Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ ba, 14/12/2010 19:17 (GMT+7)

Tạo bước đột phá cho các khu kinh tế ven biển

Việc “xây dựng các khu kinh tế, các khu công nghiệp tập trung và khu chế xuất ven biển” là một trong năm lĩnh vực ưu tiên mang tính chiến lược để tạo đột phá cho sự phát triển kinh tế biển thời kỳ đến năm 2020 và xa hơn.

Cơ chế chính sách đối với các KKTVB

Từ quy định chung áp dụng tại KKT mở Chu Lai, các cơ chế chính sách đối với các KKTVB bắt đầu được từng bước xây dựng và cụ thể hóa trong các văn bản quy phạm pháp luật về đầu tư, đất đai, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế xuất nhập khẩu, thuế thu nhập cá nhân. Ngoài ra, cơ chế hỗ trợ vốn ngân sách Trung ương đối với đầu tư phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng KKTVB và phương thức tổ chức và hoạt động của một số khu chức năng trong KKT như khu thương mại tự do, khu phi thuế quan cũng được nghiên cứu ban hành để tạo ra những động lực mới cho các KKTVB phát triển.

Quyết định số 126/2009/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành cơ chế hỗ trợ vốn ngân sách trung ương đối với đầu tư phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng KKTVB thì các dự án đầu tư vào KKTVB được hưởng chính sách ưu đãi đầu tư như đối với các dự án đầu tư vào khu vực có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn được Ngân sách Trung ương hỗ trợ vốn đầu tư phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội thiết yếu nhằm đảm bảo cho hoạt động và phát triển của các KKTVB. Ngoài ra, mô hình cơ chế và chức năng quản lý nhà nước đối với KKT được chuyển từ cơ chế ủy quyền sang cơ chế phân cấp và giao nhiệm vụ trực tiếp cho ban quản lý KKT một cách toàn diện trên nhiều lĩnh vực từ đầu tư tới lao động, thương mại, xuất nhập khẩu, xây dựng, đất đai, môi trường, thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm hành chính… đối với đầu tư trong nước và nước ngoài trong KKT.

Các vấn đề đặt ra

Các KKTVB này sẽ là những hạt nhân để góp phần hình thành các khu kinh tế năng động, thúc đẩy sự phát triển chung, nhất là đối với các vùng nghèo trên các vùng ven biển của Việt Nam . Đồng thời, tạo tiền đề thu hút mạnh mẽ các nguồn vốn đầu tư, đặc biệt là vốn đầu tư nước ngoài để phát triển kinh tế biển. Như vậy, sứ mệnh của các KKTVB này chủ yếu là cùng với các thành phố lớn ven biển hiện có tạo thành những trung tâm kinh tế biển mạnh, vươn ra biển xa. Để làm được điều này, các KKTVB phải đảm bảo tuân thủ các yêu cầu cơ bản là: Đạt hiệu quả kinh tế - xã hội cao, sử dụng hiệu quả quỹ đất, mặt nước và không gian của KKTVB; Phát triển theo hướng hiện đại; Đảm bảo yêu cầu an ninh, quốc phòng; Có cơ chế, chính sách và mô hình quản lý phát triển cho phép huy động được tối đa mọi nguồn lực cho phát triển. Triển khai theo lộ trình phù hợp với điều kiện của từng giai đoạn và phù hợp với định hướng phát triển kinh tế - xã hội của từng vùng và cả nước.

Đối với từng vùng, trước mắt cần tập trung các nguồn lực để tạo ra những đột phá lớn. Cụ thể là, ở khu vực ven biển miền Bắc, tập trung xây dựng KKT Vân Đồn trở thành cửa mở hướng ra biển, phát triển theo hướng hội nhập kinh tế với khu vực Đông Bắc Á, trong hợp tác của hai hành lang, một vành đai kinh tế ven biển miền Trung, trước hết xây dựng KKT Vân Phong trở thành cửa mở hướng ra biển và theo hướng hợp tác phát triển hành lang kinh tế Đông – Tây và Bắc – Nam. Ở khu vực ven biển miền Nam, trước hết xây dựng KKT Phú Quốc trở thành cửa mở hướng ra biển, hội nhập kinh tế khu vực ASEAN.

Đáng chú ý là, xây dựng các KKTVB đã và đang được triển khai theo hướng nhất quán, đồng bộ với việc thực hiện các nhiệm vụ khác của Chiến lược Biển Việt Nam đến năm 2020. Đặc biệt, năm 2009 có thể coi như một dấu mốc rất quan trọng trong việc thực hiện Chiến lược Biển Việt Nam . Theo tinh thần của Chiến lược Biển Việt Nam, việc phát triển kinh tế biển phải được tiến hành một cách bài bản, hệ thống và được xây dựng trên cơ sở các luận chứng khoa học vững chắc, trong đó công tác quy hoạch, trước hết là đối với một số lĩnh vực thuộc kết cấu hạ tầng then chốt, phải được ưu tiên. Đến nay, hai trong số đó là quy hoạch phát triển hệ thống cảng biển và quy hoạch phát triển hệ thống đường bộ ven biển đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, đánh dấu bước ngoặt trong tư duy kinh tế biển và quyết tâm chính sách phát triển kinh tế biển của Đảng và Chính phủ.

Quá trình nghiên cứu, triển khai xây dựng và phát triển các KKT trong thời gian qua đặt ra một số vấn đề cần tập trung nghiên cứu giải quyết, cụ thể gồm: Việc hình thành các KKT trong bối cảnh luật pháp ngày càng được bổ sung và hoàn thiện, vì vậy các cơ chế chính sách ưu đãi và mô hình tổ chức và quản lý đối với các KKT phải được điều chỉnh cho phù hợp và thay đổi nhiều lần nên có sự ảnh hưởng tới sự phát triển của các KKT và hoạt động đầu tư của các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài. Ngoài ra, do các cơ chế, chính sách ưu đãi đối với các KKT còn bị khống chế bởi quy định khung của pháp luật, do vậy cũng chỉ có thể nghiên cứu áp dụng các cơ chế, chính sách ưu đãi cao nhất trong khung pháp luật hiện hành đối với các KKT.

Một số bộ, ngành vẫn còn xu hướng chỉ đạo theo ngành dọc hoặc dẫn chiếu các văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành nên việc thực hiện một số chức năng quản lý nhà nước đối với KKT chưa được cụ thể hóa hoặc khó triển khai trên thực tế, đặc biệt trên các lĩnh vực như quản lý lao động, môi trường, thương mại, xây dựng, du lịch, thanh tra…

Trình độ và kinh nghiệm của đội ngũ cán bộ công chức của một số ban quản lý KKT còn hạn chế nên chưa xây dựng quy hoạch, kế hoạch định hướng phát triển chiến lược dài hạn triển khai đồng bộ các chức năng, nhiệm vụ đã được giao. Đồng thời, các Bộ, ngành cũng chưa quan tâm tới việc đào tạo và bồi dưỡng nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ công chức của Ban quản lý.

Chưa xây dựng và thực hiện được một chương trình quảng bá và xúc tiến đầu tư quốc gia đối với các KKTVB ở nước ngoài với quy mô lớn và có hệ thống. Đồng thời, thiếu vắng một chiến lược thu hút các dự án đầu tư mang tính động lực, có ý nghĩa quan trọng đối với phát triển ngành và lĩnh vực tại các KKT.

Mặc dù thời gian nghiên cứu triển khai thí điểm mô hình KKT mở tại Chu Lai theo ý kiến chỉ đạo của Bộ Chính trị diễn ra khá dài nhưng chỉ ngay sau khi KKT mở Chu Lai được thành lập, số lượng các KKTVB được quy hoạch và thành lập lại tăng lên nhanh chóng.

Phần lớn các KKT đều được thành lập ở những tỉnh có điều kiện phát triển kinh tế, xã hội khó khăn và ở những khu vực mà hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật thiết yếu còn chưa được đầu tư xây dựng đồng bộ nên việc phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng của các KKT chủ yếu phải dựa vào nguồn vốn hỗ trợ từ ngân sách Trung ương. Tuy nhiên, do nguồn vốn hỗ trợ từ ngân sách Trung ương còn rất hạn chế, trong khi số lượng các KKT được thành lập tăng nhanh nên mức vốn hỗ trợ cho các KKT được thành lập trong 3 năm gấn đây có xu hướng giảm và chỉ đáp ứng được rất hạn chế nhu cầu của các địa phương về vốn hỗ trợ đầu tư hạ tầng kỹ thuật xã hội của các KKT. Theo ước tính sơ bộ, tổng nguồn vốn hỗ trợ có mục tiêu từ ngân sách trung ương, vốn trái phiếu Chính phủ, để lại nguồn thu, vốn ODA đã cấp từ năm 2004 đến hết năm 2009 cho các KKT mới chỉ đáp ứng một phần tổng thể nhu cầu vốn đầu tư phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng của các KKT đã được thành lập (tính đến hết 2015). Với nhu cầu này, khả năng bảo đảm cân đối nguồn từ ngân sách nhà nước là rất khó thực hiện. Để có thể đạt được mục tiêu đề ra trong quy hoạch phát triển các KKTVB đã được phê duyệt thì đòi hỏi trong quá trình triển khai đầu tư xây dựng và phát triển các KKT phải huy động tổng hợp được từ nhiều nguồn lực khác nhau.

Định hướng phát triển các KKTVB

Phát triển KKT phải gắn với chuyển dịch cơ cấu kinh tế của địa phương của vùng theo hướng CNH – HĐH. Lấy hiệu quả kinh tế xã hội làm tiêu chuẩn cao nhất và đảm bảo phát triển bền vững. Phát triển KKT hướng tới hiện đại, đảm bảo sử dụng một cách hiệu quả quỹ đất, mặt nước, không gian của KKT.

Phát triển mỗi KKT phải hướng tới hình thành khu chức năng nòng cốt, chủ đạo và gắn kết chặt chẽ với phát triển vùng.

Phát triển các KKT phải theo từng giai đoạn, phù hợp với điều kiện cụ thể và phù hợp với định hướng phát triển kinh tế - xã hội của cả nước.

Phát triển các KKT phải chú ý tới yêu cầu bảo vệ môi trường và yêu cầu an ninh quốc phòng.

Trong kế hoạch 5 năm 2011 – 2015 sẽ thành lập KKT Năm Căn, tỉnh Cà Mau, đồng thời quy hoạch mở rộng KKT Dung Quất. Xem xét bổ sung vào quy hoạch phát triển KKT từ 2-3 KKT mới, nâng tổng số các KKT được Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập lên khoảng 18 KKT với tổng diện tích cả mặt đất và mặt nước khoảng 740-760 nghìn ha.

Đến năm 2015, các KKT thu hút khoảng 1.000 – 1.100 dự án, trong đó có 450-500 dự án đầu tư nước ngoài và 550-600 dự án đầu tư trong nước với tổng vốn đầu tư đăng ký khoảng 45-47 tỷ USD và 240-260 nghìn tỷ đồng.

Các KKTVB đóng góp vào tổng GDP của cả nước khoảng 5% và tạo ra việc làm phi nông nghiệp cho khoảng 300-500 nghìn người. Đến năm 2020, các KKT thu hút được khoảng 1.500-2.000 dự án, trong đó khoảng 60% là dự án đầu tư nước ngoài và 40% là dự án đầu tư trong nước với tổng vốn đăng ký đạt khoảng 70-80 tỷ USD và 320-350 nghìn tỷ đồng.

Các KKTVB đóng góp vào tổng GDP của cả nước khoảng 15-20% và tạo ra việc làm phi nông nghiệp cho khoảng 1,3-1,5 triệu người.

Một số giải pháp

Xây dựng các tuyến giao thông ven biển nối liền các KKT làm cơ sở để tạo mối liên kết, tương hỗ lần nhau giữa các KKTVB, làm tiền đề để hình thành trục động lực phát triển ven biển. Trong đó có sự phân công chặt chẽ trong phát triển ngành, lĩnh vực giữa các KKT.

Nghiên cứu hình thành, phát triển các mô hình KKT mới gắn với cơ chế chính sách đặc thù theo hướng mở, ví dụ như thành phố công nghiệp tạo bước đột phá phát triển cho các KKTVB. Trước mắt lựa chọn 1-2 KKTVB có đủ điều kiện và vị trí địa lý hợp lý, có khả năng tạo sức phát triển lan tỏa mạnh đến thí điểm.

Tập trung phát triển các dự án động lực hiện đã thu hút được và các cơ sở hạ tầng ký thuật thiết yếu trong các KKT để làm tiền đề cho việc hình thành khu vực phát triển công nghiệp chiến lược trong các KKT và thu hút các nhà đầu tư.

Huy động tổng hợp các nguồn vốn để tiếp tục đầu tư xây dựng các công trình hạ tầng thiết yếu, quan trọng trong các KKT để tạo điều kiện đẩy mạnh thu hút đầu tư phát triển các KKT để tạo điều kiện đẩy mạnh thu hút đầu tư phát triển các KKT.

Xây dựng chương trình xúc tiến đầu tư quốc gia cho các KKTVB Việt Nam tại nước ngoài vào thời điểm thích hợp, trước mắt có thể xây dựng trang Web chung cho các KKT để quảng bá thương hiệu KKTVB VIệt Nam.

Hệ thống các KKTVB có vị trí đặc biệt trong chiến lược biển Việt Nam trong tiến trình đưa nước ta trở thành một quốc gia mạnh về biển và làm giàu từ biển. Để thực hiện mục tiêu chiến lược đó, ngoài chủ trương đường lối chính sách lớn của Đảng và Nhà nước về phát triển các KKTVB nêu trên, cần tiếp tục nghiên cứu để hình thành và thực hiện những cơ chế chính sách cụ thể cùng những biện pháp đồng bộ khả thi, đặc biệt coi trọng các bài học tổng kết từ thực tiễn phát triển các KKT này.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam: Điểm tựa khoa học công nghệ gắn với chuyển đổi số quốc gia
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam với gần 40 năm phát triển đang thể hiện rõ vai trò tổ tổ chức xã hội - nghề nghiệp uy tín trong lĩnh vực vô tuyến, điện tử, viễn thông, công nghệ thông tin đồng thời đóng góp thực chất vào tiến trình chuyển đổi số quốc gia theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Đầu tư khoa học công nghệ giải quyết điểm nghẽn của ngành Thủy sản Việt Nam
Phát biểu tại Hội nghị khoa học công nghệ thủy sản và kiểm ngư toàn quốc năm 2026, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến đã nhấn mạnh sự cần thiết của đổi mới sáng tạo khoa học công nghệ trong giải quyết điểm nghẽn về logistics, môi trường, nâng cao sức cạnh tranh của ngành Thủy sản trong nước.
Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng nhận danh hiệu Giáo sư danh dự Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga
Sáng 30/4/2026, tại Trường Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga (MPEI), TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã vinh dự đón nhận danh hiệu Giáo sư danh dự của MPEI. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng là công dân đầu tiên của Việt Nam được trao tặng danh hiệu Giáo sư tại MPEI, đứng trong bảng danh dự cùng với các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới.
51 năm thống nhất đất nước: Khơi thông nguồn lực tri thức trong kỷ nguyên mới
Thông tấn xã Việt Nam giới thiệu bài phỏng vấn với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) về vai trò của lực lượng trí thức và những giải pháp đột phá để hiện thực hóa khát vọng hùng cường vào năm 2030 và 2045.
Phát huy vai trò nòng cốt của trí thức KH&CN tỉnh Cà Mau
Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Cà Mau lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031 tổ chức thành công thực sự đã mở ra một không gian mới để hội tụ sức mạnh, tâm huyết và trí tuệ của đội ngũ trí thức tỉnh nhà, định hình con đường kiến tạo và phát triển trong kỷ nguyên mới của đất nước.
Công bố Quyết định bổ nhiệm Giám đốc, Tổng biên tập Nhà xuất bản Tri thức
Ngày 28/4, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức Hội nghị Công bố quyết định về công tác cán bộ. Tại hội nghị, TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã trao Quyết định bổ nhiệm bà Bùi Thị Thu Hằng, Phó Giám đốc phụ trách, Phó Tổng biên tập NXB Tri thức giữ chức vụ Giám đốc, Tổng biên tập NXB Tri thức.