Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ ba, 26/10/2010 19:34 (GMT+7)

Tiếp cận cơ chế phát triển sạch

Đây cũng có thể coi là tiền đề cho việc phát triển chương trình POA-CDM trong các lĩnh vực khác như trồng rừng, xử lý chất thải, tiết kiệm năng lượng, phát triển việc sử dụng biogas và năng lượng tái tạo . . .Tìm hiểu khả năng tiếp cận cơ chế phát triển sạch của các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp nhỏ, có thể tạo cơ hội thúc đẩy việc đầu tư phát triển kinh tế - xã hội ở các khu vực khó khăn theo hướng bền vững. Chống biến đổi khí hậu là một vấn đề toàn cầu cần sự chưng sức của mọi người, mọi quốc gia trên thế giới. Sau nhiều nỗ lực tại các hội nghị quốc tế, một trong các giải pháp được thống nhất là cắt giảm phát thải khí nhà kính (quy đổi theo CO2) gồm việc quy định hạn mức cắt giảm phát thải cho các nước phát triển (các nước công nghiệp), cũng như cơ chế nhằm cân bằng trách nhiệm và cơ hội cho các nước khác tham gia vào việc cắt giảm phát thải nói chung.

Cơ chế phát triển sạch (CDM - Clean Development Mechanism) là cơ chế hợp tác được quy đinh tại điều 12 của Nghị định thư Kyoto (tháng 12/1997), thuộc Công ước khung của Liên hiệp quốc về biến đổi khí hậu (UNFCCC). Nghị định thư đã thiết lập một khuôn khổ pháp lý mang tính toàn cầu cho các bước khởi đầu nhằm kiềm chế và kiểm soát xu hướng gia tăng phát thải khí nhà kính, đưa ra các mục tiêu giảm phát thải chính và thời gian thực hiện cho các nước phát triển, theo đó các nước phát triển hỗ trợ, khuyến khích các nước đang phát triển thực hiện các dự án thân thiện với môi trường, nhằm phát triển bền vững.

Một cách cụ thể hơn, CDM cho phép các nhà đầu tư tham gia đầu tư vào các dự án nhằm giảm phát thải khí nhà kính tại các nước đang phát triển để nhận được tín dụng dưới dạng "Giảm phát thải được chứng nhận ". Khoản tín dụng này được dùng đề tính vào chi tiêu giảm phát thải khí nhà kính của các nước công nghiệp phát triển. Hay nói cách khác, các chủ dự án CDM có thề bán lượng giảm phát thải (được chứng nhạn - CERs) cho các doanh nghiệp ở các nước phát triển.

Với những vấn đề môi trường toàn cầu, Việt Nam luôn nhận thức rõ trách nhiệm trong việc tham gia các hoạt động chung. Nhà nước Việt Nam đã ban hành nhiều chính sách nhằm hướng tới một sự phát triển bền vững.

Từ năm 2005, Chính phủ đã có các chỉ thị về thực hiện cơ chế phát triển sạch trong khuôn khổ Nghị đinh thư Kyoto . Đến năm 2007, Thủ tướng Chính phủ cũng ban hành Quyết định 130/2007/QĐ-TTg về cơ chế chính sách đối với dự án đầu tư theo cơ chế phát triển sạch. Đây là các cơ sở pháp lý quan trọng tạo điều kiện cho việc đầu tư vào các dự án CDM ở nước ta.

Các dự án CDM có thể thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau như: (l) nâng cao hiệu quả sự dụng, bảo tồn và tiết kiệm năng lượng; (2) khai thác, ứng dụng các nguồn năng lượng tái tạo; (3) chuyển đổi sử dụng nhiên liệu hóa thạch nhằm giảm phát thải khí nhà kính; (4) thu hồi và sử dụng khí đồng hành từ các mỏ khai thác đầu; (5) thu hồi khí mê tan (CH4) từ các bãi chôn lấp rác thải, từ các hầm khai thác than để tiêu hủy hoặc sử dụng cho phát điện, sinh hoạt; (6) trồng rừng hoặc tái trồng rừng để tăng khả năng hấp thụ, giảm phát thải khí nhả kính; (7) giảm phát thải khí mêtan từ các hoạt động trồng trọt và chăn nuôi; (8) các lĩnh vực khác mang lại kết quả giảm phát thải khí nhà kính.

Các yêu cầu đối với dự án CDM tại Việt Nam phải đảm bảo được quy định tại mục 4 phần I của Thông tư số 10/2006/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường. Trong đó yêu cầu đầu tiên là phải giảm phát thải khí nhà kính, đảm bảo tính bổ sung, ngoài ra còn phải đáp ứng các yêu cầu phù hợp với quy hoạch phát triển và các quy định về phát triển bền vững của việt Nam . "Tính bổ sung" là một tiêu chí quan trọng để đánh giá dự án có phải là CDM không. Theo quy định trong tài liệu của UNFCCC "Một hoạt động được coi là dự án CDM nếu đáp ứng tính bổ sung khi nguồn giảm phát thải được chứng minh sẽ không xảy ra nếu không có hoạt động đăng ký dự án CDM". Trong thực tế, điều đó có nghĩa là nhờ có CDM, dự án có thể vượt qua được các rào cản tài chính (dự án sẽ đạt được tính hấp dẫn về tài chính, “có lãi chấp nhận được”) hoặc rào cản kỹ thuật (công nghệ, kỹ thuật thi công. . .) hoặc các rào cản khác đầu tư ở vùng xa xôi hẻo lảnh, chưa có chính sách ưu tiên phù hợp cho lĩnh vực đầu tư, khó khăn tiếp cận nguồn tín dụng ...). Ví dụ: nếu không có CDM thì doanh nghiệp sẽ không đầu tư dự án tiêu hủy chất khí HFC-23 trong quá trình sản xuất HFC-22 (khí dùng cho máy điều hòa nhiệt độ), vì dự án sẽ không thu được lợi ích nào ngoài nguồn thu từ CDM (mỗi tấn HFC-23 được đốt có thể có được lượng CER tương ứng với 11.700 tấn khí CO 2để bán, mà giá CER đầu năm 2008 tại châu Âu khoảng $2/tấn).

Về thủ tục một dự án CDM cần phải được Bộ Tài nguyên và Môi trường thông qua, được thẩm định bởi Tổ chức nghiệp vụ được chỉ định và chọn, sau đó mới được gửi lên Ban chấp hành quốc tế về CDM của Liên hiệp quốc xem xét và đăng ký. Sau khi được kiểm định đạt dự án sẽ được cấp chứng chỉ giảm phát thải (CER). Từ đây, chủ đầu tư có thể mua bán CER. Toàn bộ quá trình xây dựng các văn kiện dự án, thẩm định, kiểm định, thông qua cơ quan quốc gia và Ban chấp hành quốc tế về CDM và cấp CER đều tốn phí tư vấn phí và lệ phí.

Việc thực hiện các dự án CDM với quy mô vừa và nhỏ là một điều khá khó khăn. Ngoài vấn đề về các chi phí tư vấn lập dự án, thực hiện thủ tục để nhận được CER, sự giám sát định kỳ, cũng như tốn nhiều thời gian để làm các thủ tục đó, còn có vấn đề là sự tham gia thị trường cacbon cũng khó khăn, do lượng CER của dự án khá nhỏ, mà người mua thường chỉ mua với số lượng lớn. Để giải quyết vấn đề này, năm 2007 các bên tham gia Nghị định thư Kyoto chính thức thông qua thủ tục đăng ký Chương trình hoạt động (PoA) theo CDM. Một PoA, được xem là “hành động tự nguyện của một đơn vị công hoặc tư để điều phối và thực hiện bất kỳ chính sách/ biện pháp hoặc mục tiêu đã định rõ nhằm dẫn đến việc giảm phát thải khí nhà kính hoặc tăng bể hấp thụ cacbon so với khi không xảy ra hoạt động PoA thông qua một số lượng không giới hạn các hoạt động chương trình (CPA)”. CPA là một hoặc một tập hợp các hoạt động có cùng loại hình nhằm giảm phát thải khí nhà kính tại một hoặc nhiều địa điểm trong một khu vực xác định với cùng một phương pháp luận làm cơ sở. Ví dụ về một PoA là chương trình tiết kiệm điện cho một thành phố, trong đó CPA là mỗi tòa nhà có áp dụng cùng biện pháp tiết kiệm điện.

Các chương trình PoA-CDM hoạt động ở hai cấp độ: cấp độ PoA và cấp độ CPA. Cấp độ PoA thực hiện các hoạt động quản nhận chất lượng cũng đang được xây dựng tại thành phố Bảo Lộc, dự kiến sẽ đưa vào hoạt động trong năm 2011.

Thông qua chương trình hỗ trợ, Sở đã xây dựng 51 điểm thông tin KH&CN phục vụ nông nghiệp, nông thôn đặt tại các xã, thị trấn và phòng công thương các huyện,... Hệ thống thiết bị và thư viện điện tử với hơn 50.000 tư liệu về KH&CN cơ bản đáp ứng được nhu cầu của người dân tìm hiểu, tham khảo các thông tin KH&CN để ứng dụng vào sản xuất và đời sống.

Qua gần 5 năm thực hiện, Chương trình hỗ trợ doanh nghiệp về KH&CN đã phát huy được hiệu quả, góp phần giúp doanh nghiệp nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm hàng hóa và dịch vụ, tăng cường khả năng cạnh tranh và hội nhập. Nhận thức của các doanh nghiệp đã được nâng cao hơn, từng bước tiếp cận với hoạt động tiêu chuẩn hóa, quản lý chất lượng, sở hữu trí tuệ và quảng bá sản phẩm qua mạng internet, chủ động tham gia hội nhập vào thị trường chung của khu vực và thế giới.

Tuy nhiên, qua thời gian thực hiện, chương trình cũng đã gặp phải một số khó khăn: Việc tiếp cận với các doanh nghiệp để nắm bắt nhu cầu cần hỗ trợ, phối hợp với các chương trình hỗ trợ doanh nghiệp khác vẫn còn hạn chế. Bên cạnh đó vốn đầu tư tiềm lực KH&CN nhằm phục vụ doanh nghiệp chưa được nhiều; chưa có các cơ chế hỗ trợ cũng như mức hỗ trợ cụ thể của địa phương, . . .

Về phía các doanh nghiệp được hỗ trợ hầu hết đều nhỏ, nguồn nhân lực KH – CN còn yếu, khả năng cạnh tranh và tiếp cận thị trường chưa cao nên cũng có sản phẩm thử nghiệm chưa thực sự được thị trường và người tiêu dùng chấp nhận. Trong thời gian tới cần tiếp tục mở rộng hơn đối tượng doanh nghiệp được hỗ trợ, tập trung cho các doanh nghiệp áp dụng tiến bộ kỹ thuật và đổi mới công nghệ, các nhóm sản phẩm, doanh nghiệp trọng điểm của tỉnh.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam: Điểm tựa khoa học công nghệ gắn với chuyển đổi số quốc gia
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam với gần 40 năm phát triển đang thể hiện rõ vai trò tổ tổ chức xã hội - nghề nghiệp uy tín trong lĩnh vực vô tuyến, điện tử, viễn thông, công nghệ thông tin đồng thời đóng góp thực chất vào tiến trình chuyển đổi số quốc gia theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Đầu tư khoa học công nghệ giải quyết điểm nghẽn của ngành Thủy sản Việt Nam
Phát biểu tại Hội nghị khoa học công nghệ thủy sản và kiểm ngư toàn quốc năm 2026, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến đã nhấn mạnh sự cần thiết của đổi mới sáng tạo khoa học công nghệ trong giải quyết điểm nghẽn về logistics, môi trường, nâng cao sức cạnh tranh của ngành Thủy sản trong nước.
Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng nhận danh hiệu Giáo sư danh dự Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga
Sáng 30/4/2026, tại Trường Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga (MPEI), TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã vinh dự đón nhận danh hiệu Giáo sư danh dự của MPEI. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng là công dân đầu tiên của Việt Nam được trao tặng danh hiệu Giáo sư tại MPEI, đứng trong bảng danh dự cùng với các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới.
51 năm thống nhất đất nước: Khơi thông nguồn lực tri thức trong kỷ nguyên mới
Thông tấn xã Việt Nam giới thiệu bài phỏng vấn với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) về vai trò của lực lượng trí thức và những giải pháp đột phá để hiện thực hóa khát vọng hùng cường vào năm 2030 và 2045.
Phát huy vai trò nòng cốt của trí thức KH&CN tỉnh Cà Mau
Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Cà Mau lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031 tổ chức thành công thực sự đã mở ra một không gian mới để hội tụ sức mạnh, tâm huyết và trí tuệ của đội ngũ trí thức tỉnh nhà, định hình con đường kiến tạo và phát triển trong kỷ nguyên mới của đất nước.
Công bố Quyết định bổ nhiệm Giám đốc, Tổng biên tập Nhà xuất bản Tri thức
Ngày 28/4, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức Hội nghị Công bố quyết định về công tác cán bộ. Tại hội nghị, TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã trao Quyết định bổ nhiệm bà Bùi Thị Thu Hằng, Phó Giám đốc phụ trách, Phó Tổng biên tập NXB Tri thức giữ chức vụ Giám đốc, Tổng biên tập NXB Tri thức.