Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ tư, 20/10/2010 19:40 (GMT+7)

Sử dụng vật liệu xây dựng không nung - Xu hướng tất yếu của ngành công nghiệp vật liệu xây dựng hiện đại - bền vững

Một vài nét về vật liệu xây

Nhu cầu về vật liệu ở nước ta tăng rất nhanh bình quân 5 năm trở lại đây từ 10-12%. Theo Quy hoạch tổng thể phát triển vật liệu xây dựng Việt Nam đến năm 2020, nhu cầu sử dụng vật liệu xây vào các năm 2010; 2015; 2020 tương ứng khoảng 25; 32; 42 tỉ viên quy tiêu chuẩn. Trong đó tỉ lệ VLXKN vào các năm 2010, 2015, 2020 tương ứng là 10%, 15-20%, 30-40%.

Với vật liệu nung, để sản xuất 1 tỉ viên gạch đất sét nung có kích thước tiêu chuẩn sẽ tiêu tốn khoảng 1.500.000 m 3đất sét, tương đương 75 ha đất nông nghiệp (độ sâu khai thác là 2m) và 150.000 tấn than, đồng thời thải ra khoảng 0,57 triệu tấn khí CO 2- gây hiệu ứng nhà kính và các khí thải độc hại khác gây ô nhiễm môi trường. Như vậy để đáp ứng nhu cầu vật liệu xây tăng 10-12%/năm sẽ tiêu tốn hàng nghìn ha đất nông nghiệp và hàng triệu tấn than mỗi năm.

Ngoài ra, sử dụng gạch đất sét nung còn khó có điều kiện công nghiệp hóa ngành xây dựng.

Việc từng bước thay thế gạch đất sét nung bằng vật liệu xây không nung (VLXKN) sẽ đem lại nhiều hiệu quả tích cực về các mặt kinh tế xã hội, bảo vệ môi trường, đồng thời hạn chế được các tác động bất lợi trên; ngoài ra còn tiêu thụ một phần đáng kể phế thải các ngành khác như: nhiệt điện, luyện kim, khai khoáng,… góp phần tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, giảm thiểu ô nhiễm môi trường và các chi phí xử lý phế thải. Theo quy hoạch phát triển ngành điện và luyện kim thì lượng tro, xỉ phát thải hàng năm tăng rất nhanh. Dự kiến đến năm 2020 lượng phế thải này khoảng 45 triệu tấn sẽ mất khoảng 1.100 ha mặt bằng chứa phế thải. Việc sử dụng VLXKN loại nhẹ còn giảm tải trọng công trình xây dựng, do đó tiết kiệm vật liệu làm móng và khung chịu lực, đẩy nhanh tiến độ thi công. Mặt khác, gạch nhẹ với tính cách nhiệt cao còn góp phần tích cực vào Chương trình tiết kiệm năng lượng.

Định hướng phát triển vật liệu xây

Để đáp ứng nhu cầu vật liệu xây cung cấp cho các công trình xây dựng hàng năm vẫn phải vừa sản xuất gạch đất sét nung truyền thống vừa phát triển VLXKN. Vì vậy, định hướng cho việc phát triển vật liệu xây ở Việt Nam tron giai đoạn tới như sau:

Vật liệu nung

Áp dụng công nghệ sản xuất gạch bền vững đáp ứng các yêu cầu sau:

- Giảm khí thải độc hại, khí thải ra phải đáp ứng tiêu chuẩn về môi trường;

- Tiết kiệm nguyên liệu, tiết kiệm năng lượng;

- Có khả năng cơ giới hoá và tự động hoá trong quá trình sản xuất;

- Ưu tiên phát triển công nghệ lò nung tuynel, từng bước xoá bỏ lò thủ công.

Vật liệu xây không nung

Để phát triển VLXKN theo đúng lộ trình mà Chính phủ đặt ra, Bộ Xây dựng đã xây dựng "Chương trình phát triển VLXKN đến năm 2020" đang trình Chính phủ phê duyệt với những định hướng cơ bản như sau:

* Về chủng loại và chất lượng sản phẩm

Gạch xi măng - cốt liệu: là vật liệu chủ đạo trong VLXKN, quy cách chất lượng sản phẩm theo tiêu chuẩn TCVN 6477:1999 - Gạch blốc bê tông.

Gạch nhẹ: ưu tiên phát triển sản xuất và sử dụng gạch nhẹ. Gạch nhẹ có 2 loại sản phẩm chính gồm:

+ Gạch từ bê tông khí chưng áp: quy cách, chất lượng sản phẩm theo tiêu chuẩn TCVN 7959:2008- Blốc bê tông khí chưng áp (AAC);

+ Gạch từ bê tông bọt: quy cách, chất lượng sản phẩm theo tiêu chuẩn TCXDVN 316:2004 - Blốc bê tông nhẹ - yêu cầu kỹ thuật.

Gạch khác: đá chẻ, gạch đá ong, VLXKN từ đất đồi và phế thải xây dựng, phế thải công nghiệp, gạch sili-cat,…

* Về sử dụng vật liệu xây không nung.

Để nâng cao hiệu quả kinh tế - kỹ thuật, việc sử dụng VLXKN cần theo các định hướng sau:

+ Gạch xi măng - cốt liệu: được sử dụng ở mọi khối xây.

+ Gạch nhẹ: chỉ nên sử dụng ở những kết cấu không chịu lực, đặc biệt là ở nhà cao tầng, ở những khu vực có nền đất yếu, công trình có yêu cầu cách âm cách nhiệt cao thì việc sử dụng gạch nhẹ sẽ đem lại hiệu quả kinh tế kỹ thuật cao hơn.

+ Gạch đá ong, đá chẻ, do đặc điểm nặng, sản xuất nhỏ lẻ nên chỉ sử dụng ở nhà thấp tầng, tường rào,… Còn VLXKN từ đất đồi và phế thải xây dựng, phế thải công nghiệp, gạch silicat được sử dụng ở mọi khối xây. Tuy nhiên cần căn cứ vào chất lượng từng loại để sử dụng cho hợp lý.

* Ưu điểm nổi trội của vật liệu xây dựng không nung.

- Vật liệu xây không nung không sử dụng đất sét ruộng mà sử dụng các phế thải công nghiệp như tro bay, xỉ của các nhà máy nhiệt điện đốt than, xỉ của nhà máy luyện kim, mạt đá trong công nghiệp khai thác chế biến đá xây dựng, bùn đỏ chất thải của công nghiệp chế biến bauxit. Theo ước tính từ 2015 - 2020 ở nước ta thải ra từ 50 đến 60 triệu tấn các loại phế thải trên gây ô nhiễm môi trường sinh thái nghiêm trọng. Với lượng phế thải đó đủ để sản xuất 40 tỉ viên gạch không nung mỗi năm mà kông cần dùng đất sét ruộng.

- Sản xuất vật liệu không nung giảm tiêu tốn năng lượng 70 - 80% so với sản xuất gạch đất sét nung; không đốt than, củi; không thải khí CO 2, SO 2giảm ô nhiễm môi trường.

- Vật liệu không nung vật liệu nhẹ, đặc biệt là bê tông khí chưng áp AAC có trọng lượng 400-800 kg/m 3với tỉ trọng trung bình xấp xỉ 1/5 bê tông thường, bằng 1/3 gạch đất sét nung, giảm tải trọng công trình, giảm chi phí làm móng rất phù hợp cho xây dựng ở vùng đất yếu, xây dựng nhà cao tầng.

- Bê tông nhẹ AAC có kích thước lớn và nhiều kích cỡ tuỳ theo yêu cầu; kích thước đồng đều chính xác, cưa cắt dễ dàng, vận chuyển nhẹ nhàng giúp tăng năng suất lao động từ 3-6 lần, rút ngắn tiến độ thi công. Bê tông nhẹ có tính năng chống cháy tốt gấp 2-3 lần gạch đất sét nung, về mùa hè giảm truyền nhiệt từ bên ngoài vào, mùa đông giảm mất nhiệt.

- Bê tông khí chưng áp AAC có chất lượng tốt, cường độ nén cao 40-100kg/cm 3, gấp 2 lần so với gạch đất sét nung, tiết kiệm chi phí, giảm giá thành xây dựng, tuổi thọ công trình cao.

Bê tông nhẹ, tấm tương thạch cao là loại vật liệu xây dựng các công trình xanh, thân thiện với môi trường sinh thái, là loại vật liệu xây dựng thế hệ mới của thể kỷ 21, thời đại công nghiệp hóa, hiện đại hoá ngành xây dựng nước ta. Qua phân tích so sánh tính ưu việt của VLXKN so với gạch đất sét nung cho thấy việc phát triển đầu tư sản xuất và sử dụng VLXKN là xu hướng tất yếu của ngành công nghiệp vật liệu xây dựng Việt Nam hiện đại bền vững.

Thực trạng và giải pháp phát triển sản xuất, sử dụng vật liệu xây không nung ở nước ta.

Quyết định số 115/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch phát triển vật liệu xây dựng đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 đã quy hoạch vật liệu xây không nung chiếm 20% vào năm 2005 và 30% vào năm 2010 trên tổng sản lượng vật liệu xây. Nhưng thực tế đến năm 2008 sản lượng VLXKN mới chỉ đạt 8,0 - 8,5% trên tổng số vật liệu xây chủ yếu là cốt liệu xi măng, mạt đá, cát.

Vật liệu xây không nung phát triển chậm do nhiều nguyên nhân:

- Bao đời nay nhân dân ta đã quen sử dụng gạch đất sét nung cỡ nhỏ, xây thủ công phù hợp với lối sản xuất nhỏ. Quy trình xây gạch blốc yêu cầu chặt chẽ hơn, đòi hỏi tay nghề người thợ cao hơn

- Nhà nước chưa ban hành đồng bộ các chính sách khuyến khích đầu tư phát triển sản xuất, sử dụng vào công trình.

- Giá bán gạch blốc trước đây cao hơn gạch đất sét nung, nhất là so với gạch lò đứng thủ công sử dụng đất ruộng không có thuế đất, giá thành thấp.

- Các nhà đầu tư đã quen sử dụng gạch xây đất sét nung chưa nắm bắt được tính ưu việt của vật liệu xây không nung.

Một số giải pháp phát triển sản xuất và sử dụng vật liệu xây không nung thay thế gạch đất sét nung:

1. Để thực hiện mục tiêu đạt 40% VLXKN đến năm 2020 bằng 16,8 tỷ viên, trung bình mỗi năm phải đầu tư mới 1,6 tỷ viên. Căn cứ vào nguồn nguyên liệu của từng vùng, nhu cầu của thị trường, thị hiếu của người tiêu dùng để đầu tư các cơ sở sản xuất VLXKN thích hợp.

2. Các giải pháp khuyến khích đầu tư phát triển sản xuất VLXKN theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ. Các chính sách ưu đãi các doanh nghiệp hoạt động theo luật doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác,tư nhân.

- Tổ chức cá nhân được Nhà nước cho thuê đất để đầu tư xây dựng cơ sở sản xuất VLXKN hoặc chế tạo thiết bị cho sản xuất được miễn tiền thuê đất, thuê mặt nước theo điều 14 của Nghị định 142/11/2005/NĐ-CP ngày 14/11/2005, được miễn giảm tiền sử dụng đất theo Nghị định số 44/2008/NĐ-CP ngày 4/4/2008.

- Ưu đãi thuế nhập khẩu theo Thông tư 121/2008/TT-BTC ngày 12/12/2008 được miễn thuế nhập khẩu thiết bị cho sản xuất. Nguyên liệu, vật liệu (không sản xuất trong nước) được miễn thuế nhập khẩu trong thời hạn 5 năm kể từ khi cơ sở vào sản xuất.

- Thuế giá trị gia tăng được áp dụng thuế suất 5%, thuế thu nhập doanh ngihệp được ưu đãi theo Chương III Luật Thuế TNDN số 14/2008/QH12.

- Ưu đãi vốn vay: được vay vốn tín dụng ưu đãi, được ưu tiên vay lại nguồn vốn của các tổ chức quốc tế cho Chính phủ Việt Nam vay ưu đãi. Được hỗ trợ 50% vốn từ nguồn ngân sách Nhà nước để chuyển giao công nghệ, đào tạo, hướng dẫn vận hành.

3. Chính sách khuyến khích sử dụng VLXKN vào công trình: đối với công trình cao tầng từ 8 tầng trở lên sử dụng vốn ngân sách Nhà nước ở các đô thị phải sử dụng ít nhất 50% VLXKN loại nhẹ. Đối với công trình xây dựng sử dụng nguồn vốn khác phải sử dụng ít nhất 30% về VLXKN loại nhẹ.

4. Các địa phương còn xây dựng và công bố quy hoạch sử dụng đất để sản xuất gạch đất sét nung, không sử dụng đất nông nghiệp, tăng thuế tài nguyên đất sét làm vật liệu xây dựng.

5. Hoàn thiện công nghệ sản xuất VLXKN, nghiên cứu sử dụng tất cả các nguồn phế thải công nghiệp.

6. Nâng cao năng lực cơ khí trong nước để chế tạo thiết bị sản xuất VLXKN để giảm nhập khẩu.

7. Soát xét, hoàn chỉnh đồng bộ hệ thống các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật các quy trình, quy phạm hướng dẫn thi công và các định mức kinh tế kỹ thuật liên quan đến sản xuất và sử dụng VLXKN, tạo điều kiện cho các nhà tư vấn, thiết kế đưa VLXKN vào công trình.

8. Để đưa VLXKN vào cuộc sống cần phải tổ chức tốt công tác tuyên truyền, thông tin để cho các cơ quan quản lý Nhà nước, các chủ thể trong hoạt động xây dựng và mọi người dân nhận rõ những ưu điểm, lợi thế trong việc sản xuất, sử dụng VLXKN, đồng thời thấy được những tác động tiêu cực của việc sản xuất và sử dụng gạch đất sét nung không theo quy định, để tập trung mọi năng lực phát triển sản xuất và sử dụng VLXKN, góp phần phát triển ngành công nghiệp VLXKN nước ta hiện nay, bền vững.

Xem Thêm

Phát triển nhân lực trẻ cho các lĩnh vực công nghệ chiến lược
Bộ Khoa học và Công nghệ được giao nghiên cứu, đề xuất cơ chế, chính sách phát triển nhân lực trẻ chất lượng cao trong các lĩnh vực công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, hàng không vũ trụ và năng lượng nguyên tử, với thời hạn hoàn thành trong quý IV/2026.
Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

Góp ý Luật luật An toàn, vệ sinh lao động: Lấy bảo vệ con người và quản trị rủi ro làm trung tâm
Ngày 30/10/2026, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp Hội Khoa học Kỹ thuật An toàn Vệ sinh Lao động Việt Nam (VOSHA) tổ chức Hội thảo "Góp ý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật An toàn, vệ sinh lao động". Hội thảo do PGS.TS Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch VUSTA và GS.TS Lê Vân Trình, Chủ tịch VOSHA đồng chủ trì.
VUSTA công bố các quyết định điều động, bổ nhiệm cán bộ chủ chốt
Ngày 30/10/2026, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã trang trọng tổ chức Hội nghị công bố các quyết định quan trọng về công tác cán bộ. Lãnh đạo VUSTA đã trao quyết định nghỉ hưu hưởng chế độ cho 02 cán bộ, chuyên viên, đồng thời trao các quyết định điều động, bổ nhiệm cán bộ chủ chốt nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.
Liên hiệp Hội Việt Nam hưởng ứng tháng “Vì người nghèo”
Sáng 27/10, tại Hội trường xã Quốc Oai, Khối thi đua các tổ chức thuộc lĩnh vực Khoa học - Kinh tế - Pháp luật - Giáo dục - Đối ngoại thuộc Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phối hợp với Ủy ban MTTQ Việt Nam thành phố Hà Nội, Hội Luật gia thành phố Hà Nội và xã Quốc Oai tổ chức Hội nghị “Nghe dân nói, nói dân nghe” và thực hiện Tháng cao điểm vì người nghèo 2026.
Thủ tướng mong muốn đối tác quốc tế không chỉ đầu tư, sản xuất tại Việt Nam mà cùng kiến tạo chuỗi giá trị mới
Phát biểu tại Diễn đàn Kinh tế mùa Thu 2026, Thủ tướng Lê Minh Hưng khẳng định Việt Nam mong muốn các đối tác quốc tế không chỉ đầu tư, sản xuất tại Việt Nam mà cùng nghiên cứu, phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo và kiến tạo những chuỗi giá trị mới.
Tạo động lực tăng trưởng xanh từ khoa học, công nghệ
Chính phủ Việt Nam nhiều lần khẳng định quan điểm "không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế". Trong bối cảnh đó, việc giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa yêu cầu tăng trưởng nhanh và bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu thông qua các giải pháp khoa học, công nghệ đang trở thành yêu cầu cấp thiết hiện nay.
Hội nghị Đoàn Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam lần thứ nhất (khóa IX)
Chiều 28/10, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức Hội nghị Đoàn Chủ tịch lần thứ nhất (khóa IX), nhiệm kỳ 2026 - 2031. Hội nghị tập trung thảo luận, đóng góp ý kiến vào các dự thảo văn bản nền tảng quan trọng, đánh giá kết quả hoạt động từ sau Đại hội IX, đồng thời đề ra nhiệm vụ trọng tâm đến cuối năm 2026.
Hội nghị BCH Đảng bộ Liên hiệp Hội Việt Nam tháng 10/2026: Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo triển khai các nhiệm vụ trọng tâm
Sáng 28/10, tại Hà Nội, Đảng ủy Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam) tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ nhằm đánh giá kết quả công tác tháng 10, xác định nhiệm vụ trọng tâm tháng 11/2026 và triển khai một số nội dung quan trọng liên quan đến công tác xây dựng Đảng.
GS.VS. Châu Văn Minh: Tăng cường kết nối khoa học, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân
Ngày 25/10/2026, tại Hà Nội, GS.VS. Châu Văn Minh, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam), đã tham dự và phát biểu tại Hội nghị khoa học “Cập nhật các tiến bộ mới trong quản lý bệnh tiêu hóa và gan mật”, kết hợp kỷ niệm 8 năm thành lập Viện Nghiên cứu và Đào tạo Tiêu hóa, Gan mật.
TECHFEST Việt Nam 2026 đưa sản phẩm công nghệ đến gần người dân
TECHFEST Việt Nam 2026 sẽ diễn ra tại Hà Nội từ ngày 13 đến 15/11, khu vực hồ Hoàn Kiếm và phố đi bộ là trung tâm với mô hình không gian mở, đưa các hoạt động trình diễn công nghệ, triển lãm sản phẩm khởi nghiệp và kết nối đầu tư đến gần hơn với người dân, doanh nghiệp, nhà đầu tư.
Liên hiệp Hội Thành phố Hồ Chí Minh và 7 giải pháp phát huy vai trò trí thức
Tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh là một hoạt động quan trọng nhằm phát huy trí tuệ, kinh nghiệm và trách nhiệm xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong quá trình hoạch định chính sách, quy hoạch và triển khai các chương trình, dự án phát triển.
Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.