Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ tư, 13/08/2025 14:34 (GMT+7)

Mô hình giải pháp hữu ích với người dân làm muối

Chung khảo Cuộc thi Sáng tạo TTN-NĐ tỉnh Đắk Lắk lần thứ 13 (tỉnh Phú Yên cũ lần thứ 10) năm 2024-2025, tổ chức ngày 07/8/ 2025 tại P. Tuy Hòa, tỉnh Đắk Lắk (mới).

Mô hình giải pháp: “Hệ thống tự động dẫn nước biển vào ruộng muối kết hợp cảm biến giúp nâng cao chất  lượng sản phẩm – Smart Salt Field System (SSFS)”  của 2 học sinh  Trần Lê Tuấn Khôi  (lớp 10 A1) và  Trần Quang Huy  (lớp 10 A5) trường THPT Phan Đình Phùng, TX Sông Cầu tỉnh Phú Yên (cũ), nay là P. Sông Cầu tỉnh Đắk Lắk (mới) được Hội đồng BGK đánh giá cao.

Với mục đích ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào nghề làm muối truyền thống các vùng ven biển Phú Yên (cũ) - Một nghề có từ lâu đời nhưng vẫn còn nhiều khâu thủ công, gây tốn nhiều công sức, đặc biệt là ở cánh đồng muối Tuyết Diêm, ở xã Xuân Cảnh, tỉnh Đắk Lắk (mới) và cánh đồng muối Xuân Phương ở P. Sông Cầu tỉnh Đắk Lắk (mới).

Hướng đến người dân làm muối

Đại diện nhóm tác giả mô hình, học sinh Trần Lê Tuấn Khôi, chia sẻ “Quá trình lấy nước biển vào ruộng muối hiện nay chủ yếu bằng thủ công, tốn kém thời gian và công sức, ảnh hưởng đến sức khỏe người lao động, đặc biệt là vào ban đêm…”; “ Đã có một số giải pháp công nghệ để hỗ trợ hộ dân làm muối (diêm dân). Tuy nhiên, những giải pháp này vẫn còn nhiều nhược điểm: Chi phí đầu tư cao, cấu hình phức tạp, khó lắp đặt, thiếu sự tích hợp giữa đo độ mặn, cảm biến mực nước và nguồn điện không ổn định. Đặc biệt đối với diêm dân kiến thức kỹ thuật còn yếu, nhận thấy những bất cập đó, nhóm chúng tôi sáng tạo mô hình này nhằm đưa ra giải pháp công nghệ ứng dụng cảm biến vào hệ thống điều khiển tự động dẫn nước biển vào ruộng muối…để giúp Diêm dân” học sinh Trần Lê Tuấn Khôi, chia sẻ thêm.

Còn học sinh Trần Quang Huy, thuyết minh về ý nghĩa khoa học với BGK về mô hình giải pháp: “Hệ thống giúp hình thành một phương pháp quản lý nước mặn trong sản xuất muối theo hướng khoa học và có kiểm soát. Thay vì phụ thuộc vào kinh nghiệm cá nhân, người dân có thể dựa vào các chỉ số đo lường cụ thể, rõ ràng để quyết định khi nào cần lấy nước vào ruộng muối, giúp đảm bảo quy trình kết tinh diễn ra đúng kỹ thuật, ổn định chất lượng thành phẩm…” ; “Việc tích hợp giữa cảm biến hồng ngoại, tỉ trọng kế đo độ mặn và hệ thống điều khiển tự động thông qua phần mềm đã hình thành một mô hình ứng dụng mang tính thực tiễn cao, được xây dựng trên nền tảng cơ sở khoa học rõ ràng. Đặc biệt, mô hình này có khả năng triển khai và áp dụng ngay vào hoạt động sản xuất tại địa phương, góp phần nâng cao hiệu quả và hiện đại hóa quy trình sản xuất muối.” học sinh Trần Quang Huy thuyết minh thêm.

tm-img-alt

Học sinh Trần Lê Tuấn Khôi và Trần Quang Huy tại Chung khảo Cuộc thi tỉnh Đắk Lắk lần thứ 13 (tỉnh Phú Yên cũ lần thứ 10) năm 2024-2025

Thầy giáo Bùi Anh Tuấn, trường THPT Phan Đình Phùng ở P. Sông Cầu tỉnh Đắk Lắk (mới), là giáo viên hướng dẫn, cho biết: “Với những ưu điểm vượt trội về tính chính xác, tiện ích và chi phí thì Hệ thống tự động dẫn nước biển vào ruộng muối kết hợp cảm biến giúp nâng cao chất lượng sản phẩm – SSFS hứa hẹn sẽ hỗ trợ diêm dân nâng cao hiệu quả lao động, giảm gánh nặng công việc và phát triển ngành làm muối theo hướng hiện đại và bền vững”.

Tính mới của mô hình giải pháp

Qua thuyết minh của nhóm tác giả (Trần Lê Tuấn Khôi và Trần Quang Huy) được biết mô hình giải pháp không chỉ giải quyết bài toán thực tiễn mà còn mở ra hướng đi mới cho nghề làm muối – từ lao động thủ công sang mô hình sản xuất thông minh, tiết kiệm, thân thiện với môi trường và ứng dụng được trên diện rộng.Vì hệ thống sử dụng cảm biến vật cản hồng ngoại phối hợp với tỉ trọng kế – một công cụ đo độ mặn truyền thống nhưng hiệu quả. Sự kết hợp này tạo ra một giải pháp vừa chính xác, vừa tiết kiệm chi phí so với các thiết bị điện tử chuyên dụng.Việc này giúp người dân không cần phải theo dõi trực tiếp và thao tác thủ công, đặc biệt hữu ích vào ban đêm hoặc trong điều kiện thời tiết không thuận lợi (Có màn hình LED hiển thị dung lượng pin, dễ dàng theo dõi bắt đầu bơm hoặc đã bơm xong).

Ngoài ra các linh kiện của hệ thống có kích thước nhỏ, dễ lắp ráp và thay thế. Người dân có thể dễ dàng sử dụng mà không cần kiến thức kỹ thuật chuyên sâu. Chi phí hệ thống chỉ bằng khoảng 1/15 đến 1/20 số tiền so với các thiết bị đo độ mặn điện tử bán hiện nay, nhưng vẫn đảm bảo độ chính xác và chức năng tương đương. Điều này không chỉ mang lại lợi ích kinh tế trực tiếp mà còn góp phần ổn định nghề làm muối, tránh tình trạng bỏ nghề hoặc chuyển đổi nghề do năng suất thấp.

Về nguyên lý hoạt động của mô hình dự án, nhóm tác giả cho biết: Hoạt động dựa trên sự phối hợp giữa các cảm biến (độ mặn, mực nước, dòng điện), thiết bị cơ điện (bơm nước) và bộ điều khiển vi xử lý (Arduino Uno), cho phép quá trình dẫn nước biển vào ruộng muối diễn ra hoàn toàn tự động, theo các điều kiện kỹ thuật đã cài đặt sẵn. Nguyên lý hoạt động của hệ thống có 5 giai đoạn. Giai đoạn 1: Xác định độ mặn nước biển. Giai đoạn 2: Kích hoạt hệ thống bơm nước. Giai đoạn 3: Giám sát mực nước trong ruộng muối. Giai đoạn 4: Giám sát và cảnh báo qua phần mềm. Giai đoạn 5: Quản lý năng lượng thông minh. Toàn bộ 5 giai đoạn hoạt động với mục đích là giúp giảm sức lao động, nâng cao độ chính xác và kiểm soát quá trình lấy nước hiệu quả hơn, góp phần hiện đại hóa nghề làm muối.

tm-img-alt

TS. Võ Anh Khuê (bên trái) thành viên Hội đồng giám khảo, đánh giá mô hình giải pháp của 2 học sinh Trần Lê Tuấn Khôi và Trần Quang Huy

TS. Võ Anh Khuê (Trường Cao đẳng Công Thương Miền Trung) thành viên Hội đồng giám khảo, đánh giá: “Hệ thống tự động dẫn nước biển vào ruộng muối kết hợp cảm biến giúp nâng cao chất lượng sản phẩm - SSFS là một giải pháp trợ giúp cho các hoạt động lấy nước làm muối diễn ra một cách tự động, hiệu quả, bền vững, thân thiện với môi trường. Mô hình giải pháp này hoàn toàn có thể áp dụng trên diện rộng, đặc biệt là ở những vùng chuyên làm muối Tuyết Diêm, ở xã Xuân Cảnh, tỉnh Đắk Lắk (mới) và cánh đồng muối Xuân Phương ở P. Sông Cầu tỉnh Đắk Lắk (mới)”; “ Mô hình giải pháp này này không chỉ mang lại giá trị thực tiễn cho diêm dân mà còn góp phần quan trọng trong việc hiện đại hóa ngành làm muối, bảo tồn và phát triển nghề truyền thống, đồng thời mở ra hướng đi mới cho việc ứng dụng công nghệ vào sản xuất nông nghiệp” TS. Võ Anh Khuê đánh giá thêm./.

Xem Thêm

Mô hình địa đạo Củ Chi – Một sáng tạo sinh động và hữu ích
Hướng tới kỷ niệm 50 năm Ngày giải phóng Miền Nam thống nhất đất nước (30/4/1975- 30/4/2025), bắt nguồn từ mong muốn được góp phần khơi dậy lòng yêu nước, lòng tự hào về truyền thống anh hùng của dân tộc; đặc biệt, để kiến thức lịch sử được sinh động hóa, một nhóm các em học sinh PTCS Cầu Giấy, Hà Nội đã thiết kế “Mô hình địa đạo Củ Chi”.
Giải pháp nào thúc đẩy chuyển đổi số trong giáo dục hiệu quả!?
Diễn Đàn Công Nghệ Và Chuyển Đổi số Giáo dục (EDTECH VIETNAM) do Viện Sáng tạo và Chuyển đổi số (Liên hiệp Hội Việt Nam); Hội tự động hóa Việt Nam; Viện Công ghệ thông tin (Đại học Quốc gia Hà Nội); các tổ chức quốc tế phối hơp tổ chức trong năm qua với các chuỗi hoạt động như hội thảo, triển lãm, tọa đàm đã gặt hái được nhiều kết quả đáng ghi nhận.

Tin mới

Thanh Hoá: Kinh tế tuần hoàn, tín chỉ Carbon và mô hình sản xuất không phát thải
Ngày 30/9/2026, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Thanh Hóa (Liên hiệp hội) phối hợp với Sở Khoa học và Công nghệ, Trường Đại học Hồng Đức và Viện Nông nghiệp Thanh Hóa tổ chức Diễn đàn khoa học với chủ đề “Kinh tế tuần hoàn và tín chỉ Carbon - Phương pháp xây dựng mô hình sản xuất không phát thải tại Thanh Hóa”.
Đắk Lắk: Phát huy nguồn lực trí thức, xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo tỉnh
Trong giai đoạn 2026-2030, xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo (ĐMST) là yêu cầu quan trọng để Đắk Lắk khai thác tốt hơn tiềm năng, lợi thế và các nguồn lực cho phát triển. Cùng với KHCN và CĐS, ĐMST cần được nhìn nhận không chỉ là hoạt động của các viện, trường hay doanh nghiệp công nghệ, mà là một phương thức tổ chức nguồn lực để giải quyết những bài toán phát triển cụ thể của địa phương.
Phú Thọ: Tập huấn, truyền thông thúc đẩy giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật tại xã Lạc Sơn
Ngày 25/9/2026, tại xã Lạc Sơn, tỉnh Phú Thọ, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Phú Thọ phối hợp với Viện Tài chính vi mô và Phát triển cộng đồng (MACDI) cùng các cơ quan, đơn vị liên quan tổ chức chương trình tập huấn, truyền thông thúc đẩy giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật.
Đại hội Hội Khoa học lịch sử Việt Nam lần thứ VIII: GS.TS Nguyễn Văn Kim được bầu làm Chủ tịch
Ngày 30/9/2026, tại Hà Nội, Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam tổ chức Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, nhiệm kỳ 2026-2031. Đại hội là dấu mốc quan trọng mở ra chặng đường phát triển mới của Hội; GS.TS Nguyễn Văn Kim được tín nhiệm bầu giữ chức Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam nhiệm kỳ 2026-2031.
Thế hệ trẻ và bản lĩnh chính trị trên không gian số: Chủ động đối thoại, phản biện và “phủ xanh” thông tin tích cực
Trong kỷ nguyên số, không gian mạng tác động sâu sắc đến nhận thức, tư tưởng của xã hội, đặc biệt là thế hệ trẻ. Trước tin giả, thông tin xấu độc và các luận điệu sai trái, thù địch, tuổi trẻ Việt Nam thông qua các diễn đàn chính luận đã khẳng định bản lĩnh chính trị vững vàng, chủ động đối thoại, phản biện các luận điệu sai trái và góp phần “phủ xanh” không gian mạng bằng những giá trị tích cực.
Phản biện để hoàn thiện, không phải để phủ định
Hoạt động tư vấn, phản biện (TVPB) của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã trở thành một phương thức quan trọng để tập hợp trí tuệ đội ngũ trí thức, cung cấp luận cứ khoa học tin cậy cho Đảng, Nhà nước. Để hiểu rõ hơn về sự phát triển, phương pháp tổ chức và những bài học thực tiễn từ hoạt động này, phóng viên đã có cuộc trao đổi với ThS Bùi Kim Tuyến, Trưởng ban TVPB, VUSTA
Liên hiệp Hội Việt Nam hợp tác với doanh nghiệp công nghệ, hiện thực hóa các mục tiêu chuyển đổi số
Ngày 28/9, tại Hà Nội, Lãnh đạo Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã có buổi trao đổi, làm việc với Công ty CP Tập đoàn Truyền thông StarWorld (Starworld Group) về các giải pháp chuyển đổi số, hướng tới xây dựng nền tảng công nghệ khoa học phục vụ chiến lược phát triển của VUSTA trong giai đoạn 2026 - 2031.
Phó Chủ tịch Trương Xuân Lam: Đưa khoa học, công nghệ vào giải quyết những bài toán thực tiễn ngành hàng không
Ngày 26/9, tại Hà Nội, Hội Khoa học và Công nghệ Hàng không Việt Nam tổ chức Đại hội đại biểu lần thứ VII, nhiệm kỳ 2026-2031. Phát biểu tại Đại hội, GS.TS Trương Xuân Lam, Phó Chủ tịch LHHVN nhấn mạnh yêu cầu Hội tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, tập hợp và phát huy đội ngũ trí thức, đưa KHCN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vào giải quyết những vấn đề của ngành hàng không.
Ngày hội Đổi mới sáng tạo quốc gia 2026: Kết nối nguồn lực, thúc đẩy công nghệ
Theo Nghị định số 268/2025/NĐ-CP ngày 14/10/2025 của Chính phủ, ngày 1/10 hằng năm là Ngày hội Đổi mới sáng tạo quốc gia (INNOVATION DAY) do Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì. Quy định này nhằm tạo một dấu mốc thường niên để lan tỏa tinh thần đổi mới sáng tạo trong xã hội, đồng thời thúc đẩy ứng dụng, phát triển và thương mại hóa công nghệ.
Liên hiệp Hội Việt Nam tổ chức chương trình làm việc, khảo sát thực tế tại Trung tâm Đa dạng Sinh học Mê Linh
Ngày 25/9, Cơ quan Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã tổ chức chương trình thăm, làm việc và khảo sát thực tế tại Trung tâm Đa dạng Sinh học Mê Linh (thuộc Viện Sinh học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam). Chương trình diễn ra với chủ đề “Trí thức khoa học và công nghệ với bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển bền vững”.
Hội Tự động hóa Việt Nam và Đại học Công nghệ Quế Lâm hợp tác tạo cơ hội phát triển công nghệ và chuyển đổi số
Hội Tự động hóa Việt Nam (VAA) và Đại học Công nghệ Quế Lâm (Trung Quốc) ký biên bản ghi nhớ, hướng tới xây dựng phòng thí nghiệm trọng điểm chung về ứng dụng công nghệ và chuyển đổi số, đồng thời đưa kết quả nghiên cứu vào thử nghiệm, chuyển giao và ứng
Tuyên bố chung về quan hệ Đối tác Chiến lược giữa Việt Nam và Canada
Chuyến thăm cấp Nhà nước tới Canada của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm thể hiện cam kết mạnh mẽ của lãnh đạo hai nước trong việc đưa quan hệ song phương bước vào kỷ nguyên mới hợp tác sâu rộng, thực chất và bền vững hơn. Trân trọng giới thiệu toàn văn Tuyên bố chung về quan hệ Đối tác Chiến lược giữa Việt Nam và Canada: