Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ năm, 08/11/2007 23:23 (GMT+7)

Trí thức thời Hậu Chô Sơn và Việt Nam

Trong lịch sử Hàn Quốc, người ta thường gọi giai đoạn sau thế kỷ 17 là thời kỳ Hậu Kỳ Chô Sơn.

Lee Su Quang là nhân vật sống từ thời Tiền Kỳ Chô Sơn cho đến Hậu Kỳ Chô Sơn. Có thể nói, Lee Su Quang là người nối kết những nhận thức về nước Việt của những học giả thời Tiền Kỳ Chô Sơn, mặt khác Lee Su Quang cũng là nhân vật đã phát triển thêm những nhận thức, những ấn tượng này theo chiều hướng mới mẻ về nước Việt, và chuyển giao những kiến thức đó cho những trí thức thời Hậu Kỳ Chô Sơn.

Có thể nói, những ghi chép về Việt Nam của các tri thức thời Chô Sơn Tiền Kỳ, bao gồm cả Lee Su Quang về cơ bản là thông qua sự tiếp cận với các sứ thần Việt Nam.

Ở thời kỳ đó, tầng lớp trí thức của cả Việt Nam và Hàn Quốc đều sử dụng được Hán văn là thứ văn tự chung của toàn châu Á lúc bấy giờ một cách nhuần nhuyễn, vì thế mặc dù không qua Hán văn người ta có thể diễn đạt một cách đầy đủ các thông tin cần trao đổi. Do vậy đến Hậu Kỳ Chô Sơn thì chủng loại những bài viết được ghi chép lại, đã phong phú hơn nhiều, ví dụ như:

1. Tiếp cận với sứ thần Việt Nam .

2. Những ghi chép, lời kể của những người đi Việt Nam về.

3. Những thông tin thu thập được ở Bắc Kinh.

4. Những tài liệu ghi chép lịch sử của Trung Quốc có liên quan đến Việt Nam .

Cũng giống như thời Tiền Kỳ Cho Sơn, vào thời Hậu Kỳ Chô Sơn các sứ thần Việt Nam và sứ thần Hàn Quốc thường gặp nhau ở Bắc Kinh.

Vào thời Chô Sơn Hậu Kỳ người ta thường phê bình “Công lý, công luận” của các học giả Chu Tử và coi trọng, nhấn mạnh đến tính hiện thực và tính thực dụng, gây nên làn sóng “thực học”. Những học giả theo trường phái thực học như vậy được gọi tên chung là “Thực học giả”. Một điều đáng chú ý là trong số các Thực học giả này con số những nhật vật quan tâm đến Việt Nam không ít. Ví dụ như So Hô Su (Từ Hạo Tu 1736 - 1799), hay Yu Tức Kông (Liễu Đắc Cung 1748 – 1807) là những người như vậy. So Hô Su đã được phái đến Trung Quốc làm sứ thần ngoại giao với vai trò là phó sứ vào năm 1790, sau khi về nước ông đã viết Trung Quốc du hành ký(tên gốc là Yên Hành ký). Trong đó có ghi việc ông đã trao đổi hoạ đáp với một nhân vật trong sứ đoàn Việt Nam là Phan Huy Ích. Trong hoạ đáp này của ông so với những hoạ đáp của Lee Su Quang với sứ giả Phùng Khắc Khoan trước đó thì cụ thể hơn nhiều, nó chứa đựng nhiều thông tin mới mẻ về văn hoá và lịch sử Việt Nam.

Vua Sejong (1418 - 1450).
Vua Sejong (1418 - 1450).
Yu Tức Kông đến Trung Quốc cùng với So Hô Su nhưng với vai trò là người tháp tùng du đoàn và đã tiếp cận với các sứ thần Việt Nam ở đây. Năm 1796 ông đã viết cuốn sách có tên là Những người cùng thời đại(tên gốc là Tịnh Thế Tập), trong đó ngoài những bài thơ của văn nhân Trung Quốc, có thơ củakhoảng 10 nhà thơ Nhật Bản, 5 nhà thơ Việt Nam và 4 nhà thơ Yu Ku (Lưu Cầu). Điểm đáng chú ý là trong sự nhìn nhận về Đông Á thì có cả Việt Nam, tức là Việt Nam cũng nằm trong khu vực văn hoá chữHán, Yu Tức Kông đã từng đưa ra một cách nhìn nhận mới để hiểu một phần lịch sử Hàn Quốc trong việc nghiên cứu lịch sử triều đại Pal - he (Bội Hải) qua sách Nghiên cứu Pal - He(tên gốc là Bột Hải Khảo) của ông và ông là nhân vật nghiên cứu lịch sử theo phong cách chủ thể. Có lẽcũng từ vị trí của người nghiên cứu lịch sử này mà ông có thái độ hoà hiếu với các nước trong vùng văn hoá chữ Hán.

Một Thực học giả thân thiết với Yu Tức Kông là Lee Tok Mu (Lý Đức Mậu) cũng rất quan tâm đến Việt Nam . Lee Tok Mu cũng là một người đã tháp tùng đoàn sứ thần đến Trung Quốc nhưng chưa từng gặp sứ thần Việt Nam . Trong thư Lee Tok Mu gửi cho người Trung Quốc có tên là Pan Chang Kyun (Phan Đình Duân), Lee Tok Kyun đã hỏi rằng ngoài những Tứ Thư cổ người bạn này có đọc sách nước ngoài như sách của Chô Sơn, sách của Việt Nam, sách của Nhật Bản, sách của Yu Ku (Lưu Cầu) hay không? Điểm đáng chú ý ở đây là sau sách của Chô Sơn, ông không nhắc đến sách của Nhật Bản mà là sách của Việt Nam . Lee Tok Mu có viết một quyển sách giới thiệu về Nhật Bản có tên là Đất nước có tên Nhật Bản(tên gốc là Thanh Linh quốc chí), và ở phần cuối của sách này có một mục gọi là mục “Các nước khác”, ở đây ông đã giới thiệu về Việt Nam cùng với một số nước khác thuộc Đông Nam Á như Mianma, Thái Lan, Champa… Như vậy cũng có thể thấy, Lee Tok Kyun có những mối quan tâm vượt quá Đông Á và đã tới cả Đông Nam Á.

Lee Tok Mu đã truyền cho người cháu của mình là Lee Kuy Kiêng (Lý Khuê Cảnh 1788 - ?) mối quan tâm về Việt Nam . Lee Kuy Kiêng cũng là một Thực học giả và đã viết cuốn sách khổng lồ có tên là Từ điển bách khoa tri thức (Tên gốc là Ngũ châu diễn văn trường tiên tản cảo). Trong sách này có ghi rất nhiều những thông tin và kiến thức đa dạng về Việt Nam . Một mặt, ông đã kế thừa những kiến thức học thuật trên sách vở của Lee Su Quang, Yu Tức Kông, Lee Tok Mu mặt khác ông cũng tiếp thu những thông tin khác qua các tài liệu của Trung Quốc có ghi chép những điều liên quan đến Việt Nam, ví dụ như An Nam chí lược. Lee Kuy Kiêng đã quyết định soạn thảo cuốn sách có tên là Nghiên cứu về giao lưu của Việt Nam(tên gốc là Namgiao dịch khảo). Một điều rất tiếc la cuốn sách này hiện nay không còn. Suy đoán dựa trên tên của sách này thấy rằng nó là cuốn sách mà ở đó có ghi lại những sự tiếp xúc của Việt Nam và Hàn Quốc trong lịch sử. Có thể nói rằng trải qua một thời gian rất dài những cuộc tiếp xúc giữa Việt Nam và Hàn Quốc đã được lưu lại trong kho tàng kiến thức sách vở, và cuối cùng mới có thể sắp xếp lại được trong cuốn sách này.

Cuối thế kỷ 16, Việt nam bị chia cắt thành cục diện Nam - Bắc phân tranh, cho đến cuộc khởi nghĩa Tây Sơn năm 1771, đã tiêu diệt cả hai tập đoàn phong kiến họ Trịnh và họ Nguyễn.

Lê Chiêu Thống của triều đình nhà Lê khiếp sợ trước thế lực của quân Tây Sơn đã yêu cầu nhà Thanh giúp sức. Vào tháng 10 năm 1788, vua Càn Long nhà Thanh đã đưa 200.000 quân đến Việt Nam, quân Thanh sau một tháng đã tiến đến thành Thăng Long. Nhưng đến ngày 5 tháng 1 năm sau thì quân Thanh đã thua và chịu thất bại lớn trước quân đội của Quang Trung. Lúc đó Lê Chiêu Thống quay lại chịu khuất phục và Hoàng đế Quang Trung đăng quang lên ngôi trị vì đất nước. Vua Quang Trung trở thành vua của An Nam Quốc với điều kiện: hứa tiếp tục cống nộp cho nhà Thanh và sẽ trực tiếp tham dự lễ chúc thọ 80 tuổi của vua Càn Long vào năm 1790 theo yêu cầu của nhà Thanh. Nhưng không giống như đã hẹn, ông đã không đến dự lễ chúc thọ mà đã gửi một người là Nguyễn Quanh Bìnhcó dung mạo giống mình đi thay.

Năm 1790, vị vua đi cùng đoàn sứ thần Việt Nam mà So Hô Su và Yu Tức Kông đã gặp chính là vị vua giả này. Trong Trung Quốc du hành ký,So Hô Su đã đề cập đến Nguyễn Quang Bình một số lần. Trong đó có đoạn viết như sau:

“Vua An Nam là Nguyễn Quang Bình tên tự đầu tiên là Huệ… Khi triều đình nhà Lê suy yếu đã tụ tập dân chúng và tấn công kinh thành, cuối cùng đã giết chết vua và cướp ngôi”.

Xem như ở trên, So Hô Su đang chỉ trích việc vua An Nam đã chiếm lấy ngôi vua. Đây là thái độ phê phán không tránh khỏi được vì nhìn theo cách nhìn của một nhà nho có đạo đức Khổng giáo thời bấy giờ.

Lúc bấy giờ không phải chỉ có So Hô Su quan tâm đến sự thể nước Việt. Trong thời Chô Sơn, một trong số những nhiệm vụ quan trọng của đoàn sứ thần khi được cử đến nhà Thanh là điều tra về tình hình chính sự và xu hướng của nhà Thanh để báo lên quốc vương. Thế nhưng trong nội dung báo cáo lên triều đình ở giai đoạn từ năm 12 (1788) đến năm 14 (1790) đời vua Chong Chô có ghi rất nhiều những tình hình chính sự của Việt Nam và các chính sách đối ứng của Trung Quốc với những việc đó. Trong báo cáo do Hông Miêng Buk gửi lên quốc vương vào ngày 12 tháng 8 năm thứ 12 đời vua Chong Chô có đoạn như sau:

“Biến loạn giết vua và cướp ngôi ở An Nam Quốc xảy ra làm cho Hoàng phi và Thái tử phải vượt biển và tìm đến thành Quảng Tây xin cứu viện, tổng đốc thành Quảng Tây đã không nhanh chóng dàn xếp nên hoàng đế đã rất nổi giận và yêu cầu tổng đốc thành Quảng Châu nhanh chóng điều tra nguyên nhân của cuộc biến loạn đó, và cho rằng đó là nguy cơ có thể có chiến sự trong tương lai”.

Bảng chữ cái Hunminjeongeum của Hàn Quốc (Thế kỷ 15 - có nghĩa là “Hệ thống ghi âm đúng để dạy dân chúng).
Bảng chữ cái Hunminjeongeum của Hàn Quốc (Thế kỷ 15 - có nghĩa là “Hệ thống ghi âm đúng để dạy dân chúng).
Có thể thấy rằng tình hình chiến sự của Việt Nam đã được báo cáo đến quốc vương Chô Sơn rất nhanh chóng. Hai tháng sau khi báo cáo này được gửi đi, vào tháng 10 năm 1788 nhà Thanh đã tấn côngViệt Nam bằng đại quân. Ngoài ra, trong văn kiện của Song Chông II là viên quan thượng thư gửi lên quốc vương vào ngày 27 tháng 3 năm thứ 14 đời vua Chong Chô (tức là năm 1790) đã báo cáo rất chitiết về phương thức đối phó của nhà Thanh với tình hình chính sự ở Việt Nam.

Vua Chô Sơn quan tâm đến tình hình thế sự ở Việt Nam , có thể thấy hai lý do chủ yếu: Thứ nhất là vì đó là cuộc biến loạn cướp ngôi vua, thứ hai là vì thông qua vấn đề trong nội bộ nước Việt có thể nhìn thấy những biến động quân sự của nhà Thanh. Nước Chô Sơn đã bị nhà Thanh xâm lược năm 1636. Sau này, Cho Sơn độc lập và phải duy trì chế độ cống nạp cho nhà Thanh, bên ngoài thì vẫn giữ mối quan hệ ngoại giao tốt đẹp nhưng trong lòng vẫn mang thái độ đối nghịch với quân xâm lược nhà Thanh và vẫn luôn phải để mắt đến vùng biên cương giáp với nhà Thanh. Chính vì thế, có thể nói trong những năm của đời vua Chong Chô (Chính Tổ) tình hình thế sự ở Việt Nam được phản ánh là bài học kinh nghiệm lịch sử và là kiến thức chống Thanh. Như vậy, ở Hậu Kỳ Chô Sơn, những thông tin liên quan đến Việt Nam luôn được thu nhập đầy đủ ở Trung Nguyên và được báo cáo kịp thời trực tiếp lên quốc vương. Những thông tin này được cung cấp đến một bộ phận những trí thức, quý tộc thượng lưu của Chô Sơn chủ yếu tập trung đông ở thủ đô. Rồi sau đó lại được truyền đi ra ngoài xã hội Chô Sơn, như thế đây là con đường phát triển mở rộng những thông tin tri thức về Việt Nam trong xã hội Hàn Quốc.

Những trí thức thời Chô Sơn Hậu Kỳ đã nuôi dưỡng sự tưởng tượng và kiến thức về Việt Namthông qua các ghi chép hoặc những lời kể của những người đã đi Việt Nam về. Trong số những người đã đi Việt Nam về có thể chia thành hai nhóm. Thứ nhất là nhóm những người khi xảy ra chiến loạn (1597) đã bị bắt làm tù binh cho quân Nhật và phải làm việc trên các thuyền đánh cá, trong quá trình làm việc phải đi lại giữa Việt Nam và Nhật Bản, rồi sau này có những thương lượng ngoại giao giữa Hàn Quốc và Nhật Bản, họ được gửi trả về nước Chô Sơn: thứ hai là nhóm những người đi tàu bị trôi dạt vào Việt Nam rồi quay trở về lại Chô Sơn.

Chô Oan Piêc (Triệu Hoàn Bích) vốn là một học giả được biết đến là người ở tỉnh Chin Chu (Tân Châu), lần đầu tiên đến Việt Nam vào năm 1604 và sau đó có đi lại đến Việt Nam thêm hai lần nữa. Người được gọi là Jong Sa Chơn (Trịnh Sĩ Tín 1558 - 1619) đã ghi lại trong Truyền kỳ của Chô Oan Piêc(tên gốc là Triệu Hoan Bích truyện) rằng khi Chô Oan Piêc đi đến Việt Nam, giao lưu với các học giả Việt Nam thì tên tuổi của Lee Su Quang được đánh giá cao, họ đánh giá thơ của ông đạt đến mức độ nhuần nhuyễn. Trong sách Truyền kỳ của Chô Oan Piêcđã nói đến rất nhiều ý kiến của Chô Oan Piêc về tự nhiên, văn hoá, chế độ, phong tục của Việt Nam. Và như thế Lee Su Quang cũng để lại được cuốn Truyền kỳ của Chô Oan Piêccho đời sau.

Trong số sách có ghi về những người đã trôi dạt đến Việt Nam và trở về đáng chú ý có sách Khổ nạn di trú(tên gốc là Di tề loạn cảo) của Hwang Ul Sok (Hoàng Dậu Tích 1726 - 1791) và Sách viết vào buổi sáng mùa hè dài(tên gốc là Thư Vĩnh Biên) của Jong Dong Yu (Trịnh Đông Dũ 1744 - 1808). Hai quyển sách snày đều viết về câu chuyện 21 người đã trôi dạt đến Việt Nam vào tháng 10 năm 1678 và quay trở về đảo Jeju (Tế Châu) vào tháng 12 năm sau.

Câu chuyện trong sách của Hwang Ul Sok được chuyển từ câu chuyện trong Chê Chu đô vấn kiến lục(tên gốc là Đam La văn kiến lục) của Jong Ul Kiêng và câu chuyện trong sách của Jong Dong Yu là ghi lại câu chuyện được nghe từ một người già đã là một trong số những người trôi dạt đến Việt Nam và được trở về sau đó. Nội dung những câu chuyện của hai tác giả này về sau đã được chứng thực là nội dung thực trên ký sử ghi ngày 13 tháng 2 năm thứ 15 đời vua Suk Chông ( Suk Chông thực lục).

Theo những ghi chép của Hwang Ul Sok và Jong Dong Yu, những người trôi dạt ở thời điểm đó đã trú ngụ tại Hội An, sau đó đã đi đến Phú Xuân (nay là Huế) và gặp chúa Nguyễn. Lúc bấy giờ Việt Nam đang bị chia cắt thành hai miền Nam, Bắc. Ở phía Bắc họ Trịnh thống trị, ở phía Nam họ Nguyễn thống trị. Đó cũng chính là vào năm 1678, những người dân miền biển thực hiện theo chính sách Nam tiến của nhà Nguyễn đã đến Huế.

Hwang Ul Sok và Jong Dong Yu đều là những học giả theo phái Thực học giả. Điều đáng quan tâm là những điều quan trong các ghi chép của họ về một phần của Huế, Hội An vào cuối thế kỷ 17 là những nội dung chưa từng có trên các ghi chép bằng văn bản, nhưng họ đã tài tình làm sống động về mảnh đất, phong tục, văn hoá và tái hiện nó thật phong phú. Còn một điểm đáng chú ý nữa là trên thực tế những bài viết này được lưu giữ cùng chiếu chỉ văn bản ngoại giao thời bấy giờ của nhà Nguyễn với nội dung chỉ thị cho những thuyền nhân trôi dạt này quay trở về Chô Sơn.

Theo những nội dung trình bày trên đây, chúng ta có thể thấy vào Chô Sơn Hậu Kỳ có một số ghi chép đáng được gọi là Kiến Văn Ký Việt Nam, và những ghi chép đó được lan truyền rộng rãi trong tầng lớp trí thức, học giả của Chô Sơn, những thông tin này làm tăng sự quan tâm, làm gần gũi hơn những tưởng tượng về đất nước Việt Nam và bổ sung kiến thức phong tục về Việt Nam lên một bậc trong xã hội Chô Sơn. Những ghi chép này đã vượt qua không gian địa lý xa xôi và mang đến tình cảm thân thiết hữu hảo giữa hai dân tộc Việt Nam và Hàn Quốc.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Thủ tướng Lê Minh Hưng lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Philippines
Nhận lời mời của Tổng thống nước Cộng hòa Philippines Ferdinand Romualdez Marcos Jr, Chủ tịch ASEAN năm 2026, ngày 7/5, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Lê Minh Hưng dẫn đầu Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Cebu, Philippines từ ngày 7 đến 8/5/2026.
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam: Điểm tựa khoa học công nghệ gắn với chuyển đổi số quốc gia
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam với gần 40 năm phát triển đang thể hiện rõ vai trò tổ tổ chức xã hội - nghề nghiệp uy tín trong lĩnh vực vô tuyến, điện tử, viễn thông, công nghệ thông tin đồng thời đóng góp thực chất vào tiến trình chuyển đổi số quốc gia theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Đầu tư khoa học công nghệ giải quyết điểm nghẽn của ngành Thủy sản Việt Nam
Phát biểu tại Hội nghị khoa học công nghệ thủy sản và kiểm ngư toàn quốc năm 2026, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến đã nhấn mạnh sự cần thiết của đổi mới sáng tạo khoa học công nghệ trong giải quyết điểm nghẽn về logistics, môi trường, nâng cao sức cạnh tranh của ngành Thủy sản trong nước.
Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng nhận danh hiệu Giáo sư danh dự Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga
Sáng 30/4/2026, tại Trường Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga (MPEI), TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã vinh dự đón nhận danh hiệu Giáo sư danh dự của MPEI. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng là công dân đầu tiên của Việt Nam được trao tặng danh hiệu Giáo sư tại MPEI, đứng trong bảng danh dự cùng với các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới.
51 năm thống nhất đất nước: Khơi thông nguồn lực tri thức trong kỷ nguyên mới
Thông tấn xã Việt Nam giới thiệu bài phỏng vấn với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) về vai trò của lực lượng trí thức và những giải pháp đột phá để hiện thực hóa khát vọng hùng cường vào năm 2030 và 2045.
Phát huy vai trò nòng cốt của trí thức KH&CN tỉnh Cà Mau
Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Cà Mau lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031 tổ chức thành công thực sự đã mở ra một không gian mới để hội tụ sức mạnh, tâm huyết và trí tuệ của đội ngũ trí thức tỉnh nhà, định hình con đường kiến tạo và phát triển trong kỷ nguyên mới của đất nước.