Tổn thương tim ở người đái tháo đường
Về tiền sử, từ mươi năm nay, ông bị cao huyết áp điều trị bằng lợi tiểu. Mặt khác, ông thừa cân rõ rệt và hút ngày hai gói thuốc lá.
Khám lâm sàng huyết áp lúc nằm 140/80 ở hai tay và tuột xuống 105/ 65 sau 2 phút đứng dậy. Nhịp tim 95/ phút. Có phù đôi chút ở 2 chân. Điện tâm đồ xác nhận tim nhanh xoang.
Tổng kê sinh học không phát hiện thiếu máu, không loạn năng tuyến giáp, nhưng ngược lại đường huyết trên 3g/ l.
Siêu âm tim không thấy bất thường ngoại trừ rối loạn thư giãn. Nghiệm pháp gắng sức tối đa, âm tính về lâm sàng và điện tim.
Các thuốc lợi tiểu được thay bằng chẹn bêta tim chọn lọc và đái tháo đường týp 2 được chữa bằng chế độ ăn uống, thuốc uống và vận động.
Sau 6 tháng điều trị, không còn giảm huyết áp thể đứng rõ rệt, nhịp tim trung bình 80 lần/ phút.
Bệnh học: bệnh cơ tim đái tháo đường
Có nguồn gốc hỗn hợp: chuyển hóa trực tiếp và tổn thương vi mạch. Thương tổn tế bào cơ tim tạo biến tính chức năng co, thường không triệu chứng, nhưng có thể đưa đến suy tim sung huyết. Các thương tổn này càng năngj thêm trong trường hợp cao huyết áp, phì đại thất trái hay bệnh thần kinh tự quản của tim.
Hình thể lâm sàng điển hình thường gặp và suy tim toàn bộ không thương tổn mạch vành rõ rệt. Bệnh cơ tim đái tháo đường cũng là nguyên nhân suy tim trong các trường hợp thiếu máu cục bộ chỉ giới hạn. Sự thể này giải thích một phần tiên lượng xấu trong các trường hợp thương tổn mạch vành, nhất là sau tái phân bố thiếu máu.
Phì đại thất trái
Thường kết hợp với bệnh đái tháo đường kể cả không có huyết áp cao. Nguyên nhân nhiều yếu tố: yếu tố mạch đại thể và vi thể, thương tổn thận (do tăng gánh thể tích), bệnh thần kinh tự quản của tim, vai trò có thể có yếu tố di truyền và béo phì kèm theo.
Phì đại thất trái là yếu tố không phụ thuộc tỷ lệ tử vong bệnh tim mạch: các dị thường châm đầy thất trái có thể đưa đến suy tim tâm trương và phì đại thất trái có thể biến chứng loạn nhịp nhĩ và thất. Do đó cần điều trị phì đại thất trái ở bệnh nhân đái tháo đường cả những người có huyết áp bình thường.
Bệnh thần kinh tự quản của tim
Thường gọi “loạn tự quản đái tháo đường”, gắn liền với tăng tỷ lệ tử vong. Nguồn gốc còn bàn cãi với hai giả thuyết: thương tổn trực tiếp của tăng glucoz huyết; giả thuyết về vi mạch (biến tính dây thần kinh ngoại biên và dây thần kinh tự quản). Tỷ lệ mắc phải độ 20%; thường đã có mặt khi phát hiện bệnh đái tháo đường.
- Giảm huyết áp thể đứng là một triệu chứngchủ yếu; tuy ít gặp nhưng khi cân bằng được đường huyết, còn độ 10% bệnh nhân vẫn than khó chịu. Cần loại trường hợp do thuốc gây nên hạ huyết áp, giãn mạch, dẫn xuất nito, lợi tiểu, an thần kinh…
- Thường gặp nhịp tim nhanh xoang thường xuyêncũng như phù chi dưới. Bệnh thần kinh tự quản cũng giải thích các trường hợp hạ đường huyết không hay biết và khó chịu sau bữa cơm thường gắn liền với tụt huyết áp kết hợp với giãn mạch ngoại biên. Thăm dò để chẩn đoán bệnh thần kinh tự quản bằng giảm huyết áp thế đứng và giảm độ biến đổi xoang trong hô hấp; có thể bằng Holter (ghi điện tim liên tục 24/24).
- Biến chứng chủ yếu là tính chất không đau khi cơ tim bị thiếu máu (như trường hợp nhồi máu) và trong tim loạn nhịp.
Điều trị bệnh thần kinh tự quản của tim
Chủ yếu là cân bằng đường huyết, tác động trội cả hơn trường hợp bệnh mạch vành. Thường có đề nghị dùng chẹn beta trong mạch nhanh xoang với hiệu nghiệm vừa phải.
Điều trị giảm huyết áp thế đứng
Có khó khăn ở bệnh nhân, mặt khác lại bị cao huyết áp. Cần tránh các loại thuốc có thể gây ra lợi tiểu, giãn mạch mạnh; tránh chế độ kiêng muối quá khắt khe… Có một số thuốc được đề nghị nhưng không phải vô hại. Chưa có thuốc điều trị trên thị trường (còn trong vòng nghiên cứu).
Kết luận: Đái tháo đường là bệnh toàn cơ thể, không phải chỉ đơn thuần “đường trong máu cao”, gây thương tổn ở bất cứ tạng nào.








