 1790, vị vua đi cùng đoàn sứ thần Việt Nam mà So Hô Su và Yu Tức Kông đã gặp chính là vị vua giả này. Trong Trung Quốc du hành ký,So Hô Su đã đề cập đến Nguyễn Quang Bình một số lần. Trong đó có đoạn viết như sau:
“Vua An Nam là Nguyễn Quang Bình tên tự đầu tiên là Huệ… Khi triều đình nhà Lê suy yếu đã tụ tập dân chúng và tấn công kinh thành, cuối cùng đã giết chết vua và cướp ngôi”.
Xem như ở trên, So Hô Su đang chỉ trích việc vua An Nam đã chiếm lấy ngôi vua. Đây là thái độ phê phán không tránh khỏi được vì nhìn theo cách nhìn của một nhà nho có đạo đức Khổng giáo thời bấy giờ.
Lúc bấy giờ không phải chỉ có So Hô Su quan tâm đến sự thể nước Việt. Trong thời Chô Sơn, một trong số những nhiệm vụ quan trọng của đoàn sứ thần khi được cử đến nhà Thanh là điều tra về tình hình chính sự và xu hướng của nhà Thanh để báo lên quốc vương. Thế nhưng trong nội dung báo cáo lên triều đình ở giai đoạn từ năm 12 (1788) đến năm 14 (1790) đời vua Chong Chô có ghi rất nhiều những tình hình chính sự của Việt Nam và các chính sách đối ứng của Trung Quốc với những việc đó. Trong báo cáo do Hông Miêng Buk gửi lên quốc vương vào ngày 12 tháng 8 năm thứ 12 đời vua Chong Chô có đoạn như sau:
“Biến loạn giết vua và cướp ngôi ở An Nam Quốc xảy ra làm cho Hoàng phi và Thái tử phải vượt biển và tìm đến thành Quảng Tây xin cứu viện, tổng đốc thành Quảng Tây đã không nhanh chóng dàn xếp nên hoàng đế đã rất nổi giận và yêu cầu tổng đốc thành Quảng Châu nhanh chóng điều tra nguyên nhân của cuộc biến loạn đó, và cho rằng đó là nguy cơ có thể có chiến sự trong tương lai”.
![]() |
| Bảng chữ cái Hunminjeongeum của Hàn Quốc (Thế kỷ 15 - có nghĩa là “Hệ thống ghi âm đúng để dạy dân chúng). |
Vua Chô Sơn quan tâm đến tình hình thế sự ở Việt Nam , có thể thấy hai lý do chủ yếu: Thứ nhất là vì đó là cuộc biến loạn cướp ngôi vua, thứ hai là vì thông qua vấn đề trong nội bộ nước Việt có thể nhìn thấy những biến động quân sự của nhà Thanh. Nước Chô Sơn đã bị nhà Thanh xâm lược năm 1636. Sau này, Cho Sơn độc lập và phải duy trì chế độ cống nạp cho nhà Thanh, bên ngoài thì vẫn giữ mối quan hệ ngoại giao tốt đẹp nhưng trong lòng vẫn mang thái độ đối nghịch với quân xâm lược nhà Thanh và vẫn luôn phải để mắt đến vùng biên cương giáp với nhà Thanh. Chính vì thế, có thể nói trong những năm của đời vua Chong Chô (Chính Tổ) tình hình thế sự ở Việt Nam được phản ánh là bài học kinh nghiệm lịch sử và là kiến thức chống Thanh. Như vậy, ở Hậu Kỳ Chô Sơn, những thông tin liên quan đến Việt Nam luôn được thu nhập đầy đủ ở Trung Nguyên và được báo cáo kịp thời trực tiếp lên quốc vương. Những thông tin này được cung cấp đến một bộ phận những trí thức, quý tộc thượng lưu của Chô Sơn chủ yếu tập trung đông ở thủ đô. Rồi sau đó lại được truyền đi ra ngoài xã hội Chô Sơn, như thế đây là con đường phát triển mở rộng những thông tin tri thức về Việt Nam trong xã hội Hàn Quốc.
Những trí thức thời Chô Sơn Hậu Kỳ đã nuôi dưỡng sự tưởng tượng và kiến thức về Việt Namthông qua các ghi chép hoặc những lời kể của những người đã đi Việt Nam về. Trong số những người đã đi Việt Nam về có thể chia thành hai nhóm. Thứ nhất là nhóm những người khi xảy ra chiến loạn (1597) đã bị bắt làm tù binh cho quân Nhật và phải làm việc trên các thuyền đánh cá, trong quá trình làm việc phải đi lại giữa Việt Nam và Nhật Bản, rồi sau này có những thương lượng ngoại giao giữa Hàn Quốc và Nhật Bản, họ được gửi trả về nước Chô Sơn: thứ hai là nhóm những người đi tàu bị trôi dạt vào Việt Nam rồi quay trở về lại Chô Sơn.
Chô Oan Piêc (Triệu Hoàn Bích) vốn là một học giả được biết đến là người ở tỉnh Chin Chu (Tân Châu), lần đầu tiên đến Việt Nam vào năm 1604 và sau đó có đi lại đến Việt Nam thêm hai lần nữa. Người được gọi là Jong Sa Chơn (Trịnh Sĩ Tín 1558 - 1619) đã ghi lại trong Truyền kỳ của Chô Oan Piêc(tên gốc là Triệu Hoan Bích truyện) rằng khi Chô Oan Piêc đi đến Việt Nam, giao lưu với các học giả Việt Nam thì tên tuổi của Lee Su Quang được đánh giá cao, họ đánh giá thơ của ông đạt đến mức độ nhuần nhuyễn. Trong sách Truyền kỳ của Chô Oan Piêcđã nói đến rất nhiều ý kiến của Chô Oan Piêc về tự nhiên, văn hoá, chế độ, phong tục của Việt Nam. Và như thế Lee Su Quang cũng để lại được cuốn Truyền kỳ của Chô Oan Piêccho đời sau.
Trong số sách có ghi về những người đã trôi dạt đến Việt Nam và trở về đáng chú ý có sách Khổ nạn di trú(tên gốc là Di tề loạn cảo) của Hwang Ul Sok (Hoàng Dậu Tích 1726 - 1791) và Sách viết vào buổi sáng mùa hè dài(tên gốc là Thư Vĩnh Biên) của Jong Dong Yu (Trịnh Đông Dũ 1744 - 1808). Hai quyển sách snày đều viết về câu chuyện 21 người đã trôi dạt đến Việt Nam vào tháng 10 năm 1678 và quay trở về đảo Jeju (Tế Châu) vào tháng 12 năm sau.
Câu chuyện trong sách của Hwang Ul Sok được chuyển từ câu chuyện trong Chê Chu đô vấn kiến lục(tên gốc là Đam La văn kiến lục) của Jong Ul Kiêng và câu chuyện trong sách của Jong Dong Yu là ghi lại câu chuyện được nghe từ một người già đã là một trong số những người trôi dạt đến Việt Nam và được trở về sau đó. Nội dung những câu chuyện của hai tác giả này về sau đã được chứng thực là nội dung thực trên ký sử ghi ngày 13 tháng 2 năm thứ 15 đời vua Suk Chông ( Suk Chông thực lục).
Theo những ghi chép của Hwang Ul Sok và Jong Dong Yu, những người trôi dạt ở thời điểm đó đã trú ngụ tại Hội An, sau đó đã đi đến Phú Xuân (nay là Huế) và gặp chúa Nguyễn. Lúc bấy giờ Việt Nam đang bị chia cắt thành hai miền Nam, Bắc. Ở phía Bắc họ Trịnh thống trị, ở phía Nam họ Nguyễn thống trị. Đó cũng chính là vào năm 1678, những người dân miền biển thực hiện theo chính sách Nam tiến của nhà Nguyễn đã đến Huế.
Hwang Ul Sok và Jong Dong Yu đều là những học giả theo phái Thực học giả. Điều đáng quan tâm là những điều quan trong các ghi chép của họ về một phần của Huế, Hội An vào cuối thế kỷ 17 là những nội dung chưa từng có trên các ghi chép bằng văn bản, nhưng họ đã tài tình làm sống động về mảnh đất, phong tục, văn hoá và tái hiện nó thật phong phú. Còn một điểm đáng chú ý nữa là trên thực tế những bài viết này được lưu giữ cùng chiếu chỉ văn bản ngoại giao thời bấy giờ của nhà Nguyễn với nội dung chỉ thị cho những thuyền nhân trôi dạt này quay trở về Chô Sơn.
Theo những nội dung trình bày trên đây, chúng ta có thể thấy vào Chô Sơn Hậu Kỳ có một số ghi chép đáng được gọi là Kiến Văn Ký Việt Nam, và những ghi chép đó được lan truyền rộng rãi trong tầng lớp trí thức, học giả của Chô Sơn, những thông tin này làm tăng sự quan tâm, làm gần gũi hơn những tưởng tượng về đất nước Việt Nam và bổ sung kiến thức phong tục về Việt Nam lên một bậc trong xã hội Chô Sơn. Những ghi chép này đã vượt qua không gian địa lý xa xôi và mang đến tình cảm thân thiết hữu hảo giữa hai dân tộc Việt Nam và Hàn Quốc.










