Thành tựu ghép thận trên thế giới và ở Việt Nam
Năm 1950, BS Richard Lawler, ở Chicago, công bố một trường hợp ghép thận cho bệnh nhân, nhưng chỉ một thời gian ngắn, bệnh nhân chết vì phản ứng loại thải.
Trong khi ấy, từ năm 1944, Lanwillem Kolff, người Hà Lan và các cộng sự đã chế ra máy lọc thận nhân tạo, nhưng chỉ giải quyết được một phần nào cho người bị suy thận.
Đến năm 1953, BS John P. Merrill cùng với các cộng sự ở Bệnh viện Boston đã lấy thận của người anh ghép cho người em sinh đôi. Người em được ghép thận tên Richard Harris sống được thêm 8 năm. Đây là trường hợp ghép thận được đánh giá là thành công đầu tiên.
Năm 1954, cũng ở Mỹ, BS Joseph. E. Murrayghép thận giữa hai anh em sinh đôi cùng trứng. Người nhận sống thêm được 7 năm. Ngoài công trình ghép thận, Murray còn có những công trình khác về tế bào nên ông được giải Nobel 1990 về sinh lý học chung với E. Donnal Thomas.
Năm 1960, các nhà y học nắm rõ được quy luật loại thải của hệ miễn dịch. Với các chất ức chế miễn dịch như cortisone, azathioprine, immutran serum antilymphocytaire, các nhà giải phẫu Mỹ đã có thể tiến hành ghép thận từ người cho không cùng huyết thống và từ thận cho của người chết.
Năm 1962, các nước Âu châu lần lượt ghép được thận. Tuy nhiên, đến thời điểm này và với số lượng thuốc ức chế miễn dịch đang có, việc ghép thận vẫn chưa được an toàn. Nếu thận cho của người cùng huyết thống, tỷ lệ thành công 70%. Thận cho từ những người không liên quan huyết thống, nhưng có dùng thuốc ức chế miễn dịch, tỷ lệ thành công 20%. Trường hợp không cùng huyết thống, không dùng thuốc ức chế miễn dịch, cơ hội sống sót chỉ 1%.
Năm 1974, tình hình ghép thận và mô tạng thực sự sáng sủa khi thuốc ức chế miễn dịch ciclosporin xuất hiện. Tỷ lệ người được ghép thận sống trên 1 năm tăng lên 80 – 90% so với 20% trước đó và tỷ lệ sống được 5 năm tăng lên đáng kể.
Năm 1980, Công ty Biotrim International ở Ireland tìm ra phương pháp xác định nhanh tình trạng quả thận. Phong trào ghép thận phát triển ồ ạt, việc mua bán thận đã nằm ngoài sự kiểm soát của chính phủ các nước. Năm 1984, chính quyền Mỹ ban hành điều luật cấm buôn bán phủ tạng, người vi phạm sẽ bị phạt 50.000 đô la và 5 năm tù. Một số nước Âu châu đưa ra nhiều điều luật nghiêm ngặt cấm buôn bán phủ tạng.
Năm 1985, nhà giải phẫu Mỹ Thomas Starzl sử dụng thuốc ức chế miễn dịch mới FK 506 của Nhật để ghép thận cho 40 bệnh nhân. Kết quả tuyệt vời, không một trường hợp phản ứng loại thải. Từ giai đoạn này trở về sau, phản ứng loại thải hầu như được khắc phục nhờ ngày càng có nhiều loại thuốc mới: Mycophénolic 1985, Tacrolimus 1989, năm 2004 có các thuốc Ropamycin, Mizoribin, Mycophenolat mophétil... Việc ghép thận trở thành thường qui và đại trà đối với các nhà phẫu thuật ở các nước phát triển. Ở Ấn Độ, chỉ riêng một mình BS Reddy, mỗi năm ông thực hiện khoảng 160 ca ghép thận.
Năm 1989, các nhà giải phẫu Đại học Y khoa Tokyo Nhật đã đạt tiến bộ mới trong khoa ghép thận. Họ đã sử dụng máy hút máu vón cục của Bỉ và thành công trong ca ghép thận từ người cho không cùng nhóm máu.
Ba mươi chín năm sau, ca ghép thận thành công đầu tiên của J.P. Merrill, kỹ thuật ghép thận đã đến Việt Nam . Tháng 1.1992, được sự tài trợ của Công ty Sandoz Pharma, Học viện Quân y 103 đã thực hiện thành công 3 ca ghép thận. Ngày 26.12.1992, dưới sự hướng dẫn của giáo sư Đài Loan Chue Chue Lee, Bệnh viện Chợ Rẫy đã ghép thành công thận cho bệnh nhân.
Tháng 12.1995, ở Anh, BS Michael tìm ra phương pháp tăng thời gian bảo quản thận hơn 2 giờ so với trước đây. Ông đẩy máu ra khỏi thận bằng cách bơm một chất đông lạnh theo động mạch háng vào thận người cho đã chết.
Năm 1996, Công ty Immutran ở Anh đã ghép thành công thận lợn cho khỉ. Một tín hiệu lạc quan cho nhân loại vì thận hiến tặng chỉ đáp ứng 1/3 trong tổng số 130.000 người chờ ghép thận. Năm 1997, Công ty Alcor sử dụng chất chống đông và lưu giữ trong môi trường nitơ đông lạnh ở nhiệt độ -196°C, thận giữ được rất lâu và sử dụng được ngay khi có nhu cầu.
Thận hiến tặng chỉ lấy ở người dưới 60 tuổi, do đó số thận hiến tặng bị hạn chế. Năm 1997, Đại học Maryland ở Mỹ thử sử dụng thận người cho trên 60 tuổi. Kết quả ghép thận rất tốt chỉ có một trường hợp bị loại thải vì bệnh nhân dùng thuốc ức chế, miễn dịch không đều đặn.
![]() |
Năm 2004, bác sĩ Việt kiều Hoàng Anh Dũng, Phó khoa ghép thận và tụy của Bệnh viện Erasme Vương quốc Bỉ, đã về Việt Nam chuyển giao kỹ thuật ghép thận cho các bệnh viện ở miền Trung. Cũng trong năm 2004, ngày 28.5, lần đầu tiên ở Việt Nam , Bệnh viện Chợ Rẫy đã áp dụng phương pháp mổ nội soi để lấy thận của người cho.
Tính đến tháng 5.2007, các bệnh viện ở Việt Nam đã thực hiện được 150 ca ghép thận. Trong đó, Bệnh viện Chợ Rẫy đã thực hiện 130 ca và mỗi ngày tại bệnh viện này có 500 người đến chạy thận nhân tạo.
Trên con đường tiến đến một quả thận thay thế hoàn hảo, một cuộc chạy đua nghiên cứu giữa các nhà khoa học đang âm thầm diễn ra trên khắp thế giới.









