Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ ba, 30/01/2007 15:32 (GMT+7)

Tổ chức và quản lý lễ hội truyền thống hiện nay

Thực tế cho thấy, trong việc tổ chức và quản lý lễ hội vừa qua có cả những mặt đã thực hiện tốt và chưa thực hiện tốt. Chúng tôi cho rằng quản lý lễ hội, ngoài việc đảm bảo cho công tác tổ chức lễ hội được vận hành suôn sẻ còn phải phát huy được những mặt đã làm được và hạn chế những mặt chưa làm được do việc tổ chức lễ hội mang lại.

1.Ưu điểm trong việc tổ chức và quản lý lễ hội truyền thống trong thời gian qua

Sự thay đổi văn hóa nào cũng tác động hai mặt đối với xã hội. Trong thời gian qua, công tác tổ chức và quản lý lễ hội có một số ưu điểm.

Xác định và củng cố bản sắc văn hóa Việt Nam trong quá trình đất nước ta đang tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước: Trong bối cảnh toàn cầu hóa với sự hội nhập nhanh chóng của nền kinh tế xã hội và văn hóa của các quốc gia, việc phục hồi và phát triển lễ hội truyền thống có một vai trò rất quan trọng trong việc xác định căn cước của nền văn hóa Việt Nam. Thông qua các sinh hoạt lễ hội, nhiều phong tục tập quán tốt đẹp của dân tộc được bảo lưu, tạo sức đề kháng vững chắc cho văn hóa bản địa.

Khi các thói quen sinh hoạt văn hóa của người dân đang dần thay đổi theo hướng hiện đại hóa, nghiêng về việc hưởng thụ văn hóa thông qua các phương tiện truyền thông mới (truyền hình, phát thanh,     internet…), giải trí cá nhân hoặc nhóm như xem ca nhạc, uống cafe, xem phim, đi dã ngoại… hoặc đam mê với các trò chơi điện tử trên máy tính, thì việc tổ chức, phục hồi và phát triển các lễ hội truyền thống, mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc là một tín hiệu đáng mừng cho văn hóa nước nhà. Một nghiên cứu cho thấy người dân đánh giá về lễ hội làng như sau: là môi trường giữ gìn truyền thống văn hóa của làng (75,6%); là dịp để vui chơi, gặp gỡ (61,3%); để gắn bó các thành viên trong làng (58,3%); là dịp bày tỏ lòng biết ơn đối với người có công với làng (49,1%); là dịp cầu tài, cầu lộc (35,7%); là dịp các dòng họ thể hiện (26,6%); là dịp khẳng định danh tiếng của làng (25,8%); là dịp cầu ước sở nguyện riêng (21,1%) (1). Như vậy, khi người dân còn quan tâm đến việc giữ gìn truyền thống văn hóa của làng mình, cộng đồng mình, thì rõ ràng lễ hội truyền thống giúp xác định và củng cố bản sắc văn hóa Việt Nam .

Bên cạnh đó, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, môi trường lễ hội chính là nơi giúp các cộng đồng bảo tồn và phát huy các truyền thống văn hóa của mình một cách tốt nhất. “Lễ hội không chỉ là tấm gương phản chiếu nền văn hóa dân tộc, mà còn là môi trường bảo tồn, làm giàu và phát huy nền văn hóa dân tộc ấy... Điều này càng trở nên quan trọng trong điều kiện xã hội công nghiệp hóa, hiện đại hóa và toàn cầu hóa hiện nay, khi mà sự nghiệp bảo tồn, làm giàu và phát huy văn hóa truyền thống dân tộc trở nên quan trọng hơn bao giờ hết, thì làng xã và lễ hội Việt Nam lại gánh một phần trách nhiệm là nơi bảo tồn, làm giàu và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc!”(2). Thực tế cho thấy, nhiều loại hình nghệ thuật truyền thống, trò chơi dân gian như múa rối, chèo, quan họ,… hay các đội vật, võ… có dịp được mời, biểu diễn ở các địa phương; người dân vì thế mới có dịp được thưởng thức các loại hình nghệ thuật này trong môi trường diễn xướng phù hợp. Có thể nói không quá rằng, nếu không có các lễ hội truyền thống thì nguy cơ mai một các loại hình nghệ thuật truyền thống và trò chơi dân gian còn cao hơn so với những gì chúng ta đang chứng kiến.

Kích thích phát triển kinh tế xã hội của nhiều địa phương: Bối cảnh kinh tế xã hội mới đã mang lại cho các lễ hội truyền thống những chức năng mới. Một trong những chức năng đó là nhân tố kích thích sự phát triển kinh tế xã hội của địa phương. Ngoài ra, phải thừa nhận rằng hàng loạt lễ hội được mở ra không chỉ thuần túy vì lý do văn hóa, tâm linh mà còn vì cả những lý do kinh tế. Những lễ hội lớn như lễ hội chùa Hương, Bà Chúa Kho, Đền Hùng cũng được xem như những tác nhân kích thích sự phát triển kinh tế của cộng đồng. Nhiều địa phương còn mong muốn mình trở thành thành phố lễ hội để thu hút khách du lịch, kích thích sự phát triển các ngành kinh tế. Đối với các lễ hội nhỏ, thậm chí chỉ ở qui mô cấp làng, người ta cũng nghĩ đến những yếu tố như vậy.

Đáp ứng được nguyện vọng của nhân dân các địa phương; người dân góp phần trong quá trình sáng tạo nên đời sống văn hóa của chính mình: Sau nhiều năm dồn sức cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, phát triển kinh tế, giờ đây, nhiều cộng đồng dân cư Việt Nam nói chung, đồng bằng Bắc Bộ nói riêng, đã có đủ thời gian, vật lực và tài lực để chú ý hơn đến nhu cầu sinh hoạt tinh thần của mình. Mỗi khi làng tổ chức lễ hội truyền thống, người dân vui vẻ sống trong không khí ngày hội cả năm mới có một lần; những người con xa xứ cũng có dịp nhớ và về thăm quê hương, nơi gốc tích sinh thành của bản thân; và cũng là thời điểm để người địa phương đón bạn bè nơi khác đến thăm quê hương mình. Lễ hội truyền thống thực sự đã làm phong phú tinh thần của người dân, bù đắp cho các sinh hoạt văn hóa hàng ngày của họ, vốn quá lệ thuộc vào các phương tiện truyền thông, hay các yếu tố bên ngoài. Bên cạnh đó, điều đáng lưu ý hơn là, sinh hoạt lễ hội do chính cộng đồng địa phương sáng tạo và chính họ là người hưởng thụ. Từ bao đời nay vẫn thế, hàng năm, người dân các cộng đồng làng vẫn tự tổ chức các lễ hội truyền thống. Họ coi đó vừa là quyền lợi, vừa là nghĩa vụ của cộng đồng mình. Quy tắc này dường như bất biến qua thời gian, và trong công tác quản lý lễ hội, đây là một yếu tố quan trọng, cần phải xem xét đến trong bất kỳ việc ban hành văn bản quản lý nào.

Tăng tình đoàn kết cộng đồng, góp phần xây dựng nếp sống văn hóa: Tổ chức lễ hội truyền thống góp phần làm cho người dân ý thức về cộng đồng nhiều hơn. Lễ hội Đền Hùng giúp người dân ý thức về nguồn gốc dân tộc Việt Nam . Hội Gióng hay lễ hội về các anh hùng lịch sử giúp người dân ý thức về một truyền thống đấu tranh anh dũng của cộng đồng, dân tộc. Tất cả các lễ hội, dù quy mô khác nhau, song đều giúp người dân duy trì ý thức về cộng đồng mình đang sống, và vì vậy, giúp họ ý thức về trách nhiệm của mình đối với cộng đồng. Không phải ngẫu nhiên, trong các lễ hội, các hoạt động từ thiện, góp công, góp của trùng tu xây dựng di tích,… nhận được sự quan tâm của nhiều tầng lớp nhân dân đến như vậy.

Người dân ý thức về việc giữ gìn di sản: “Hội hè được mở lại, cùng với việc xếp hạng các di tích lịch sử, văn hóa, nghệ thuật, tạo cho quần chúng nhân dân có ý thức giữ gìn, bảo vệ, trân trọng những cơ sở vật chất mà tiền nhân để lại; tạo cho các cấp, các ngành, các đoàn thể ở địa phương chăm lo, tu bổ tôn tạo các di tích lịch sử, các công trình văn hóa của dân tộc” (3). Người dân ở các địa phương đã phát triển phong trào xây dựng lại các thiết chế văn hóa cổ truyền như đình, đền, chùa, miếu…, phục hồi lễ hội truyền thống để khẳng định bản sắc của cộng đồng mình. Điều này xét trên góc độ tích cực, có thể thấy, chính tâm lý tự tôn cộng đồng đã góp phần phục hồi lễ hội, giúp người dân ý thức hơn về di sản của cộng đồng mình và cố gắng gìn giữ và phát huy những di sản ấy theo cách riêng của họ.

2. Những điểm chưa làm được

Thương mại hóa thái quá: Thương mại hóa thái quá lễ hội trở thành vấn đề được xã hội quan tâm. Lý do chính là việc quá chạy theo đồng tiền mà bất chấp những hậu quả tiêu cực có thể tác động đến lễ hội- với tư cách một hiện tượng văn hóa tín ngưỡng. Chẳng hạn nhiều người lợi dụng việc tổ chức lễ hội truyền thống để kiếm lợi bằng cách kinh doanh các loại hình dịch vụ ăn theo lễ hội như ăn, nghỉ, bán hàng thu tiền với giá quá đắt, quảng cáo tràn lan, buôn thần bán thánh… Thực trạng này không chỉ tồn tại ở các lễ hội có qui mô lớn, mà còn len lỏi đến lễ hội ở các vùng quê.

Thực ra, thương mại hóa lễ hội chưa chắc đã trở thành vấn đề đối với việc quản lý lễ hội nếu nó không vượt ngưỡng một cách thái quá. Không nên đấu thầu lễ hội mà chỉ có thể cho đấu thầu dịch vụ phục vụ lễ hội, theo những nguyên tắc nhất định để dịch vụ không làm mất đi ý nghĩa văn hóa của lễ hội.

Chủ trương xã hội hóa các hoạt động văn hóa, khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia vào công cuộc bảo tồn và phát huy giá trị di tích, lễ hội, khuyến khích các địa phương lấy di tích nuôi di tích, lấy lễ hội nuôi lễ hội là đúng. Tuy nhiên, huy động nguồn lực kinh tế từ mọi thành phần trong xã hội không đồng nghĩa với việc các lễ hội truyền thống bị biến dạng, không giữ được bản sắc vốn có của nó.

Mê tín dị đoan, đốt vàng vàng mã tràn lan: “Mê tín (…) là người bạn song hành của tín ngưỡng”(4). Dù không thể khẳng định rằng còn lễ hội truyền thống thì còn mê tín dị đoan, nhưng chắc chắn, trong việc quản lý lễ hội truyền thống, vấn đề hạn chế mê tín dị đoan luôn cần đặt ra. Qua thời gian, tệ nạn mê tín dị đoan không những không biến mất cùng với các biện pháp quản lý hành chính mà ngày càng trở nên trầm trọng hơn với việc bùng nổ trở lại của hiện tượng lên đồng hay đốt vàng mã tràn lan. Dù ngành văn hóa thông tin đã có những chế tài cho việc xử lý các vi phạm này qua nghị định xử phạt hành chính các hành vi vi phạm trong hoạt động văn hóa thông tin, nhưng xem ra, những hoạt động này khó có khả năng giảm đi trong những năm sắp tới.

Một số hủ tục phục hồi: Phục hồi các lễ hội truyền thống thường gắn liền với việc phục hồi những lệ, tục đã gắn bó với người dân của các cộng đồng từ lâu đời. Lễ hội truyền thống được mở đồng nghĩa với việc người dân có những ngày nghỉ ngơi, tham gia các sinh hoạt văn hóa cộng đồng. Đây cũng là dịp để nhiều hủ tục có không gian và thời gian trỗi dậy. “Do hình thức tổ chức khá đặc biệt vốn có từ xưa, nên mỗi dịp mở hội hiện nay, ý thức phường hội, phe giáp, đình đám nảy sinh. Nạn cờ bạc, hút xách, chè chén phung phí, tệ mê tín dị đoan được dịp hoạt động. Trong không khí cởi mở của hội lễ dễ có tâm lý hòa đồng, nhìn mọi sự việc bằng con mắt ưu ái, coi như không có hại, nhưng chính nó đang là loại “dịch vụ ăn khách” làm vẩn đục bầu không khí trong lành của ngày hội và ảnh hưởng đến tâm lý và cuộc sống của từng người trong xã hội. Xóc thẻ, viết sớ công khai, đánh bạc là những hiện tượng có nhiều ở một số lễ hội”(5).

Việc tu bổ di tích được thực hiện một cách sơ sài, làm biến dạng di tích; cảnh quan xung quanh di tích bị xâm hại: Sau một thời gian dài không được quan tâm tu bổ, bị sử dụng sai mục đích, bị lấn chiếm, nhiều di tích đã xuống cấp nghiêm trọng, thậm chí bị phá hủy hoàn toàn. Công việc phục dựng các di tích với mục đích lấy lại hình dáng và không gian ban đầu không phải là một nhiệm vụ đơn giản. Một số di tích được xây dựng đã phá vỡ cảnh quan di tích, lấn át di tích gốc như trường hợp xây dựng tháp ở chùa Trấn Quốc (Hà Nội) và chùa Mía (Hà Tây); gây ra những tranh cãi trong việc phục hồi khi áp dụng những chất liệu xây dựng mới, hệ thống trang thiết bị mới, đặc biệt ở các di tích lớn như trường hợp cáp treo ở chùa Hương, Yên Tử hay hệ thống đèn chiếu sáng ở Đền Hùng. Lý do có nhiều, nhưng chủ yếu do trình độ nhận thức còn yếu và chưa đồng đều dẫn đến việc không thể hiện hết ý tưởng nghệ thuật - tôn giáo của người xưa trong việc xây dựng di tích; chưa có sự thống nhất của cán bộ ngành văn hóa thông tin trong việc trùng tu, tôn tạo di tích đã khiến cho mỗi nơi trùng tu, tu bổ di tích theo những kiểu khác nhau; và chưa có những qui hoạch tổng thể cho các vấn đề cơ sở hạ tầng, kinh tế xã hội, môi trường cảnh quan, dịch vụ du lịch,... cho di tích nói chung và lễ hội đi kèm với di tích nói riêng.

Ngoài ra, không gian di tích cũng ngày càng bị thu hẹp do tốc độ đô thị hóa đang lan dần về nông thôn. Đã không ít bài báo kêu ca về việc các di tích bị các hộ dân lấn chiếm làm đất ở, các cơ quan nhà nước xâm phạm phạm vi bảo vệ di tích. Bên cạnh đó, mỗi lần tổ chức lễ hội là một lần các di tích bị xâm hại, cảnh quan môi trường bị phá hủy do sự tập trung số lượng lớn du khách trong một thời gian ngắn gây ra sự quá tải cho di tích.

Việc phục hồi và tổ chức lễ hội diễn ra một cách lộn xộn, bắt chước nhau một cách máy móc: Sau nhiều năm gián đoạn cộng với những thay đổi trong một số qui định về tổ chức lễ hội, việc phục hồi và tổ chức lễ hội ở nhiều địa phương đã gây nên những vấn đề quản lý nhất định. Đó là việc phục hồi và tổ chức lễ hội một cách máy móc, bắt chước nhau, không chú ý đến đặc thù của địa phương trong việc khôi phục và tổ chức lễ hội. Tác giả Ngô Đức Thịnh nhận xét: “Trong việc phục hồi và phát huy lễ hội cổ truyền hiện nay, dưới danh nghĩa là đổi mới lễ hội, gắn lễ hội với giáo dục truyền thống, gắn lễ hội với du lịch..., đây đó và ở những mức độ khác nhau đang diễn ra xu hướng áp đặt một số mô hình định sẵn, làm cho tính chủ động, sáng tạo của người dân bị suy giảm, thậm chí họ còn bị gạt ra ngoài sinh hoạt văn hóa mà vốn xưa là của họ, do họ và vì họ. Chính xu hướng này khiến cho lễ hội mang nặng tính hình thức, phô trương, “giả tạo”, mà hệ quả là vừa tác động tiêu cực tới chủ thể văn hóa, vừa khiến cho du khách hiểu sai lệch về nền văn hóa dân tộc”(6). “...ở nhiều lễ hội cho thấy thời gian tế lễ quá dài, lê thê, không phù hợp với nhịp sống hiện tại. Có nơi lại tế sai nghi thức, tế nữ quan lại diễn ra ở văn miếu, ở đình… có tình trạng nhiều đội tế cùng xuất hiện trong một lễ hội gây ra sự lộn xộn, đội nọ đố kị, chê bai đội kia… làm mất đi vẻ đẹp trang nghiêm trong lễ thức truyền thống”(7).

Một số các tệ nạn xã hội và các dịch vụ ăn theo lễ hội nảy sinh: Lễ hội truyền thống giờ đây không chỉ bó gọn trong phạm vi một làng, một địa bàn cư trú nhỏ hẹp. Hầu hết người đến dự lễ hội đều từ nơi khác đến. Tính vô danh của người đi lễ cộng với ý nghĩa tâm linh ít nhiều phai nhạt trong tâm niệm của người đi hội, thay vào đó các lễ hội truyền thống được xem như một trò vui hay một đám đông người đã khiến cho lễ hội nhiều khi bị trần tục hóa. Chính vì lẽ đó, việc “buôn thần, bán thánh”, thương mại hóa lễ hội trở nên phổ biến. Không những thế, những tệ nạn xã hội bắt đầu len lỏi vào các lễ hội truyền thống, đặc biệt là những lễ hội ở qui mô cấp vùng, cấp quốc gia.

Ngoài việc ép giá quá cao, bán hàng với giá “cắt cổ” như đã từng xảy ra ở lễ hội chùa Hương hay Đền Hùng, việc du khách tập trung quá đông ở một địa điểm cũng gây ra tình trạng trộm cắp, móc túi, ăn xin và kể cả tệ nạn mại dâm, nghiện hút.

Bên cạnh đó các dịch vụ đi kèm có ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển của lễ hội như tình trạng khấn thuê, đổi tiền lẻ với giá cao, tổ chức các trò chơi điện tử cờ bạc trá hình…

Những vấn đề xã hội mới nảy sinh khác: Hiện nay, lễ hội truyền thống được tổ chức ở bất cứ đâu, bất cứ qui mô nào cũng có khách tham quan, và thường nhiều hơn lượng người dự hội của chính địa phương tổ chức, nên đặt ra hàng loạt vấn đề đối với các nhà quản lý văn hóa xã hội của địa phương. Từ các khâu như đảm bảo giao thông, y tế, vệ sinh an toàn thực phẩm, hướng dẫn khách thăm quan đến duy trì an ninh trật tự… đều là mối lo chung của nhiều ban, ngành địa phương. Tùy mức độ của mỗi lễ hội mà các vấn đề này cần sự lưu tâm ở các mức độ khác nhau.

Bệnh phô trương hình thức trong việc tổ chức lễ hội là một trong những vấn đề xã hội đáng lưu tâm trong thời gian vừa qua. Dù Trống làng nào làng ấy đánh, thánh làng nào làng ấy thờ, song việc so sánh lễ hội làng này với lễ hội làng khác vẫn tồn tại từ lâu trong quá khứ. Tuy nhiên, ngày nay, việc so sánh đó đã có những nội dung mới. Trong thực tế tồn tại chuyện các làng cố gắng “tìm kiếm” bằng di tích lịch sử văn hóa của tỉnh, của Bộ Văn hóa - Thông tin để tổ chức hội cho to, quyên góp quá nhiều tiền của người dân để tổ chức hội càng ngày càng to, và quan trọng là phải to hơn làng bên cạnh.

Ngoài ra, có một vấn đề là các lễ hội được tổ chức liên tục chủ yếu trong thời gian mùa xuân đã kéo theo việc nhiều cán bộ công chức nhà nước bỏ bê công việc, dùng xe công để đi lễ hội. Câu ca Tháng giêng là tháng ăn chơi, tháng hai cờ bạc, tháng ba hội hè lại được “vận dụng” trở lại trong những năm gần đây đã ít nhiều tác động tiêu cực đối với các sinh hoạt bình thường của xã hội.

Tóm lại, việc tổ chức, quản lý, phục hồi lễ hội truyền thống trong thời gian vừa qua đã đạt được những kết quả và gặp phải những vấn đề nhất định. Những vấn đề đang đặt ra cho việc tổ chức và quản lý lễ hội truyền thống ngày hôm nay có thể phát sinh do những bối cảnh xã hội hiện thời, do bản chất vốn có của lễ hội truyền thống, do những quyết định quản lý để lại qua thời gian. Tuy nhiên, điều phải nhấn mạnh là, lễ hội truyền thống thực sự đang tồn tại và có những vai trò nhất định trong sinh hoạt văn hóa của người dân cũng như có ý nghĩa đối với sự phát triển kinh tế xã hội, chính trị của cả nước nên chúng ta cần có những biện pháp quản lý lễ hội phù hợp với xu thế chung mà không làm ảnh hưởng, dẫn đến sự biến dạng của bản chất lễ hội với tư cách là một di sản do cha ông để lại.

Bùi Hoài Sơn

___________________
1. Phan Hồng Giang (chủ biên), Đời sống văn hóa ở nông thôn đồng bằng sông Hồng và sông Cửu Long, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, 2005, tr.208.

2. Ngô Đức Thịnh (chủ biên), Tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng ở Việt Nam, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2001, tr.8.

3, 5, 7. Trương Thìn, Báo cáo sơ kết ba năm thực hiện qui chế mở hội truyền thống, in trong cuốn Hội nghị - hội thảo về lễ hội, Vụ Văn hóa Quần chúng và Thư viện xuất bản, Hà Nội, 1993, tr.13, 15-16, 15.

4. Nguyễn Chí Bền, Tín ngưỡng và mê tín trong lễ hội truyền thống, in trong cuốn Hội nghị - hội thảo về lễ hội, Vụ Văn hóa Quần chúng và Thư viện xuất bản, Hà Nội, 1993, tr.97.

6. Ngô Đức Thịnh, Những cảnh báo về lễ hội cổ truyền hôm nay, Báo nhân dân điện tử, ngày 10-3-2005.

Nguồn: hoidantochoc.org.vn   (13/07/06)

Xem Thêm

Tạo thuận lợi hơn cho công tác tổ chức hội nghị, hội thảo quốc tế
Dự thảo Quyết định điều chỉnh, sửa đổi Quyết định 06/2020/QĐ-TTg ngày 21/02/2020 của Thủ tướng Chính phủ về tổ chức, quản lý hội nghị, hội thảo quốc tế tại Việt Nam nhằm giải quyết những vướng mắc trong quy định hiện hành, tăng cường phân cấp và đơn giản hóa thủ tục hành chính.
Để trí thức khoa học tham gia sâu hơn vào công tác Mặt trận
Hội thảo khoa học tại Hà Nội ngày 6/11/2025 đánh giá thực trạng sự tham gia, phối hợp của Liên hiệp Hội Việt Nam trong các hoạt động chung của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giai đoạn 2015-2025. Các chuyên gia thẳng thắn chỉ ra những thành tựu, hạn chế và đề xuất giải pháp cho giai đoạn tới.
Còn nhiều rào cản trong thực thi bộ tiêu chuẩn ESG
Hầu hết các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) nói chung và DNVVN nói riêng trên địa bàn Thành phố Hà Nội gặp nhiều rào cản và thách thức trong thực thi tiêu chuẩn môi trường, xã hội và quản trị (ESG).
Đắk Lắk: Góp ý kiến văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng
Ngày 13/6, Liên hiệp hội tỉnh đã tổ chức góp ý kiến đối với dự thảo kế hoạch tổ chức hội nghị lấy ý kiến văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng và dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII, nhiệm kỳ 2025 – 2030.
Hà Giang: Góp ý dự thảo sửa đổi Luật Chất lượng sản phẩm
Ngày 13/6, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (Liên hiệp hội) tỉnh đã tổ chức hội thảo góp ý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hoá (CLSPHH). Tham dự hội thảo có lãnh đạo đại diện các Sở, ban ngành của tỉnh, các hội thành viên Liên hiệp hộivà các chuyên gia TVPB.
Đắk Lắk: Hội nghị phản biện Dự thảo Nghị quyết về bảo đảm thực hiện dân chủ cơ sở
Sáng ngày 27/5/2025, tại trụ sở Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Đắk Lắk (Liên hiệp hội) đã diễn ra Hội nghị phản biện và góp ý đối với Dự thảo Nghị quyết của Hội đồng nhân dân (HĐND) tỉnh Đắk Lắk về việc quyết định các biện pháp bảo đảm thực hiện dân chủ ở cơ sở trên địa bàn tỉnh.
Phú Thọ: Lấy ý kiến về Dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013
Sáng ngày 20/5/2025, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Phú Thọ (Liên hiệp hội) tổ chức hội thảo lấy ý kiến của đội ngũ trí thức, chuyên gia, nhà khoa học về dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013.

Tin mới

Hương Xuân và tiếng gọi cội nguồn
Giữa nhịp chuyển mình của đất nước và những đổi thay sâu rộng của đời sống xã hội, trong lòng tôi, một người con xa quê khi mùa xuân về lại dấy lên một khoảng lặng rất riêng. Đó là lúc ký ức về làng quê, về nguồn cội trở nên rõ ràng hơn bao giờ hết, như một điểm tựa tinh thần để tự soi chiếu lại mình trước thời vận mới của dân tộc.
Cần Thơ: phát huy vai trò tập hợp trí thức chung tay xây dựng nông thôn mới, lan tỏa “Xuân gắn kết - Tết yêu thương”
Sáng 11/02, tại Ấp Hòa Thành, xã An Lạc Thôn, TP. Cần Thơ, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Cần Thơ chủ trì phối hợp cùng UBND xã An Lạc Thôn, Hội Xây dựng TP. Cần Thơ và Nhóm VK xây cầu nông thôn tổ chức Lễ Khánh thành cầu Ngã Tư Trên (VK284) gắn với Chương trình an sinh xã hội “Xuân gắn kết – Tết yêu thương”.
An Giang: Họp mặt trí thức, văn nghệ sĩ và người làm báo Xuân Bính Ngọ 2026
Ngày 11/02/2026, tại phường Rạch Giá, Ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy An Giang phối hợp với Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh, Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh và Hội Nhà báo tỉnh tổ chức Họp mặt đại biểu trí thức, văn nghệ sĩ, người làm báo tiêu biểu nhân dịp đầu Xuân Bính Ngọ 2026.
Lào Cai: Khai mạc Hội báo Xuân và các hoạt động trưng bày, triển lãm mừng Đảng, mừng Xuân Bính Ngọ năm 2026
Sáng ngày 12/2, tại Bảo tàng tỉnh, Ban Tổ chức những ngày lễ lớn tỉnh Lào Cai long trọng tổ chức Khai mạc Hội báo Xuân cùng các hoạt động trưng bày, triển lãm mừng Đảng, mừng Xuân Bính Ngọ năm 2026. Đây là hoạt động văn hóa thường niên đầy ý nghĩa, thể hiện niềm tự hào về những thành tựu đổi mới của Đảng bộ và Nhân dân các dân tộc trong tỉnh, khơi dậy khát vọng phát triển quê hương đất nước.
Gia Lai: Ông Cao Văn Bình được bầu giữ chức Chủ tịch Liên hiệp Hội tỉnh nhiệm kỳ 2026-2031
Trong hai ngày 5-6/2, tại Trung tâm Hội nghị tỉnh Gia Lai, Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Gia Lai lần thứ I, nhiệm kỳ 2026-2031 đã được tổ chức trọng thể với sự tham dự của TSKH Phan Xuân Dũng, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam cùng lãnh đạo tỉnh Gia Lai, đại diện các sở, ban, ngành, đoàn thể của tỉnh và 130 đại biểu chính thức.
Báo chí và sứ mệnh lan toả, sáng tạo văn hoá
Trong tiến trình đổi mới toàn diện và hội nhập quốc tế sâu rộng, chấn hưng văn hóa dân tộc đã trở thành một nhiệm vụ chiến lược, được Đảng và Nhà nước xác định là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực cho phát triển bền vững đất nước.
Phú Thọ: Lan toả phong trào sáng tạo khoa học kỹ thuật
Những năm gần đây, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số từng bước trở thành động lực quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Tại Phú Thọ, Cuộc thi Sáng tạo thanh thiếu niên, nhi đồng và Hội thi Sáng tạo kỹ thuật tỉnh năm 2025 đã trở thành “chất xúc tác” góp phần lan tỏa phong trào sáng tạo trong xã hội.