Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ ba, 28/03/2006 16:24 (GMT+7)

Tế Giao và áo tế của vua thời Nguyễn

Sử sách ghi lại, Việt Nam lập Đàn Nam Giao từ thời nhà Lý (đời vua Lý Anh Tông, 1138-1175), ở địa phận huyện Thọ Xương, phía Nam thành Thăng Long, cứ ba năm làm một đại lễ tế Giao. Vua đi tế ngự xe Thái Bình, khắc gỗ làm hình 40 vị tiên mặc áo gấm vóc ngũ sắc, cầm cờ; có khi vua ngự thuyền rồng ở hồ Chu Tước thuộc phường Bích Câu, dùng dây gấm kéo thuyền. Hai năm làm trung lễ, vua đi tế ngồi ngai lớn chạm trổ bách cầm. Một năm là tiểu lễ, vua đi tế ngồi ngai nhỏ, các quan văn võ theo sau.

Thời Hồ Hán Thương năm 1402 cũng theo lệ cũ của nhà Lý cho cử hành lễ tế Giao rất long trọng. Vua đắp đàn ở Đốn Sơn, chọn ngày lành, đi xe vân long, ra cửa Nam thành, trăm quan và các cung tần, mệnh phụ theo thứ tự đi sau. Việc cho phép phụ nữ được đi theo xa giá của vua trong lễ tế Giao là điểm đổi mới đáng ghi nhận của triều đại Hồ Hán Thương nhưng lại bị các nhà làm sử phong kiến đời sau coi là “học mót cặn bã trong lễ, không kê cứu gì cả, rất là quê mùa”. Hồ Hán Thương quy định mũ áo đàn bà đi trong đoàn phải kém mũ áo của chồng một bậc, nhưng lại có thêm một điểm cách tân tột bực nữa là “người đàn bà nào chính bản thân làm nên sang hiển thì mũ áo không phải kém mũ áo của chồng”. Nhà Hồ cũng chia lễ ra làm 3 hạng: lễ lớn, lễ trung bình và lễ nhỏ. Lễ lớn cử hành 3 năm một lần, lễ trung bình hai năm một lần, lễ nhỏ được tổ chức hàng năm. Đến năm 1462, lại quy định cứ đến đầu mùa xuân hàng năm là làm lễ tế Giao.

Thời Nguyễn, nghi lễ tế Giao là nghi lễ trọng thể nhất trong mọi hoạt động nghi lễ của triều đình. Mọi chi tết liên quan đến các bước thực hành nghi lễ, trang phục, thành phần tham dự, thời gian, tế phẩm đều được điển chế hoá thành các quy định cụ thể và đều có những thay đổi qua các đời vua Nguyễn.

Thời đầu triều, vua Gia Long quy định tổ chức tế hàng năm vào mùa xuân (tháng 2 ÂL). Đến thời Thành Thái năm thứ 2 (1900) định lại cứ ba năm tế một lần, lấy năm Thành Thái thứ 3 (1901) làm kỳ đầu tiên.

ĐànNamGiao thời Nguyễn được lập năm Gia Long thứ 2 (1806), ở địa phận xã Dương Xuân, phíaNamkinh thành Huế. Đàn chia làm ba tầng:

Tầng thứ nhất: hình tròn, quy định để thờ Trời và Đất, phối thờ các vua Nguyễn.

Tầng thứ hai: hình vuông, thờ các vị thần: Mặt trời, Mặt trăng, Tinh tú, thần Gió, Mưa, Mây, Sấm, sao Thái Tuế, thần Nguyệt tướng (chỉ lúc mặt trời, mặt trăng họp nhau, có 12 vị - ĐNTLT.3), các thần Núi, Biển, Sông, Chằm, các thần Cồn, Gò, Bờ nước, Bãi Bằng và các thần trong cả nước.

Tầng thứ ba: hình vuông, có chỗ thiêu các con sinh và chôn lông huyết.

Ngoài ra còn có các công trình phục vụ cho lễ tế Giao như Thần Khố, Thần Trù, Trai Cung, có phòng Thượng Trà, sở Thượng Thiện.

Theo sử triều Nguyễn, thời Gia Long tế lộ thiên, nhưng đến thời Minh Mạng (năm 1841), cho làm các nhà vải, màu xanh ở tầng thứ nhất và màu vàng ở tầng thứ hai, tế xong thì triệt hạ.

Với quan niệm “việc tế tự Giao đàn là việc rất lớn,… sự báo đáp rất mực kính thành, không cần văn vẻ… cốt yếu là nghiêm túc, đem lòng thành kính đối với thần minh và vẫn không ngoài ý nghĩa báo đáp từ gốc, nhớ lại từ đầu…”, các vật phẩm cúng tế và đồ tự khí dùng trong tế Giao thời Nguyễn đều được chọn lựa hoặc chế tác riêng, hầu hết đều mang ý nghĩa biểu tượng sâu sắc: màu xanh, hình tròn dùng cho đàn tế trời: màu vàng, hình vuông dùng cho đàn tế đất; các màu đỏ, đen, trắng dùng cho án thờ các vị tinh tú, vân vũ phong lôi, các thần Sơn Hải Giang Trạch. Tuỳ theo vị trí và tầm quan trọng từ cao xuống thấp mà dùng các loại đồ đựng bằng vàng, bạc, bịt vàng, bịt bạc, đồ pháp lam, đồ sứ, đồ mây tre đan hoặc đồ đồng… Số lượng các lễ phẩm cũng dừng ở các con số 3, 5, 7, 9 chứa đựng nhiều ý nghĩa biểu tượng của Dịch học (ba hạng lụa thờ: hạng nhất dài 9 thước, hạng nhì 7 thước, hạng ba 5 thước, ba tầng đàn v.v…). Các tế phần gồm có tam sinh (trâu, heo, dê) và các loại bánh trái, quả phẩm, xôi, dưa muối, canh, ngũ cốc… Ngay cả trên trang phục tế Giao, đặc biệt là áo tế Giao của nhà vua, màu sắc và hoa văn trang trí được chú trọng cả về mặt kỹ thuật và mỹ thuật, mang tính biểu đạt cao. Minh chứng sinh động cho loại áo này của vua Nguyễn hiện đang được lưu giữ tại Bảo tàng Mỹ thuật Cung đình Huế, sử triều Nguyễn còn gọi là “cổn”.

Đó là chiếc áo tế Giao mang số ký hiệu BTH 06-Đd 05 bằng vải sa màu đen, cỏ nằm, nẹp lớn. Dải áo thêu rồng mây, thủy ba và các cụm rong tảo. Hai vạt áo xẻ dọc, hoi xoè. Tay áo dài hơn vạt áo, xoè rộng phần cửa tay.

Phần trang trí trên áo được bố trí thưa nhưng rất ấn tượng. Ngực áo thêu nổi hình rồng 5 móng mặt ngang. Dọc theo tay áo thêu hình rồng mây ngũ sắc, mặt rồng hướng về phía cổ tay. Cửa tay thêu 4 hình rồng đuổi với kích thước nhỏ nhưng rất tinh xảo.

Đặc biệt, phần lưng áo được trang trí nhiều hơn, với các văn tam sơn, mặt trời, mặt trăng và 5 vì tinh tú (Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ) tượng trưng cho ngũ hành. Hình mặt trời được thêu bên vai phải, màu trắng và xanh nhạt. Khoảng giữa hai vầng nhật nguyệt là 5 hình tròn viền mây thêu nối với nhau trên một đường thẳng. Chính giữa lưng áo là cụm tam sơn được thêu chỉ màu vàng, đỏ và xanh nhạt.

Tất cả các hình thêu trên áo đều được kim sa. Mặc dù phần trang trí trên áo không có nhiều hoa văn như các loại áo khác trong sưu tập trang phục cung đình triều Nguyễn, nhưng cách phối màu trên nền áo đen và kỹ thuật thêu được áp dụng rất tinh xảo. Màu sắc đa dạng của các hình thêu trên áo và các hạt kim sa óng ánh vàng tạo cho chiếc áo một vẻ sang trọng mà không quá cầu kỳ.

Sự hội tụ của những vì tinh tú, mặt trăng, mặt trời, núi sông, mây nước trên chiếc áo tế Giao của vua Nguyễn chính là phần quan trọng nhất góp vào màu sắc mang tính biểu trưng có chọn lọc trong nghi lễ tế Giao thời Nguyễn. Chiếc áo không chỉ thể hiện sự tinh tế về màu sắc, điêu luyện về kỹ thuật may dựng áo mà còn thể hiện rất sâu sắc về ý nghĩa biểu tượng, phản ánh trung thực nhân sinh quan, vũ trụ quan của một thời quân chủ. Chính vì những giá trị ấy, chiếc áo tế Giao thực sự là một bảo vật mang tầm quốc gia trong số ít ỏi các hiện vật thuộc sưu tập đồ dệt hiện đang được lưu giữ tại Bảo tàng Mỹ thuật Cung đình Huế.

Nguồn: Cổ vật tinh hoa, số 12, tháng 5/2005

Xem Thêm

Phát triển nhân lực trẻ cho các lĩnh vực công nghệ chiến lược
Bộ Khoa học và Công nghệ được giao nghiên cứu, đề xuất cơ chế, chính sách phát triển nhân lực trẻ chất lượng cao trong các lĩnh vực công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, hàng không vũ trụ và năng lượng nguyên tử, với thời hạn hoàn thành trong quý IV/2026.
Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

GS.VS. Châu Văn Minh: Tăng cường kết nối khoa học, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân
Ngày 25/10/2026, tại Hà Nội, GS.VS. Châu Văn Minh, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam), đã tham dự và phát biểu tại Hội nghị khoa học “Cập nhật các tiến bộ mới trong quản lý bệnh tiêu hóa và gan mật”, kết hợp kỷ niệm 8 năm thành lập Viện Nghiên cứu và Đào tạo Tiêu hóa, Gan mật.
TECHFEST Việt Nam 2026 đưa sản phẩm công nghệ đến gần người dân
TECHFEST Việt Nam 2026 sẽ diễn ra tại Hà Nội từ ngày 13 đến 15/11, khu vực hồ Hoàn Kiếm và phố đi bộ là trung tâm với mô hình không gian mở, đưa các hoạt động trình diễn công nghệ, triển lãm sản phẩm khởi nghiệp và kết nối đầu tư đến gần hơn với người dân, doanh nghiệp, nhà đầu tư.
Liên hiệp Hội Thành phố Hồ Chí Minh và 7 giải pháp phát huy vai trò trí thức
Tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh là một hoạt động quan trọng nhằm phát huy trí tuệ, kinh nghiệm và trách nhiệm xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong quá trình hoạch định chính sách, quy hoạch và triển khai các chương trình, dự án phát triển.
Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Đưa tri thức số về bản, giúp người dân làm chủ công nghệ
Phổ biến kiến thức khoa học, kỹ thuật chỉ thực sự phát huy giá trị khi người dân có thể vận dụng vào đời sống. Từ hoạt động giảng dạy của chuyên gia Hội Mã số Mã vạch Việt Nam trong chương trình tập huấn “Người bản số” tại Lào Cai, có thể thấy rõ cách tiếp cận lấy kỹ năng thực hành, khả năng tự chủ và an toàn trên môi trường số làm trọng tâm.
VUSTA tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ tại cơ sở
Nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm và kỹ năng xử lý tình huống cháy, nổ cho cán bộ, nhân viên làm việc tại tòa nhà, ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức tập huấn công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn. Chương trình kết hợp phổ biến quy định pháp luật với hướng dẫn kỹ năng thực hành, góp phần chủ động phòng ngừa và hạn chế thiệt hại khi có sự cố xảy ra.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
Đắk Lắk: Từ chính sách đãi ngộ đến yêu cầu sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao
Việc HĐND tỉnh Đắk Lắk thông qua Nghị quyết quy định chính sách thu hút, hỗ trợ đào tạo phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2026- 2031 thể hiện sự đồng thuận cao đối với yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo nền tảng cho phát triển trong giai đoạn mới. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để chính sách đi vào cuộc sống, thu hút được người có năng lực và tạo môi trường để trí thức cống hiến.