Sử dụng vật liệu xây dựng không nung - Xu hướng tất yếu của ngành công nghiệp vật liệu xây dựng hiện đại - bền vững
Một vài nét về vật liệu xây
Nhu cầu về vật liệu ở nước ta tăng rất nhanh bình quân 5 năm trở lại đây từ 10-12%. Theo Quy hoạch tổng thể phát triển vật liệu xây dựng Việt Nam đến năm 2020, nhu cầu sử dụng vật liệu xây vào các năm 2010; 2015; 2020 tương ứng khoảng 25; 32; 42 tỉ viên quy tiêu chuẩn. Trong đó tỉ lệ VLXKN vào các năm 2010, 2015, 2020 tương ứng là 10%, 15-20%, 30-40%.
Với vật liệu nung, để sản xuất 1 tỉ viên gạch đất sét nung có kích thước tiêu chuẩn sẽ tiêu tốn khoảng 1.500.000 m 3đất sét, tương đương 75 ha đất nông nghiệp (độ sâu khai thác là 2m) và 150.000 tấn than, đồng thời thải ra khoảng 0,57 triệu tấn khí CO 2- gây hiệu ứng nhà kính và các khí thải độc hại khác gây ô nhiễm môi trường. Như vậy để đáp ứng nhu cầu vật liệu xây tăng 10-12%/năm sẽ tiêu tốn hàng nghìn ha đất nông nghiệp và hàng triệu tấn than mỗi năm.
Ngoài ra, sử dụng gạch đất sét nung còn khó có điều kiện công nghiệp hóa ngành xây dựng.
![]() |
Việc từng bước thay thế gạch đất sét nung bằng vật liệu xây không nung (VLXKN) sẽ đem lại nhiều hiệu quả tích cực về các mặt kinh tế xã hội, bảo vệ môi trường, đồng thời hạn chế được các tác động bất lợi trên; ngoài ra còn tiêu thụ một phần đáng kể phế thải các ngành khác như: nhiệt điện, luyện kim, khai khoáng,… góp phần tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, giảm thiểu ô nhiễm môi trường và các chi phí xử lý phế thải. Theo quy hoạch phát triển ngành điện và luyện kim thì lượng tro, xỉ phát thải hàng năm tăng rất nhanh. Dự kiến đến năm 2020 lượng phế thải này khoảng 45 triệu tấn sẽ mất khoảng 1.100 ha mặt bằng chứa phế thải. Việc sử dụng VLXKN loại nhẹ còn giảm tải trọng công trình xây dựng, do đó tiết kiệm vật liệu làm móng và khung chịu lực, đẩy nhanh tiến độ thi công. Mặt khác, gạch nhẹ với tính cách nhiệt cao còn góp phần tích cực vào Chương trình tiết kiệm năng lượng.
Định hướng phát triển vật liệu xây
Để đáp ứng nhu cầu vật liệu xây cung cấp cho các công trình xây dựng hàng năm vẫn phải vừa sản xuất gạch đất sét nung truyền thống vừa phát triển VLXKN. Vì vậy, định hướng cho việc phát triển vật liệu xây ở Việt Nam tron giai đoạn tới như sau:
Vật liệu nung
Áp dụng công nghệ sản xuất gạch bền vững đáp ứng các yêu cầu sau:
- Giảm khí thải độc hại, khí thải ra phải đáp ứng tiêu chuẩn về môi trường;
- Tiết kiệm nguyên liệu, tiết kiệm năng lượng;
- Có khả năng cơ giới hoá và tự động hoá trong quá trình sản xuất;
- Ưu tiên phát triển công nghệ lò nung tuynel, từng bước xoá bỏ lò thủ công.
Vật liệu xây không nung
Để phát triển VLXKN theo đúng lộ trình mà Chính phủ đặt ra, Bộ Xây dựng đã xây dựng "Chương trình phát triển VLXKN đến năm 2020" đang trình Chính phủ phê duyệt với những định hướng cơ bản như sau:
* Về chủng loại và chất lượng sản phẩm
Gạch xi măng - cốt liệu: là vật liệu chủ đạo trong VLXKN, quy cách chất lượng sản phẩm theo tiêu chuẩn TCVN 6477:1999 - Gạch blốc bê tông.
![]() |
Gạch nhẹ: ưu tiên phát triển sản xuất và sử dụng gạch nhẹ. Gạch nhẹ có 2 loại sản phẩm chính gồm:
+ Gạch từ bê tông khí chưng áp: quy cách, chất lượng sản phẩm theo tiêu chuẩn TCVN 7959:2008- Blốc bê tông khí chưng áp (AAC);
+ Gạch từ bê tông bọt: quy cách, chất lượng sản phẩm theo tiêu chuẩn TCXDVN 316:2004 - Blốc bê tông nhẹ - yêu cầu kỹ thuật.
Gạch khác: đá chẻ, gạch đá ong, VLXKN từ đất đồi và phế thải xây dựng, phế thải công nghiệp, gạch sili-cat,…
* Về sử dụng vật liệu xây không nung.
Để nâng cao hiệu quả kinh tế - kỹ thuật, việc sử dụng VLXKN cần theo các định hướng sau:
+ Gạch xi măng - cốt liệu: được sử dụng ở mọi khối xây.
+ Gạch nhẹ: chỉ nên sử dụng ở những kết cấu không chịu lực, đặc biệt là ở nhà cao tầng, ở những khu vực có nền đất yếu, công trình có yêu cầu cách âm cách nhiệt cao thì việc sử dụng gạch nhẹ sẽ đem lại hiệu quả kinh tế kỹ thuật cao hơn.
+ Gạch đá ong, đá chẻ, do đặc điểm nặng, sản xuất nhỏ lẻ nên chỉ sử dụng ở nhà thấp tầng, tường rào,… Còn VLXKN từ đất đồi và phế thải xây dựng, phế thải công nghiệp, gạch silicat được sử dụng ở mọi khối xây. Tuy nhiên cần căn cứ vào chất lượng từng loại để sử dụng cho hợp lý.
![]() |
* Ưu điểm nổi trội của vật liệu xây dựng không nung.
- Vật liệu xây không nung không sử dụng đất sét ruộng mà sử dụng các phế thải công nghiệp như tro bay, xỉ của các nhà máy nhiệt điện đốt than, xỉ của nhà máy luyện kim, mạt đá trong công nghiệp khai thác chế biến đá xây dựng, bùn đỏ chất thải của công nghiệp chế biến bauxit. Theo ước tính từ 2015 - 2020 ở nước ta thải ra từ 50 đến 60 triệu tấn các loại phế thải trên gây ô nhiễm môi trường sinh thái nghiêm trọng. Với lượng phế thải đó đủ để sản xuất 40 tỉ viên gạch không nung mỗi năm mà kông cần dùng đất sét ruộng.
- Sản xuất vật liệu không nung giảm tiêu tốn năng lượng 70 - 80% so với sản xuất gạch đất sét nung; không đốt than, củi; không thải khí CO 2, SO 2giảm ô nhiễm môi trường.
![]() |
- Vật liệu không nung vật liệu nhẹ, đặc biệt là bê tông khí chưng áp AAC có trọng lượng 400-800 kg/m 3với tỉ trọng trung bình xấp xỉ 1/5 bê tông thường, bằng 1/3 gạch đất sét nung, giảm tải trọng công trình, giảm chi phí làm móng rất phù hợp cho xây dựng ở vùng đất yếu, xây dựng nhà cao tầng.
- Bê tông nhẹ AAC có kích thước lớn và nhiều kích cỡ tuỳ theo yêu cầu; kích thước đồng đều chính xác, cưa cắt dễ dàng, vận chuyển nhẹ nhàng giúp tăng năng suất lao động từ 3-6 lần, rút ngắn tiến độ thi công. Bê tông nhẹ có tính năng chống cháy tốt gấp 2-3 lần gạch đất sét nung, về mùa hè giảm truyền nhiệt từ bên ngoài vào, mùa đông giảm mất nhiệt.
- Bê tông khí chưng áp AAC có chất lượng tốt, cường độ nén cao 40-100kg/cm 3, gấp 2 lần so với gạch đất sét nung, tiết kiệm chi phí, giảm giá thành xây dựng, tuổi thọ công trình cao.
Bê tông nhẹ, tấm tương thạch cao là loại vật liệu xây dựng các công trình xanh, thân thiện với môi trường sinh thái, là loại vật liệu xây dựng thế hệ mới của thể kỷ 21, thời đại công nghiệp hóa, hiện đại hoá ngành xây dựng nước ta. Qua phân tích so sánh tính ưu việt của VLXKN so với gạch đất sét nung cho thấy việc phát triển đầu tư sản xuất và sử dụng VLXKN là xu hướng tất yếu của ngành công nghiệp vật liệu xây dựng Việt Nam hiện đại bền vững.
Thực trạng và giải pháp phát triển sản xuất, sử dụng vật liệu xây không nung ở nước ta.
Quyết định số 115/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch phát triển vật liệu xây dựng đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 đã quy hoạch vật liệu xây không nung chiếm 20% vào năm 2005 và 30% vào năm 2010 trên tổng sản lượng vật liệu xây. Nhưng thực tế đến năm 2008 sản lượng VLXKN mới chỉ đạt 8,0 - 8,5% trên tổng số vật liệu xây chủ yếu là cốt liệu xi măng, mạt đá, cát.
![]() |
Vật liệu xây không nung phát triển chậm do nhiều nguyên nhân:
- Bao đời nay nhân dân ta đã quen sử dụng gạch đất sét nung cỡ nhỏ, xây thủ công phù hợp với lối sản xuất nhỏ. Quy trình xây gạch blốc yêu cầu chặt chẽ hơn, đòi hỏi tay nghề người thợ cao hơn
- Nhà nước chưa ban hành đồng bộ các chính sách khuyến khích đầu tư phát triển sản xuất, sử dụng vào công trình.
- Giá bán gạch blốc trước đây cao hơn gạch đất sét nung, nhất là so với gạch lò đứng thủ công sử dụng đất ruộng không có thuế đất, giá thành thấp.
- Các nhà đầu tư đã quen sử dụng gạch xây đất sét nung chưa nắm bắt được tính ưu việt của vật liệu xây không nung.
Một số giải pháp phát triển sản xuất và sử dụng vật liệu xây không nung thay thế gạch đất sét nung:
1. Để thực hiện mục tiêu đạt 40% VLXKN đến năm 2020 bằng 16,8 tỷ viên, trung bình mỗi năm phải đầu tư mới 1,6 tỷ viên. Căn cứ vào nguồn nguyên liệu của từng vùng, nhu cầu của thị trường, thị hiếu của người tiêu dùng để đầu tư các cơ sở sản xuất VLXKN thích hợp.
2. Các giải pháp khuyến khích đầu tư phát triển sản xuất VLXKN theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ. Các chính sách ưu đãi các doanh nghiệp hoạt động theo luật doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác,tư nhân.
- Tổ chức cá nhân được Nhà nước cho thuê đất để đầu tư xây dựng cơ sở sản xuất VLXKN hoặc chế tạo thiết bị cho sản xuất được miễn tiền thuê đất, thuê mặt nước theo điều 14 của Nghị định 142/11/2005/NĐ-CP ngày 14/11/2005, được miễn giảm tiền sử dụng đất theo Nghị định số 44/2008/NĐ-CP ngày 4/4/2008.
- Ưu đãi thuế nhập khẩu theo Thông tư 121/2008/TT-BTC ngày 12/12/2008 được miễn thuế nhập khẩu thiết bị cho sản xuất. Nguyên liệu, vật liệu (không sản xuất trong nước) được miễn thuế nhập khẩu trong thời hạn 5 năm kể từ khi cơ sở vào sản xuất.
- Thuế giá trị gia tăng được áp dụng thuế suất 5%, thuế thu nhập doanh ngihệp được ưu đãi theo Chương III Luật Thuế TNDN số 14/2008/QH12.
- Ưu đãi vốn vay: được vay vốn tín dụng ưu đãi, được ưu tiên vay lại nguồn vốn của các tổ chức quốc tế cho Chính phủ Việt Nam vay ưu đãi. Được hỗ trợ 50% vốn từ nguồn ngân sách Nhà nước để chuyển giao công nghệ, đào tạo, hướng dẫn vận hành.
3. Chính sách khuyến khích sử dụng VLXKN vào công trình: đối với công trình cao tầng từ 8 tầng trở lên sử dụng vốn ngân sách Nhà nước ở các đô thị phải sử dụng ít nhất 50% VLXKN loại nhẹ. Đối với công trình xây dựng sử dụng nguồn vốn khác phải sử dụng ít nhất 30% về VLXKN loại nhẹ.
4. Các địa phương còn xây dựng và công bố quy hoạch sử dụng đất để sản xuất gạch đất sét nung, không sử dụng đất nông nghiệp, tăng thuế tài nguyên đất sét làm vật liệu xây dựng.
5. Hoàn thiện công nghệ sản xuất VLXKN, nghiên cứu sử dụng tất cả các nguồn phế thải công nghiệp.
6. Nâng cao năng lực cơ khí trong nước để chế tạo thiết bị sản xuất VLXKN để giảm nhập khẩu.
7. Soát xét, hoàn chỉnh đồng bộ hệ thống các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật các quy trình, quy phạm hướng dẫn thi công và các định mức kinh tế kỹ thuật liên quan đến sản xuất và sử dụng VLXKN, tạo điều kiện cho các nhà tư vấn, thiết kế đưa VLXKN vào công trình.
8. Để đưa VLXKN vào cuộc sống cần phải tổ chức tốt công tác tuyên truyền, thông tin để cho các cơ quan quản lý Nhà nước, các chủ thể trong hoạt động xây dựng và mọi người dân nhận rõ những ưu điểm, lợi thế trong việc sản xuất, sử dụng VLXKN, đồng thời thấy được những tác động tiêu cực của việc sản xuất và sử dụng gạch đất sét nung không theo quy định, để tập trung mọi năng lực phát triển sản xuất và sử dụng VLXKN, góp phần phát triển ngành công nghiệp VLXKN nước ta hiện nay, bền vững.













