Thuốc bảo vệ thực vật tồn lưu - Nguy cơ và thách thức đối với môi trường sống
Hoá chất ngấm vào đất, nước
PGS. TS. Nguyễn Văn Lâm - Trung tâm Tư vấn bảo vệ môi trường cho biết, theo kết quả điều tra năm 2007 thì hoá chất BVTV POPs tồn đọng ở Việt Nam được lưu giữ tại các kho là 108 tấn, lượng chôn lấp không an toàn gần 1000 m 3và tồn lẫn trong đất là hơn 53.000 m 3. Trong số 25 địa phương công bố thì Nghệ An, Thanh Hoá,… là những tỉnh có lượng tồn lưu và mức ô nhiễm thuốc BVTV POPs trong đất lớn nhất với số lượng hàng chục nghìn m 3. Theo đánh giá của các chuyên gia thì số lượng này sẽ còn lớn hơn nhiều so với thực tế.
Hiện tại, phần lớn những kho chứa thuốc BVTV là ở những vùng nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa. Không ít những kho thuốc nằm xen kẽ trong các khu dân cư như kho thuốc làng Ải (Tuyên Quang), kho Giao Tiến - Giao Thủy (Nam Định) đang làm gia tăng nguy cơ gây ô nhiễm độc hại tới môi trường. Trên thực tế, do vô tình hay hữu ý trước hoàn cảnh sống mà nhiều hộ dân, gia đình đang phải sống chung với nguy hiểm, hàng ngày hàng giờ ăn ngủ cùng hoá chất, hít mùi hoá chất và sử dụng những thứ nhiễm hoá chất.
Với lượng hoá chất tồn lưu 18,5 tấn được phát hiện, Hà Tĩnh là một trong những tỉnh có lượng tồn lưu lớn.
Nằm cạnh Hà Tĩnh, Nghệ An có khoảng 50 điểm còn tồn động thước BVTV trong đất nằm rải rác ở 11 huyện, thành phố, trong đó nhiều huyện có mức độ ô nhiễm nghiêm trọng như Nam Đàn, Tân Kỳ… Đây chủ yếu là kho thuốc hoá chất BVTV của các đơn vị để lại từ chiến tranh không được xử lý. Ngoài ra, còn hàng loạt các kho thuốc Hoà Sơn - Đô Lương, Kho Dùng - Thanh Chương, Kho Tân Long - Tân Kỳ… trước đây đều không được bảo quản an toàn đã làm rò rỉ, phát tán thuốc BVTV gây ô nhiễm nghiêm trọng môi trường đất, nước trong khu vực.
Chưa có giải pháp xử lý triệt để
Trước những ảnh hưởng và mối nguy hiểm đe doạ môi trường và sức khoẻ con người của hoá chất thuốc BVTV, các nhà khoa học, cơ quan môi trường đã vào cuộc tìm giải pháp xử lý. Đã có nhiều giải pháp được các nhà khoa học trong và ngoài nước đưa ra như: Giải pháp công nghệ thiêu đốt trong lò xi măng, giải pháp hoá học, sinh học… Trên thực tế, chưa có giải pháp nào được đánh giá là hữu dụng, để lựa chọn khắc phục, xử lý triệt để những tồn lưu của hoá chất thuốc BVTV. Có nhiều nguyên nhân được đặt ra việc xử lý, khắc phục triệt để hậu quả ảnh hưởng của hoá chất tồn lưu về kinh phí, công nghệ… Một công nghệ đang được đánh giá cao trong việc xử lý hoá chất thuốc BVTV như công nghệ thiêu đốt cũng đang bộc lộ nhiều vấn đề lo ngại là không đảm bảo tiêu chuẩn, yêu cầu về nhiệt độ và không kiểm soát được khí thải phát sinh có thành phần độc tố gây hại hơn cho môi trường và sức khoẻ người dân.
Tuy nhiên, trong lúc chúng ta còn đang lựa chọn công nghệ phù hợp, đáp ứng đủ tiêu chuẩn cho phép để xử lý, khắc phục ô nhiễm, thì ô nhiễm thuốc BVTV tồn lưu vẫn đang phát tán trong đất và nước trên phạm vi rộng và đang rất cần giải pháp xử lý. Thống kê, ở 25 tỉnh thành đang tồn động thuốc BVTV thì đã có tới hàng nghìn tấn đất nhiễm hoá chất thuốc BVTV cần phải xử lý. Mối nguy này còn lớn hơn khi hoá chát hoà lẫn trong không khí, ngầm vào nguồn nước ngầm ở nhiều vùng. Đây thực sự là mối nguy hiểm lớn cho môi trường và cộng đồng dân cư sống xung quanh; đồng thời cũng là thách thức trong quá trình xử lý, khắc phục hậu quả hoá chất thuốc BVTV tồn lưu.
Lượng hoá chất BVTV tồn lưu nằm trong các kho bãi tương đối an toàn thì việc xử lý không quá khó khăn. Nhưng đối với những hoá chất trộn lẫn trong đất, ngấm vào đất, nước thì khó có thể kiểm soát, thu giữ, xử lý một cách triệt để mà không để lại hậu quả ảnh hưởng.
Được biết, Qũy Môi trường toàn cầu (GEF) đang nghiên cứu xem xét hỗ trợ Việt Nam dự án xử lý các kho thuốc BVTV tồn lưu trên cả nước. Tuy nhiên, vấn đề còn lại gian nan hơn nhiều chính là việc xử lý triệt để hoá chất ngấm trong đất, nước. Theo ông Đặng Đức Nhận - Viện khoa học và kỹ thuật hạt nhân, việc này không đơn giản bởi để xử lý 1 tấn đất nhiễm hoá chất thuốc BVTV bằng công nghệ tiên tiến phải mất cả nghìn USD.
Trong những năm qua, Việt Nam đã triển khai một số biện pháp nhằm hạn chế mức độ ảnh hưởng này bằng cách đổ bê tông, đào hầm, cô lập hoá chất không ngấm vào đất, nước… Tuy nhiên, lượng hoá chất tồn lưu lẫn trong đất, chôn lấp trong đất chưa được xử lý không phải là nhỏ. Chính vì vậy, việc khắc phục xử lý hậu quả hoá chất thuốc BVTV về lâu dài vẫn còn là một vấn đề khó khăn rất lớn ở Việt Nam .








