Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ ba, 21/08/2007 00:36 (GMT+7)

Sinh hoạt ca hát dân gian của người Kinh ở Vạn Vĩ (Giang Bình, Đông Hưng,Quảng Tây, Trung Quốc)

Người Kinh ở Vạn Vĩ vốn là người Việt ở một số vùng biển trong nước di cư đến. Vào năm 1511 (thế kỉ 16, đời hậu Lê) một nhóm ngư dân ở Đồ Sơn (Hải Phòng) trong khi đi biển đã phát hiện ra hòn đảo nơi biên viễn này là một ngư trường tốt nên họ đã ở lại lập làng. Sau đó hòn đảo này trở thành nơi dừng chân của người Việt từ Thanh Hoá, Nghệ An, Hải Phòng, Quảng Ninh,...…

Hiện nay Vạn Vĩ thuộc địa giới hành chính của Trung Quốc, người Việt ở đây được gọi là Kinh tộc, một trong 55 dân tộc thiểu số của Trung Quốc nhưng về khoảng cách địa lí thì Vạn Vĩ rất gần gũi với Việt Nam (Vạn Vĩ chỉ cách cửa khẩu Móng Cái 25km đường bộ và còn tiếp giáp với Móng Cái bằng đường biển, đường sông), về văn hoá thì người Kinh ở đây cũng rất gần gũi với người Việt trong nước vì họ vẫn nói tiếng Việt và bảo lưu những đặc trưng văn hoá của làng Việt Nam. Tuy vậy qua gần 5 thế kỉ định cư xa cội nguồn, văn hoá của người Kinh ở Vạn Vĩ đã trải qua quá trình giao lưu và hội nhập, biến đổi và sáng tạo để làm nên một tổng thể văn hoá không hẳn là Việt nhưng cũng không là Hán rất đặc sắc. Tự nhận về bản sắc văn hoá dân tộc mình, người Kinh ở Vạn Vĩ chỉ ra 4 yếu tố nổi bật là: lời ca tiếng hát, đàn bầu, trang phục, hội đình. Tìm hiểu về lời ca tiếng hát, một trong 4 yếu tố mang bản sắc văn hoá Kinh tộc nổi bật đó chúng tôi mong muốn giới thiệu một sinh hoạt văn hoá tinh thần độc đáo, đồng thời chỉ ra quá trình bảo lưu cũng như biến đổi của sinh hoạt văn hoá này trong đời sống cộng đồng người Kinh ở Vạn Vĩ.

Trong bất cứ cuốn sách nào dù chỉ giới thiệu qua hay khảo sát chuyên sâu về văn hoá dân tộc Kinh Vạn Vĩ, các nhà nghiên cứu Trung Quốc cũng đều nhắc đến truyền thống yêu ca hát của họ. “Trong sinh hoạt, trong sản xuất người Kinh đều thích hát, đặc biệt thanh niên nam nữ, ra biển ra bè, bắt cá, cùng nhau hát múa đối đáp về sản xuất, lao động, sinh hoạt, điệu ca có đến 30 thứ âm giọng, nội dung phong phú: trường thiên tự sự ca, sản xuất lao động ca, tố khổ ca, tình ca, phong tục ca, tôn giáo ca, đố ca,...” (1). Cuốn Tuyển tập dân ca dân tộc Kinh(2)cũng đã phân loại, giới thiệu sơ lược về 13 loại dân ca của người Kinh ở Kinh Đảo: dẫn ca, hát đình, lễ tục ca, hôn lễ ca, nhẩm trà ca, thụ gia quy, đố ca, hải ca, nhi ca, khổ ca, tình ca, tự sự trường ca, tân ca. Kết quả nghiên cứu của các cuốn sách trên cũng giống với kết quả điều tra năm 2004 của chúng tôi về truyền thống ca hát của dân chúng ở đây. Theo chúng tôi có thể chia lời hát của người Kinh ở Vạn Vĩ theo 6 nội dung chính: Hát về đời sống lao động sản xuất, hát đối đáp nam nữ (tình ca), hát nghi lễ ở đình, hát đám cưới, hát kể chuyện, hát giáo huấn. Sự phân chia này là rất tương đối và có sự giao thoa nhất định với nhau, ví như trong hát đình cũng có hát kể truyện, giáo huấn, trong hát đám cưới cũng theo kiểu đối đáp và có một phần là những bài tình ca.…

 

- Hát về đời sống lao động sản xuất : Nội dung chủ yếu của những lời ca này là phản ánh công việc lao động vất vả của ngư dân trên biển, bãi, công việc làm thuê làm mướn khổ cực:

Cháu bà nay ốm mai đau

Mà bà đi giữ lồng trâu cho người

Giai tôi đi sứ đằng đông

Kiếm từng ngày một ngày không thấy về

Những bài ca ghi nhận đặc điểm vùng đất con người Kinh Đảo thường theo cả hai chiều hướng: phản ánh sự khắc nghiệt vất vả và ca ngợi cái hay, sự thuận lợi của chính vùng đất đó:

- Phúc Yên(3)vui lắm mình ơi

Có khe tắm mát có nơi đỗ tàu.

- Tốt gì cái đất Phúc Yên

Mưa thì hay lụt gió liền cát bay

- Hát đối đáp nam nữ : Đây là lối hát có số lượng nhiều nhất, có nội dung phong phú nhất và thời gian, địa điểm diễn xướng đa dạng nhất trong các loại hình ca hát của người Kinh ở Vạn Vĩ. Những lời hát đối đáp nam nữ vốn là những lời ca dao quen thuộc trong kho tàng ca dao Việt Nam nhưng sau này trong quá trình định cư ở vùng đất mới và trực tiếp trong các canh hát, người Kinh ở Vạn Vĩ đã sáng tác thêm nhiều những lời ca mới bổ sung vào vốn cũ làm cho nó ngày càng phong phú. Các cụ già kể lại ngày xưa các cụ có thể hát ở bất cứ đâu vào bất cứ lúc nào: trong nhà, ngoài đồng, ngoài biển, lúc nhàn rỗi, lúc đang đánh lưới hay đang cấy lúa, trồng khoai,... Nội dung các bài hát vô cùng phong phú trong đó nhiều nhất là những lời hát bày tỏ tình cảm nam - nữ, hát trêu chọc nhau, thử tài nhau, hỏi han nhau về hoàn cảnh gia đình,... Một cuộc hát chia ra thành các chặng: hát chào hỏi, hát chính, hát đố, hát giã biệt:

-          Nước lên cho chóng nước ơi

Đẩy thuyền vào bến cho tôi lên nhà

           Nước lên xấp xới cỏ gà

Biết mặt mà chẳng biết nhà ở đâu

           Nước lên xấp xới cỏ con

Biết mặt mà chẳng biết con ông nào

-          Nhà em ở phố An Lang

ở giáp quí xã ở làng Phúc Yên

           Nhà em cửa ván cài then

Chàng đi đến đó hỏi tên mà vào

           Trước nhà có một vườn đào

Xung quanh thì quế ngõ vào đằng nam...

-          Cô kia mặt đỏ má hồng

Cho xin một nắm sá sùng nấu riêu

-          Sá sùng nó chẳng kêu ai

Ngày ngày vác nẹng quẩy mai đi đào

- Hát nghi lễ ở đình : Chủ yếu hát vào dịp hội đình từ 9/6 - 15/6 âm lịch, ngoài ra còn hát vào các dịp lễ ở nghè, miếu và các dịp cúng lễ chung của cả dân làng. Loại hình hát này còn được gọi là hát nhà tơ, hát cửa đình. Vì có tục hát nghi lễ ở đình này mà đình Vạn Vĩ được gọi là kháp đình có nghĩa là đình hát. Nội dung hát đình bao gồm: Hát theo từng nghi thức cúng tế như dâng hương, giáo trống,...:

Lanh lảnh mà nghe

Nghe tôi giáo trống nghe tôi giáo đàn

Rùa đâu lân la bò lại dưới đơn kỳ

Ngóc cổ trông lên chầu hương án

Trống hôm nay khác, trống hôm qua khác

Trống hành văn, trống nghệ đàn

Trống cung phụng đức thánh thần

Hát chúc thần, ca ngợi công đức của thần thánh, cầu thần thánh phù hộ cho dân làng bình yên, được nhiều phúc, lộc:

Đế Đại vương người về giáng phúc trừ tai

Lại chúc Đức Đại vương về hộ cho cả làng

Già trẻ gái trai bình an thọ tường

Ai ai cũng được bình an thọ tường

Một chúc được chữ sống lâu

Chữ phú là giàu chữ quí là sang

Hai chúc chúc cả dân làng

Ai ai cũng được bình an thọ tường

Chúc cho đã phú lại giàu

Đã vinh lại hiển về sau vẹn tài

Hát giáo huấn, răn dạy:

Giồng cây đức lấy cây nhân

Giồng cây ăn quả luân tân để đời

Giồng cây ăn quả để đời

Giồng cây ăn quả nối đời về sau

Hát ca ngợi xóm làng và lòng thành kính của dân làng đối với các vị thần:

Trên giời có đám mây vàng

Hạ giới Vạn Vĩ cả làng có nhân

Một năm dự lễ một lần

Người xa cũng lại người gần đến chơi

Cùng nhau cầu khẩn một nhời

Âm phù dương hộ đời đời hiển vinh

Hát tình cảm:

Buồn thay tìm chị A Hằng

Ngày nào mượn gió cát đằng đưa duyên

Tìm duyên mà chẳng thấy duyên

Để anh luống chịu sầu riêng một mình

Vào dịp hội đình, một ngày thường xuyên có 2 canh hát trong đình, sáng từ khoảng 10h đến 12h, tối từ khoảng 8h tối cho đến tận đêm khuya, tan hát ở đình nhiều nhóm gia đình còn tập hợp nhau lại ở một nhà nào đó hát tiếp.

- Hát đám cưới : Tiếng hát bày tỏ tình cảm yêu thương gắn bó với trai gái Vạn Vĩ từ giai đoạn gặp gỡ, tìm hiểu và theo suốt đôi trai gái ấy trong các nghi lễ của đám cưới. Hôn nhân và tiếng hát đã gắn bó chặt chẽ với nhau từ trong tâm thức của người Kinh ở Vạn Vĩ. Hiện nay dân làng còn lưu truyền câu chuyện tình cảm động trong dân gian từ rất lâu đời về một đôi trai gái nghèo lại bị kì thị do thày bói xem tướng số cho rằng họ có tướng sát vợ và sát chồng, họ gặp nhau và hát đối đáp cùng nhau trên bãi biển, cuối cùng họ đã hợp thành một đôi hạnh phúc. Tiếng hát nên duyên đó của họ đã cảm động lòng người và từ đó trai gái trong làng yêu nhau thường dùng tiếng hát. Tiếng hát và những người hát giỏi rất được coi trọng trong hôn lễ, tiếng hát không chỉ làm vui cho hôn lễ mà nó đã trở thành nghi lễ bắt buộc: nhà trai nhà gái trao đổi với nhau, mời nhau bằng lời hát, cô dâu khóc chào cha mẹ cũng bằng tiếng hát, các nghi lễ như dạm hỏi, lễ gánh, đón dâu, chăng dây, đưa dâu, bái đường,... cũng diễn ra cùng tiếng hát. Ví như lời mời trầu và nhận trầu như thế này:

Nhà gái hát:

Giầu này giầu để trên cơi

Cái dây cái rễ ở nơi sau nhà

May chân gặp khách hạnh hoa

Giầu vườn em hái đem ra thết chàng...

Nhà trai hát:

Ơn người có khẩu giầu này

Trước thì có nghĩa sau rày có ơn

Ơn người bằng núi Thái Sơn

Nghìn năm ta chẳng có quên nghĩa nàng...

Nhà trai nhắc cô dâu đã đến giờ ra cửa:

Bước chân xuống lượng(4)em ơi

Về thì mặt mũi cho tươi đừng sầu

Bước chân xuống lượng mà đi

Ai ai cũng có một thì làm dâu

Lời hát trong nước mắt của cô dâu trước khi bước chân ra cửa về nhà chồng:

Giã ơn cơm sữa mẹ cha

Con như ong bướm theo hoa về cành

Công cha nghĩa mẹ sinh thành

Giã ơn cha mẹ một lần con đi...

- Hát kể truyện : là những bài hát kể lại các truyện nôm vốn rất phổ biến ở Vạn Vĩ và được dân làng yêu thích như: Tống Trân - Cúc Hoa, Phạm Tải Ngọc Hoa, Kiều, Hoàng Trừu, Lưu Bình Dương Lễ, Phan Trần, Nhị độ mai,...trong đó Tống Trân - Cúc Hoa là truyện Nôm được diễn xướng nhiều nhất và được yêu thích nhất. Nhiều người già ở Vạn Vĩ thuộc lòng các truyện thơ dài và có thể hát khoảng 3 - 5 giờ liền, nhiều khi một canh hát chỉ để nghe một người hát kể lại một truyện nôm nào đó.

- Hát giáo huấn: Là những bài ca dài kể về lịch sử làng, quá trình khai phá đảo Vạn Vĩ đầy khó khăn, vất vả của những ông tổ người Kinh. Tuy số lượng không nhiều nhưng những bài ca này là tư liệu quý để tìm hiểu về lịch sử, văn hoá và con người Kinh Đảo:

Ngồi buồn nghĩ lại đời xưa

Cha ông truyền lại là người Đồ Sơn

Từ đời Hồng Thuận tam niên

Cha ông lưu lạc Phúc Yên chốn này

Thơ lai chẳng biết đông tây

Tứ vi hải thuỷ giữa rày sơn lâm

ở lâu thăm hỏi dần dần

Mặt nam đại hải, đông gần Bạch Long

Tây thì giáp giới Trúc Sơn

Bắc thì Đầm Cát nước ròng đi qua (5)

Nội dung hát giáo huấn còn thể hiện ở những bài ca có tính chất truyền dạy những kinh nghiệm và răn dạy con người. Những bài ca này thường mang tính giáo dục cao, dạy cho con người ta cách sống, cách ứng xử hợp tình hợp lí trong gia đình cũng như ngoài xã hội. Những bài ca này thường được hát xen kẽ vào các nội dung khác trong các cuộc hát hoặc được hát trong phạm vi gia đình, dòng họ để dạy bảo con cháu. Các cụ già cho biết ngày xưa người già dạy con cháu toàn bằng lời ca như thế, từ nhỏ bọn trẻ đã thuộc lòng những bài ca này:

Chớ thấy sóng cả mà lo

Sóng cả mặc sóng cầm cho vững chèo

Chớ thấy sóng cả mà ngã tay cầm chèo

Sóng cả mặc sóng cầm neo cho bền

Với các hình thức và nội dung trên chứng tỏ đã tồn tại một sinh hoạt ca hát trong cộng đồng người Kinh ở Vạn Vĩ từ truyền thống cho đến hiện nay. Những bài ca ấy vốn là những lời ca dao quen thuộc trong kho tàng ca dao Việt Nam nhưng sau này trong quá trình định cư ở vùng đất mới và trực tiếp trong các cuộc hát, người Kinh nơi đây đã sáng tác thêm nhiều những lời ca mới bổ sung vào vốn cũ làm cho chúng ngày càng phong phú. Trực tiếp tham dự hoặc nghe lại các sinh hoạt ca hát ở Vạn Vĩ chúng tôi luôn cảm thấy phảng phất đây đó hình thức hát đúm nổi tiếng vùng Hải Phòng, hò hát đối đáp vùng Thanh Hoá, hát cưới vùng Quảng Ninh hay những canh hát quan họ Bắc Ninh dùng dằng thâu đêm. Nhưng cuối cùng thì vẫn tồn tại sống động trong thực tế một hình thức sinh hoạt ca hát của riêng người Kinh ở Vạn Vĩ với những lời ca câu hát gắn bó chặt chẽ với vùng đất và conngười nơi này. Điều đó chứng tỏ mối liên hệ không tách rời của Vạn Vĩ với cội nguồn dân tộc và sự sáng tạo không ngừng của người dân nơi đây trên vùng đất mới. Những lời ca này là sự bổ sung lí thú vào kho tàng ca dao người Việt, kho tàng chung của cả người Việt trong và ngoài nước.

Về mặt nghệ thuật, mặc dù vẫn chia xẻ những đặc điểm nghệ thuật chung với ca dao người Việt trong nước nhưng suốt quá trình định cư lâu dài nơi đất mới, cái hồn của vùng đất, con người và cuộc sống ở Vạn Vĩ đã thấm vào trong mỗi lời ca làm nên những đặc điểm riêng thú vị: lời ca dao mộc mạc, khoẻ khoắn, thuần phác đến mức nhiều lời chẳng cần đến cả vần điệu. Mặc dù vậy, thể thơ lục bát vẫn chiếm ưu thế trong những lời ca của người Kinh ở Vạn Vĩ, vô cùng hiếm hoi những lời theo thể thơ 7 chữ hoặc hỗn hợp. Đây cũng là thể thơ truyền thống của thơ ca dân gian dân tộc Kinh còn lưu giữ được khá nguyên vẹn ở đây. Khác với ca dao trong nước đa số có cấu trúc lời ca 2 - 4 dòng, những lời ca ở Vạn Vĩ đa số có độ dài từ 10 dòng trở lên, lời dài nhất đến 208 dòng, rất hiếm có lời 2- 4 dòng. Do những lời ca ở Vạn Vĩ hiện vẫn sống trong môi trường diễn xướng nên các lời ca thường dài theo lời hát, phải chăng ca dao truyền thống Việt Nam xưa kia cũng sống trong môi trường như thế và mỗi lời cũng dài như vậy nhưng hiện nay do đã tách hẳn khỏi môi trường nên các lời ca ấy đã bị đứt vụn ra thành những mảnh nhỏ là những lời 2-4 dòng và có đời sống độc lập?

Theo những người già ở Vạn Vĩ kể lại xưa kia cả làng, cứ từ khoảng 13, 14 tuổi trở lên đều biết hát và thích hát. Giọng hát được tiếp thu theokiểu chân truyền và qua các sinh hoạt cộng đồng. Tuy vậy số người có giọng tốt để đi hát thường xuyên và thi tài trong các cuộc hát không nhiều và họ được dân làng rất tôn trọng. Mỗi khi làng có việc hoặc các tư gia có đám những người hát giỏi được mời đến góp vui. Họ rất nhiệt tình và tự hào được mời hát, coi đó là cơ hội tốt để khoe giọng hát và cũng để luyện giọng.

Mặc dù bị chi phối bởi các lễ nghi trang trọng trong đám cưới, trong hội đình hay trong khuôn khổ của các cuộc hát nhưng hình thức hát, cách hát lại tương đối đơn giản, tự do và đa dạng: Người hát chính là những người hát giỏi đã được mời trước song những người tham dự vẫn có thể hát đối đáp xen vào ở hầu hết các nội dung hát (trừ hát chúc thần trước ban thờ trong ngày hội). Chính vì vậy tính sáng tạo ngẫu hứng vẫn liên tục nảy sinh. Người hát có thể đứng hoặc ngồi hát, sắp thành 2 hàng quay mặt về phía nhau hát hoặc vòng tròn nhau lại hát. Người hát không sử dụng bất cứ một loại nhạc cụ gì, cũng không dùng bất cứ hình thức gì hỗ trợ cho giọng hát của mình. Hình thức phổ biến nhất là người hát hát một mình, hết người này đến người khác, đối rồi đáp nhưng cũng vẫn có hình thức hai người cùng hát. Với những hình thức hát như thế này việc đánh giá giọng hát nào tốt, vang và bền khá dễ dàng.

Điều chúng tôi muốn nhấn mạnh là lời ca tiếng hát của người Kinh ở Vạn Vĩ sống trong môi trường của những sinh hoạt ca hát. Nếu như ở người Việt trong nước những lời ca như thế hiện phần lớn tồn tại cứng nhắc trong những cuốn sách sưu tập, thì ở Vạn Vĩ chúng vẫn đang sống trong đời sống văn hoá tinh thần, trong sinh hoạt ca hát của dân chúng mặc dù trong xã hội hiện đại hôm nay chúng không phải không có những biến đổi.

Trong khoảng 20 năm trở lại đây làng Vạn Vĩ đã không còn làm nông nghiệp nữa, những lời ca gắn với mùa vụ và các kinh nghiệm trồng cấy không còn. Công việc làm biển làm bãi bây giờ cũng khác xưa, bè mảng lớn, chạy máy, không còn cảnh chèo bè thủ công nữa, ít khai thác ven bờ hơn và cũng ít hình thức khai thác tập thể hơn, khiến cho những lời ca gắn với hoạt động này không còn được nhiều người nhớ. Hơn nữa hoạt động sản xuất ở Vạn Vĩ hiện nay đã mở rộng, đa dạng và sôi nổi theo hướng thị trường như du lịch, buôn bán, nên con người dường như không còn thời gian cho việc sáng tác, thực hành và thưởng thức những lời ca câu hát. Tuy vậy một phần những lời ca ấy vẫn nằm trong trí nhớ những người già, vào những dịp vui của làng hoặc của các gia đình họ vẫn tụ tập nhau lại hát mặc dù đó chỉ là một phần rất nhỏ những lời hát đã từng gắn bó với đời sống lao động sản xuất trước kia của họ.

Cùng với sự mai một của nội dung những bài hát về lao động sản xuất, là sự thiếu vắng những bài hát giáo huấn vốn đã từng gắn bó với sinh hoạt hàng ngày của các gia đình và cộng đồng Vạn Vĩ. Những người già hiện nay cũng không còn “nói ra thơ ca” như trước nữa, thanh niên thì cũng không ai còn muốn nghe những bài ca giáo huấn răn dạy rất dài dòng của các cụ nữa nên những lời ca này chỉ còn tồn tại rất ít bài xen kẽ trong các lời hát đối đáp hoặc hát nghi lễ.

Đám cưới của người Kinh ở Vạn Vĩ hiện nay là một trong những yếu tố văn hoá có sự biến đổi rõ rệt so với truyền thống, sự biến đổi ấy khiến cho những bài hát đám cưới không còn môi trường để tồn tại và phát triển, đặc biệt những bài ca vốn gắn bó chặt chẽ với các nghi lễ, ví như bài tình ca hát trong lễ tặng guốc, những bài ca hát trong lễ chăng dây, các bài ca kể công ơn bố mẹ của cô dâu trong lễ khóc chào,... đã “một đi không trở lại”, ngoài ra việc đưa dâu bằng xe hoa thay thế cho đi bộ, cưới ở nhà hàng thay cho ở nhà riêng, tiền thay cho các lễ vật, cũng đã làm mất đi môi trường cần thiết cho những lời hát cưới tồn tại. Nhưng điều may mắn là khá nhiều bài ca trong hát đám cưới có nội dung ca ngợi tình yêu và không nhất thiết gắn với nghi lễ nên hiện nay vẫn được hát trong các cuộc hát đối đáp của dân làng.

Do gắn bó không thể tách rời với hội đình vốn được mở hàng năm nên những bài hát nghi lễ ở đình còn được bảo lưu nguyên vẹn hơn cả. Tuy vậy theo các cụ già trong làng, thời gian hát, nội dung lời hát và sự linh thiêng của sinh hoạt hát đình hiện nay đã không còn được như trước kia, thời gian hát ngắn hơn, nội dung thì lặp lại nhiều trong các canh hát, dân cũng không còn ngồi chật kín đình xem hát như trước nữa, những người phụng sự canh hát (như đánh trống, chiêng, phách,...) cũng không thật chuyên tâm, các đào hát cũng không đào tạo được người mới,... Nhưng dù vậy thì cho đến hiện nay hát đình vẫn là sinh hoạt ca hát dân gian còn giữ được tương đối nguyên vẹn ở người Kinh Vạn Vĩ trong khi sinh hoạt này đã vắng bóng trong các hội đình của người Việt ở Việt Nam.

Hát kể chuyện Nôm là sinh hoạt phổ biến của người Kinh ở Vạn Vĩ xưa. Họ say mê hát kể Truyện Kiều, Tống Trân Cúc Hoa,... Các cụ già kể lại rằng trong hội đình Vạn Vĩ xưa, các cụ còn hát kể lại toàn bộ truyện Tống Trân Cúc Hoa. Hiện nay truyện Nôm này vẫn còn được khá nhiều cụ trong làng thuộc, đặc biệt có một số cụ có thể hát kể được hết truyện này trong khoảng 3 tiếng. Truyện Tống Trân Cúc Hoacùng những bài ca dài giống như những câu chuyện về lịch sử lập làng của tổ tiên, chuyện về vị thần Trấn Hải Đại Vương, vị anh hùng dân tộc Đỗ Quang Huy,... cũng vẫn được hát kể lại vào đầu hoặc cuối các cuộc hát đối đáp ở nhà văn hoá hay ở nhà riêng.

Cùng với hát đình, hát đối đáp nam nữ với nội dung trữ tình vẫn còn khá sống động ở Vạn Vĩ. Hiện nay hàng tuần vào các buổi sáng thứ bảy và chủ nhật, dân làng, phần lớn là những người già tụ tập nhau nhau tại Nhà văn hoá của làng để hát đối đáp, thông thường một buổi hát như vậy kéo dài từ 10h sáng đến 3h chiều. Ngoài ra vào các dịp hội đình, dịp Tết, hay những ngày vui của các gia đình dân làng cũng tụ tập nhau làm thành một cuộc hát. Tất cả những cuộc hát này thu hút không chỉ dân làng Vạn Vĩ mà còn có cả hai làng người Kinh gần đó là Sơn Tâm và Vu Đầu cùng khách du lịch cũng như các nhà nghiên cứu tham dự. Trình tự của một cuộc hát đối đáp xưa về cơ bản vẫn được duy trì: hát chào hỏi, hát chính, hát đố, hát giã biệt. Tuy nhiên do bài bản đã không còn nhiều nên các chặng hát không còn được phân biệt rõ ràng nữa, tính chất đối đáp cũng không thực hiện được triệt để, mặc dù hình thức hát vẫn duy trì là một nam hát rồi đến một nữ hát nhưng thường thì họ nhớ câu nào hát câu đó mà không phải là nội dung các câu đó bắt buộc đối đáp lại nhau. Sinh hoạt hát đối đáp nam nữ hiện nay là một sinh hoạt ca hát tổng hợp hầu hết 6 nội dung mà chúng tôi đã trình bày, chỉ trừ ra những lời nào gắn bó quá chặt chẽ với nghi lễ (như hát chúc Thần ở đình chẳng hạn), đây cũng là hình thức bảo tồn và phát huy hiệu quả hình thức sinh hoạt ca hát dân gian đặc sắc của người Kinh ở Vạn Vĩ.

Nhìn chung về hình thức hát, nội dung các bài hát cũng như đội ngũ những người biết hát và hát hay đều đã mai một đi khá nhiều song sinh hoạt ca hát dân gian của người Kinh ở Vạn Vĩ hiện nay vẫn được duy trì. Điều này thể hiện sức sống mãnh liệt của văn hoá truyền thống ở một cộng đồng người Việt định cư ở ngoài biên giới Việt Nam . Tuy vậy vào thời điểm năm 2004, tham dự trực tiếp vào các sinh hoạt ca hát dân gian đó ở Vạn Vĩ, chúng tôi cảm nhận thấy sự mong manh trong tương lai tồn tại của những sinh hoạt này. Hầu hết những người tham dự các sinh hoạt ca hát đều là người già từ 50 trở lên, không thấy lớp tuổi ít hơn học hát, sự tồn tại của các cuộc hát phụ thuộc khá nhiều vào sự tài trợ của các cá nhân và một số cơ quan văn hoá, nội dung các bài hát rất hiếm những bài bản mới được sáng tạo trong môi trường mới,... Làm thế nào để giữ gìn và phát triển được sinh hoạt ca hát dân gian vẫn đang là vấn đề trăn trở đối với người Kinh ở Vạn Vĩ và với tất cả chúng ta.


-----

Chú thích:

(1) Giản sử Kinh tộc,Tổ biên soạn lịch sử, Nxb. Dân tộc Quảng Tây, 1984, tr 44.

(2) Tuyển tập dân ca dân tộc Kinh,Tô Duy Quang, Vương Qua Đính, Qua Vĩ, Nxb. Dân tộc Quảng Tây, 1988.

(3) Phúc Yên là tên cũ của Vạn Vĩ.

(4) Lượng: nghạch cửa

(5) Xác định địa giới của Vạn Vĩ: phía nam giáp biển, phía đông giáp Bạch Long, phía tây giáp Trúc Sơn, phía bắc giáp Đầm Cát.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng nhận danh hiệu Giáo sư danh dự Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga
Sáng 30/4/2026, tại Trường Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga (MPEI), TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã vinh dự đón nhận danh hiệu Giáo sư danh dự của MPEI. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng là công dân đầu tiên của Việt Nam được trao tặng danh hiệu Giáo sư tại MPEI, đứng trong bảng danh dự cùng với các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới.
51 năm thống nhất đất nước: Khơi thông nguồn lực tri thức trong kỷ nguyên mới
Thông tấn xã Việt Nam giới thiệu bài phỏng vấn với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) về vai trò của lực lượng trí thức và những giải pháp đột phá để hiện thực hóa khát vọng hùng cường vào năm 2030 và 2045.
Phát huy vai trò nòng cốt của trí thức KH&CN tỉnh Cà Mau
Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Cà Mau lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031 tổ chức thành công thực sự đã mở ra một không gian mới để hội tụ sức mạnh, tâm huyết và trí tuệ của đội ngũ trí thức tỉnh nhà, định hình con đường kiến tạo và phát triển trong kỷ nguyên mới của đất nước.
Công bố Quyết định bổ nhiệm Giám đốc, Tổng biên tập Nhà xuất bản Tri thức
Ngày 28/4, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức Hội nghị Công bố quyết định về công tác cán bộ. Tại hội nghị, TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã trao Quyết định bổ nhiệm bà Bùi Thị Thu Hằng, Phó Giám đốc phụ trách, Phó Tổng biên tập NXB Tri thức giữ chức vụ Giám đốc, Tổng biên tập NXB Tri thức.
Đảng bộ Liên hiệp Hội Việt Nam tổ chức Hội nghị Ban Thường vụ - Ban Chấp hành tháng 4/2026
Ngày 28/4, tại Hà Nội, Đảng bộ Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (LHHVN) tổ chức Hội nghị Ban Thường vụ - Ban Chấp hành nhằm đánh giá kết quả công tác, đồng thời triển khai các nhiệm vụ trọng tâm, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong công tác xây dựng Đảng và chuẩn bị cho Đại hội LHHVN nhiệm kỳ mới.
Nâng tầm sức mạnh văn hóa vùng Đất Tổ - Động lực quan trọng cho phát triển bền vững
Phát triển văn hóa và con người là nền tảng tinh thần, nguồn lực nội sinh, động lực cho phát triển nhanh bền vững. Quan điểm đó tiếp tục được khẳng định mạnh mẽ trong Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị. Nghị quyết nhấn mạnh văn hóa phải thấm sâu vào đời sống xã hội, gắn kết hài hòa với chính trị, kinh tế, môi trường, quốc phòng, an ninh, đối ngoại; thực sự trở thành sức mạnh mềm của quốc gia.
Chủ tịch Phan Xuân Dũng dự Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cà Mau lần thứ I
Ngày 23/4, Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cà Mau lần thứ I, nhiệm kỳ 2026-2031 đã thành công tốt đẹp. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng chúc mừng, đánh giá cao những nỗ lực rất lớn của Liên hiệp Hội tỉnh, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu đẩy mạnh TVPB, ĐMST&CĐS, lan tỏa tri thức KH&CN, phục vụ trực tiếp đời sống người dân địa phương.