Thương hiệu biển Việt Nam: Từ cảng nước sâu đến khu kinh tế biển
Tổng trữ lượng dự báo địa chất của toàn thềm lục địa Việt nam xấp xỉ 10 tỷ tấn dầu quy đổi, trữ lượng khai thác 4 -5 tỷ tấn. Trữ lượng khí dự báo khoảng 1.000 tỷ m3. Các bể trầm tích Đông Nam Bộ có xác suất khoan thăm dò bắt gặp dầu khí rất cao. Chúng ta đã thăm dò, khai thác mỏ Bạch Hổ, Rồng, Đại Hùng, Ba Vì... với trữ lượng lớn, trên 300 triệu tấn dầu thu hồi, tỷ lệ khí đồng hành từ 150 đến 180 m3/1 tấn dầu cho phép đạt sản lượng dầu khai thác ở đây trên 20 triệu tấn/năm 2000. Cùng với sản lượng khai thác ở các mỏ thăm dò có triển vọng khác, có thể dự đoán đến năm 2010 sản lượng dầu khai thác ở thềm lục địa Việt Nam đạt 40 – 50 triệu tấn.
Trở lại những ngày đầu tiên khi Việt Namcó những hoạt động dầu khí trên Biển Đông để chúng ta cảm nhận và tự hào về một ngành công nghiệp mũi nhọn và quan trọng, góp phần vào việc bảo vệ chủ quyền biển đảo – ngành công nghiệp dầu khí Việt Nam . Ngay từ khi mới thành lập (ngày 27/11/1961 – nay là ngày truyền thống của những người làm dầu khí) Đoàn Dầu lửa 36 đã tổ chức các hoạt động ở miền Bắc Việt Nam trên đất liền, chủ yếu ở Đồng bằng Sông Hồng.
Ngày 9-8-1975, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam ra Nghị quyết số 224/NQTW về việc triển khai thăm dò dầu khí trên cả nước. Ngày 3-9-1975, Chính phủ ban hành Nghị định số 170/CP thành lập Tổng cục Dầu mỏ và Khí đốt Việt Nam trên cơ sở hợp nhất Liên đoàn Địa chất 36 và một bộ phận thuộc Tổng cục Hoá chất, đánh dấu một giai đoạn phát triển mới của ngành Dầu khí Việt Nam.
Ngày 29-5-1995, Chính phủ ban hành Nghị định số 37-CP về tổ chức Tổng công ty Dầu Khí Việt Namvà Quyết định số 330/TTg về việc thành lập Tổng công ty Dầu mỏ và Khí đốt Việt Nam có tên giao dịch quốc tế là Vietnam Oil and Gas Corporation, viết tắt là Petrovietnam.
Ngày 29-8-2006 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 199/2006/QĐ-TTg thành lập Công ty mẹ - Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, tên giao dịch quốc tế là Vietnam Oil and Gas Group gọi tắt là Petrovietnam, viết tắt là PVN. Tại Quyết định số 198/2006/QĐ-TTg Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án thành lập Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam, tên giao dịch quốc tế là Vietnam National Oil and Gas Group.
Theo dòng thời gian, Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam đã không ngừng phát triển, mở rộng hợp tác và kêu gọi đầu tư nước ngoài, tiến hành ký kết nhiều hợp đồng dầu khí dưới nhiều hình thức như PSC, BCC, JOC, JVC,…các thỏa thuận khảo sát địa chấn không độc quyền, thuê các nhà thầu địa chấn tiến hành các khảo sát địa chấn…trên khu vực Biển Đông. Các hoạt động dầu khí đã cung cấp các số liệu khoa học để xác định ranh giới thềm lục địa Việt Nam, góp phần khẳng định chủ quyền của nước ta trên Biển Đông theo công pháp quốc tế và mở ra con đường hợp tác, phục vụ mục tiêu duy trì hòa bình, ổn định và hữu nghị giữa các nước trong khu vực.
Năm 2009, năm thứ hai chuyển đổi thành công theo mô hình tập đoàn kinh tế, PetroVietnam về cơ bản đã xây dựng được một ngành công nghiệp dầu khí hoàn chỉnh từ khâu đầu đến khâu cuối, đặc biệt là sự kiện Nhà máy Lọc dầu Dung Quất đi vào vận hành từ 02/2009 đánh dấu bước phát triển mới của ngành công nghiệp chế biến dầu khí ở Việt Nam. Bên cạnh đó, PVNcũng đang chú trọng đầu tư các dự án về kho cảng để đảm bảo cơ sở hạ tầng cho việc dự trữ, cung cấp nguyên liệu và vận chuyển, phân phối sản phẩm. Việc phát triển, đầu tư các kho cảng, cảng nước sâu là một chiến lược lớn của Tập đoàn. Bên cạnh các cảng, kho cảng đã đi vào hoạt động, một số dự án tiếp tục được triển khai như:
- Cảng Dung Quất là một cảng biển tổng hợp quốc gia, đầu mối khu vực (cảng loại I) của Việt Nam, tại tỉnh Quảng Ngãi, Trung Trung Bộ. Cảng Dung Quất gồm có 1 khu bến cảng chính ở vịnh Dung Quất. Đây là khu bến tổng hợp, bến container cho tàu từ 10 nghìn tới 50 nghìn DWT, bến chuyên dùng phục vụ Nhà máy lọc dầu Dung Quất có thể tiếp nhận tàu từ 10 nghìn tới 30 nghìn DWT, bến chuyên dùng cho công nghiệp nặng có thể tiếp nhận tàu từ 20 nghìn tới 70 nghìn DWT.
- Dự án Cảng Hòn La, Quảng Bình – phục vụ khu kinh tế Hòn La (Quảng Trạch, Quảng Bình): hiện tại, ở khu kinh tế này đang triển khai xây dựng cảng nước sâu có công suất từ 10-12 triệu tấn mỗi năm, có thể phục vụ tàu 10.000 tấn; một nhà máy nhiệt điện chạy than công suất 1200 MW và một nhà máy sản xuất xi măng công suất 4 triệu tấn mỗi năm và một nhà máy đóng tàu.
- Cảng Nghi Sơn, Thanh Hóa: là một cảng biển tổng hợp quốc gia, đầu mối khu vực (cảng loại I) của Việt Nam, thuộc cụm cảng Bắc Trung Bộ. Cảng hiện có một khu bến tổng hợp và container thuộc địa phận xã Nghi Sơn, huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa. Khu bến này hiện có khả năng tiếp nhận tàu đến 20 nghìn DWT. Theo quy hoạch hệ thống cảng biển của Chính phủ, khu bến hiện nay sẽ được nâng cấp để có khả năng tiếp nhận tàu tới 50 nghìn DWT. Đồng thời, tới năm 2015, một khu bến mới gọi là Bắc Nghi Sơn sẽ được xây dựng (khi đó khu bến hiện nay sẽ được gọi là Nam Nghi Sơn) làm khu bến chuyên dùng cho công nghiệp lọc hóa dầu, xi măng, có khả năng tiếp nhận tàu đến 30 nghìn DWT.Cảng Nghi Sơn sẽ phục vụ cho Nhà máy Lọc dầu Nghi Sơn trong thời gian xây dựng và vận hành. Quản lý cảng Nghi Sơn là Tổng công ty Cổ phần Dịch vụ Kỹ thuật Dầu khí.
- Căn cứ dịch vụ Sao Mai – Bến Đình (Vũng tàu).
- Cảng dầu khí Phước An (Đồng Nai).
- Kho xăng dầu Cù Lao Tào (Vũng tàu) với sức chứa 150.000m3.
- Kho chứa khí hóa lỏng Cần Thơ, Đình Vũ (Hải Phòng)
Rõ ràng, như Diễn đàn cũng đã khẳng định, cảng biển nước sâu - nhân tố quan trọng cho sự phát triển của các khu kinh kế ven biển-được xem như là bàn đạp kinh tế, "cửa mở hướng ra biển" của Việt Nam - một đất nước "mạnh về biển, làm giàu từ biển" trong thế kỷ 21. Vì vậy, ngành dầu khí với các hoạt động đặc thù của mình, phải tiếp tục có các chiến lược phát triển phù hợp nhằm sử dụng hiệu quả nhất nguồn tài nguyên quý báu của quốc gia.
Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam đã xây dựng Chiến lược phát triển KHCN của ngành đến năm 2015, định hướng đến năm 2025, Quy hoạch lọc hóa dầu đến 2025, hiện đang tiếp tục xây dựng Chiến lược tăng tốc. Trong đó, vấn đề về địa điểm xây dựng các công trình dầu khí (có cả các kho cảng, cảng nước sâu) được quan tâm hàng đầu- cơ sở hạ tầng đảm bảo nguồn cung, cầu là yếu tố quyết định thành công cho mỗi dự án.
Với tầm nhìn chiến lược đến năm 2025 trở thành “Tập đoàn kinh tế dầu khí hàng đầu trong khu vực - Niềm tự hào của dân tộc Việt Nam” và phương châm hành động “Dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, quyết định kịp thời, triển khai quyết liệt”, Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam đã và đang từng bước trưởng thành và phát triển mạnh mẽ góp phần phát triển kinh tế và bảo đảm an ninh, bảo vệ vững chắc chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ đất nước, thực hiện thắng lợi các mục tiêu và nhiệm vụ của Chiến lược biển Việt Nam./.








