Sản xuất sạch hơn và khả năng áp dụng trong các hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản ở Việt Nam
1. Vài nét về sản xuất sạch hơn
Sản xuất sạch hơn (SXSH) là một trong những nỗ lực nhằm kết hợp hài hoà lợi ích kinh tế với việc bảo vệ môi trường của các ngành công nghiệp. SXSH bảo đảm cho doanh nghiệp vừa đạt lợi ích về hiệu quả kinh tế, nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm vừa đạt lợi ích về môi truờng thông qua việc liên tục và chủ động thực hiện những biện pháp cần thiết phòng ngừa ô nhiễm trong suốt quá trình sản xuất hàng hoá và dịch vụ. Ngày nay, SXSH được nhận thức là một sự cần thiết của thời đại, là cách tiếp cận mới, cách suy nghĩ mới sao cho việc thực hiện các quá trình sản xuất ngày càng có hiệu quả hơn, ít rủi ro và ít ô nhiễm hơn. SXSH được nhận thức là cách tiếp cận mới trong chiến lược quản lý môi trường có hiệu quả, đã và đang được áp dụng ở nhiều nước.
Các tổ chức quốc tế như chương trình môi trường của Liên Hợp Quốc (UNEP), tổ chức phát triển công nghiệp của Liên Hiệp Quốc (UNIDO), tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD), Tổ chức Hợp tác kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương, Hội đồng Thương mại thế giới về phát triển bền vững… đã thừa nhận vai trò của SXSH và hỗ trợ việc áp dụng rộng rãi SXSH (1). Thuật ngữ SXSH được UNEP đưa ra năm 1989 nhằm làm căn cứ để giải quyết những vấn đề làm thế nào để sản xuất ở trạng thái bền vững và được định nghĩa như sau: “SXSH là sự áp dụng liên tục một chiến lược phòng ngừa tổng hợp về môi trường đối với các quá trình sản xuất, sản phẩm và dịch vụ nhằm tăng hiệu suất và giảm rủi ro đối với con người và môi trường”. Mục tiêu của SXSH là sự phát triển bền vững các quá trình sản xuất, các chu trình tồn tại của sản phẩm, các hướng tiêu dùng của xã hội.
Hiện nay người ta còn sử dụng các thuật ngữ khác nhau để nói về SXSH (2) như: “Hiệu suất sinh thái” (Hội đồng Thương mại Thế giới về Phát triển bền vững sử dụng từ năm 1993); “Phòng ngừa ô nhiễm” (được sử dụng chủ yếu ở Canada và Mỹ dựa trên Luật phòng ngừa ô nhiễm được Quốc hội và Cơ quan Bảo vệ Môi trường ((EPA) Mỹ thông qua năm 1990); “Năng suất xanh” (sử dụng ở Nhật Bản); “Bảo vệ môi trường tổng hợp” (ở Đức).
Tất cả các thuật ngữ hoặc chiến lược nêu trên đều bao hàm 3 yếu tố kỹ thuật cơ bản là tăng hiệu suất sử dụng nguyên liệu để sản xuất được nhiều sản phẩm hơn, sinh ra ít chất thải và chất ô nhiễm, giảm độ độc của các nguyên liệu được sử dụng và thiết kế lại sản phẩm để giảm tác động môi trường trong suốt vòng đời sản phẩm (3). SXSH là một tiếp cận mới có tính chất sáng tạo và là quá trình áp dụng liên tục các chiến lược, hoạt động thực tiễn và công nghệ nhằm làm giảm chất thải. SXSH yêu cầu thay đổi thái độ, từng bước cải thiện công nghệ hiện có và đầu tư cho các công nghệ sạch hơn.
Việc thực hiện SXSH cần theo thứ tự ưu tiên nhất định. Trình tự đó được quyết định từ khi bắt đầu thiết kế, vận hành hệ thống quản lý ô nhiễm (4): Phòng ngừa phát sinh chất thải; Tuần hoàn; Xử lý; Thải bỏ hoàn toàn.
Chỉ khi các kỹ thuật phòng ngừa đã được áp dụng triệt để thì mới sử dụng đến các phương án tuần hoàn. Chỉ khi chất thải đã được tuần hoàn đến mức tối đa thì mới xem xét đến việc xử lý phần còn lại. Thực hiện tuần hoàn ngoài dây chuyền sản xuất và các công nghệ xử lý cuối đường ống trước khi áp dụng triệt để tiếp cận phòng ngừa không phải là SXSH. Cốt lõi của vấn đề SXSH là phòng ngừa, nó đối lập với các giải pháp cuối đường sống để làm sạch hay giải quyết các vấn đề về môi trường.
Nội dung của SXSH bao gồm 8 hành động và giải pháp lớn. Trong đó các nội dung như “quản lý tốt nội vi”, “kiểm soát quá trình sản xuất”, “thay đổi công nghệ thiết bị”, “sử dụng tổng hợp tài nguyên” là nội dung cần được nghiên cứu áp dụng ưu tiên trong ngành khai thác và chế biến khoáng sản.
Lợi ích kinh tế cùng với cải thiện môi trường chính là mục đích của sản xuất sạch hơn (4). SXSH không chỉ có tác dụng tốt đối với môi trường bởi làm giảm được các ô nhiễm công nghiệp SXSH còn tạo ra các lợi ích trực tiếp đối với các công ty theo đuổi tiếp cận này.
SXSH có nghĩa là tiết kiệm kinh tế nhờ giảm tiêu thụ nguyên liệu thô, năng lượng và giảm các chi phí xử lý cũng như những lợi ích khác như hình ảnh về công ty tốt hơn và điều kiện làm việc của công nhân tốt hơn. Thực hiện SXSH trên thực tế có thể không giải quyết được tất cả các vấn đề về môi trường của nhà máy, nhưng sẽ làm giảm nhu cầu về các thiết bị xử lý cuối đường ống và lượng chất thải độc hại cần xử lý và thải bỏ sẽ ít đi (2, 4). Thông thường SXSH sẽ hạn chế việc công nhân phải tiếp xúc với hoá chất độc hại, và thường làm giảm những sự cố có thể làm phương hại đến các vùng lân cận. Các sản phẩm được thiết kế và sản xuất tiếp theo SXSH sẽ gây ra ít tác hại hơn cho người tiêu dùng khi sử dụng và những phụ phẩm của chúng cũng làm giảm tải lượng cho dòng thải.
Cũng theo (2) thì có tới hơn một nửa các giải pháp SXSH có thời gian hoàn vốn trong vòng một năm và hơn 90% các hoạt động SXSH đã hoàn lại vốn đầu tư ban đầu trong vòng hai năm. Có gần một nửa các hoạt động SXSH đã loại bỏ được chất thải và có hơn 90% các hoạt động SXSH đã góp phần nâng cao sản lượng hoặc giảm nhu cầu về nhân lực mà điều này rất có ý nghĩa đối với một số hoạt động đòi hỏi phải có công nhân lành nghề và chi phí nhân công cao.
2. Ứng dụng SXSH ở Việt Nam và thế giới
Tại Việt Nam, gần đây khái niệm SXSH đã được đề cập đến ở một số diễn đàn và một số công bố, nhưng sự hiểu biết về SXSH cũng còn rất khác nhau và đôi khi chưa đầy đủ (5). Tuy nhiên, các hoạt động về SXSH cũng đã được khởi sắc và tiến hành tương đối khẩn trương. Chỉ trong một thời gian ngắn chúng ta đã thu được những kết quả ban đầu tương đối tốt, như: một trung tâm về SXSH đã được thành lập năm 1998 với sự giúp đỡ của nước ngoài để xúc tiến một số công việc khởi đầu về SXSH ở Việt Nam, đồng thời làm công tác tư vấn, trợ giúp cho các nhà sản xuất áp dụng SXSH (5).
Một kế hoạch hành động quốc gia về SXSH đã được Bộ KHCN & MT xây dựng, trong đó đã đề xuất một số chương trình tổng thể nhằm thúc đẩy các doanh nghiệp áp dụng SXSH (6). NGày 22 - 9 - 1999 Chính phủ Việt Nam đã ký “Tuyên ngôn quốc tế về SXSH” để khẳng định cam kết trong việc thực hiện chiến lược SXSH theo tinh thần của UNEP. Các tiếp cận về SXSH đã được triển khai ở mức thăm dò và nghiên cứu trình diễn. Kết quả của các dự án trình diễn này đã chỉ ra nhiều cơ hội giảm chất thải, đặc biệt là mức độ tiêu thụ nguyên vật liệu, hoá chất, nước cấp, nhiên liệu, năng lượng tính trên một đơn vị sản phẩm quá lớn cũng như quản lý nội vi trong các cơ sở sản xuất còn kém là ngyên nhân gây ra tải lượng chất thải cao. Kết quả cũng chỉ ra các cơ hội tiết kiệm nguyên vật liệu, tận thu và tái sử dụng chất thải cũng như các cơ hội tiết kiệm năng lượng trong sản xuất (4, 7, 8, 9). Tuy nhiên, cho đến nay, các nghiên cứu trình diễn này mới chỉ tập trung vào một số ngành công nghiệp nhẹ (7). Từ các kết quả nghiên cứu này cho thấy thông qua kiểm toán đánh giá SXSH, các doanh nghiệp tự đánh giá hiệu quả sử dụng nguyên liệu, nhiên liệu, nước, hoá chất trong quá trình sản xuất, đồng thời giảm được một lượng đáng kể các loại chất thải cần phải xử lý ngay tại nguồn phát sinh ra chúng.
Tiềm năng SXSH ở Việt Nam là rất lớn. Một số ngành công nghiệp có thể tiết kiệm được 40 - 70% mức tiêu thụ nước 20% - 50% mức tiêu thụ điện, giảm 50% - 100% các chất thải độc hại, giảm 30% - 75% tải lượng COD trong nước thải; giảm 50% - 75% tải lượng BOD trong nước thải; giảm 40% - 60% tổng chất rắn lơ lửng trong nước thải, giảm 20% - 50% các kim loại nặng trong nước thải (4). Trên thế giới, SXSH ngày càng được áp dụng rộng rãi, nhất là ở các nước công nghiệp phát triển như Mỹ, Canada, Australia, Thuỵ Điển, Đan Mạch… từ những năm 1985 - 1990. Một số nước Đông Âu như Ba Lan, CH Séc, Hungari… và Châu Á như Ấn Độ, Singapo, Thái Lan, Trung Quốc… cũng đã bắt đầu áp dụng SXSH từ khoảng năm 1993 trở lại đây và đã thu được các kết quả rõ rệt.
SXSH trong ngành khai thác và chế biến khoáng sản đã được áp dụng ở Australia - một nước có nền công nghiệp khai thác mỏ vào tầm cỡ lớn nhất thế giới, điển hình như ở Công ty than Oceanic; mỏ vàng Osborne; mỏ than Mount Isa…
3. Ứng dụng SXSH trong các hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản kim loại ở Việt Nam
Cho đến nay, ở Việt Nam , trong ngành khai thác và chế biến khoáng sản kim loại nói riêng tiếp cận SXSH vẫn còn rất mới mẻ và chưa được nghiên cứu ứng dụng. Đề tài “Nghiên cứu cơ hội SXSH trong hoạt động khai thác chế biến khoáng sản kim loại ở Việt Nam” là một trong những hoạt động đầu tiên về SXSH trong lĩnh vực khai thác và chế biến khoáng sản kim loại của Bộ Công nghiệp nằm trong chương trình hành động quốc gia về SXSH đã được Bộ KHCN & MT xây dựng cũng như cam kết của Chính phủ Việt Nam trong việc thực hiện chiến lược SXSH theo tinh thần của UNEP mà Việt Nam đã tham gia ký kết trong “Tuyên ngôn quốc tế về SXSH”.
Mục tiêu của đề tài là xác định các cơ hội SXSH ở một số mỏ khai thác và chế biến khoáng sản kim loại điển hình và giới thiệu về cơ sở lý thuyết, nội dung, lợi ích của SXSH; phương pháp luận kiểm toán đánh giá SXSH cũng như các ví dụ minh hoạ về áp dụng tiếp cận SXSH trong ngành khai thác về chế biến khoáng sản ở các nước có nền công nghiệp khai thác mỏ phát triển với hy vọng sẽ cung cấp được một số thông tin cần thiết ban đầu cho các cơ sở hoạt động trong ngành quan tâm vào lĩnh vực khai thác và chế biến khoáng sản ở Việt Nam, tạo tiền đề cho các bước tiếp theo trong việc thực hiện chiến lươc SXSH trong ngành khai thác và chế biến khoáng sản.
Việc nghiên cứu cơ hội SXSH được tiến hành trong 4 đơn vị khai thác và chế biến khoáng sản kim loại là: Công ty Kim loại màu Nghệ Tĩnh, Công ty Phát triển khoáng sản 4, Công ty Đá quý và vàng Yên Bái và Mỏ sắt Trại Cau. Thông qua việc thực hiện, đề tài nghiên cứu này đã xây dựng được 27 cơ hội SXSH, trong đó:
- 8 cơ hội SXSH thuộc lĩnh vực quản lý tốt nội vi trong các lĩnh vực:
+ Đào tạo cho lực lượng lao động về chuyên môn, về giảm tổn thất, rơi vãi, ngăn ngừa rò rỉ, tiết kiệm các loại nguyên nhiên vật liệu, năng lượng, giữ gìn vệ sinh môi trường…
+ Hoàn thiện tổ chức quản lý, hợp lý hoá sản xuất.
+ Theo dõi, vận hành và bảo dưỡng các thiết bị hợp lý.
- 19 cơ hội SXSH thuộc lĩnh vực bao gồm:
+ Khống chế quá trình tốt hơn (tối ưu hoá và kiểm soát các thông số vận hành như lưu lượng, nồng độ rắn lỏng, phương thức cấp liệu…);
+ Cải tiến thiết bị (xem xét lại tính năng của các thiết bị, bổ sung cải thiến và thay thế các thiết bị cũ kém hiệu quả…);
+ Bảo dưỡng định kỳ (áp dụng chế độ bảo dưỡng định kỳ, nhằm giảm các chỉ tiêu tiêu hoá nước, nguyên nhiên vật liệu…);
+ Nâng cao hiệu quả việc của cả dây chuyền thiết bị.
4. Một vài suy nghĩ
Trong quá trình thực hiện đề tài khi nghiên cứu, điều tra, đánh giá ở các cơ sở khai thác chế biến khoáng sản ở Việt Nam thấy rằng. có những trở ngại trong việc thúc đẩy áp dụng SXSH trong ngành khai thác và chế biến khoáng sản, như:
- Chưa có sự quan tâm đúng mức về SXSH của các cấp lãnh đạo nhà máy, các mỏ và ngại có những thay đổi.
- Thiếu thông tin kỹ thuật, nhận thức về SXSH chưa được phổ biến đến các cơ sở sản xuất, thiếu các chuyên gia về SXSH trong ngành khai thác và chế biến khoáng sản cũng như thiếu cả các phương tiện kỹ thuật để đánh giá SXSH.
- Chưa có động lực của thị trường trong nước thúc đẩy, vì vậy hầu như các mỏ chưa có nhu cầu đánh giá SXSH.
- Chưa có thể chế và tổ chức thúc đẩy SXSH đi vào thực tiễn hoạt động công nghiệp nói chung và của ngành mỏ nói riêng.
Trong khai thác và chế biến khoáng sản, một nội dung quan trọng trong sản xuất sạch hơn là vấn đề áp dụng “công nghệ sạch hơn”. Điều này có liên quan đến tính lịch sử của ngành. Công nghệ khai thác và chế biến khoáng sản của chúng ta hiện nay ở mức độ nào (so với trình độ thế giới) và tác động của công nghệ hiện hành đến môi trường như thế nào là vấn đề cần được nghiên cứu và đánh giá nghiêm túc. Hiện nay để giải thích cho những yếu kém về môi trường, chúng ta thường lấy nguyên nhân “công nghệ thiết bị lạc hậu” để tránh nói nhiều đến những yếu kém của bản thân chúng ta về nhận thức, quản lý… Do vậy áp dụng SXSH trong ngành sẽ là đem lại cho chúng ta một cách nhìn khác quan hơn, thân thiện hơn, văn hoá hơn giữa trách nhiệm của con người và môi trường.
Vì vậy, để thực hiện tốt Kế hoạch hành động quốc gia về SXSH đã được Bộ Khoa học và Công nghệ xây dựng nhằm mang lại lợi ích thiết thực về kinh tế và môi trường đề nghị sớm xây dựng các chính sách khuyến khích áp dụng SXSH (nguồn vốn đầu tư, giá nguyên liệu, nước, năng lượng…) cũng như tăng cường hơn nữa công tác nâng cao nhận thức về lợi ích của tiếp cận này cũng như đào tạo đội ngũ chuyên sâu về kỹ thuật SXSH cho từng ngành công nghiệp cụ thể. Cần nhận thức rằng áp dựng SXSH là con đường đảm bảo tiến dần đến sự bền vững cho sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Theo kinh nghiệm của các nước đã áp dụng SXSH thành công thì trong quá trình thực hiện đánh giá SXSH cần đặc biệt quan tâm đến việc thực hiện các giải pháp ngắn hạn và trung hạn để có thêm tích luỹ cho việc thực hiện các giải pháp dài hạn. Do đó trong thời gian đầu cần ưu tiên áp dụng các giải pháp đơn giản, ngắn hạn với vốn đầu tư nhỏ và dễ thực hiện. Mặt khác, trong giai đoạn khởi đầu, cần có sự cộng tác tích cực của các chuyên gia tư vấn trong ngành trong việc đẩy mạnh áp dụng SXSH.
Cuối cùng, cần phải nhận thức rằng SXSH chỉ có thể được áp dụng thành công khi người lãnh đạo cao nhất của các cơ sở công nghiệp nhận thức được tầm quan trọng, tự nguyện tiếp nhận và có cam kết mạnh mẽ áp dụng tiếp cận này vào hoạt động của nhà máy. SXSH chỉ có thể được duy trì và áp dụng liên tục khi chính các nhà công nghiệp nhận thức được trách nhiệm của họ đối với tiếp cận này. Cùng với quyết tâm của các cấp lãnh đạo, sự tham gia của các cán bộ kỹ thuật và công nhân của nhà máy sẽ làm tăng hiệu quả của công việc.
Tài liệu tham khảo
- Đinh Văn Sâm, Công nghệ sản xuất sạch ở Việt Nam - Công nghệ Môi trường. Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội. 1998.
- Environment Australia , Cleaner production. Best practice environment management in Mining. June. 2000.
- Heinz Leuenberger. SXSH và kiểm soát ô nhiễm công nghiệp: Tiềm năng và hạn chế. Tuyển tập Công trình khoa học. ĐHBK Hà Nội. Hà Nội, 10 - 2001.
- Đặng Kim Chi. SXSH và ứng dụng SXSH ở Việt Nam . Bảo vệ môi trường. Viện nghiên cứu BHLĐ. Hà Nội, 8 - 2002.
- Nguyễn Khắc Kinh. Cần có sự nhìn nhận một cách toàn diện về SXSH ở Việt Nam . Tạp chí BVMT. số 11 - 2002.
- Nguyễn Xuân Nguyệt Hồng. Tiềm năng đầu tư cho SXSH ở Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập. Tạp chí BVMT số 12 - 2002.
- Trung tâm SXSH Việt Nam . Sản xuất sạch hơn ở Việt Nam . 2000. Tài liệu tập huấn về SXSH - 2000.
- Ngô Thị Nga và nnk. Tiềm năng tiết kiệm năng lượng và giảm khí thải qua thực tiễn áp dụng SXSH trong Công nghiệp ở Việt Nam . Tuyển tập Công trình khoa học. ĐHBK Hà Nội. Hà Nội, 10 - 2001.
- Vũ Tường Anh và nnk. Nâng cao hiệu quả sản xuất và bảo vệ môi trường ở các xí nghiệp vừa và nhỏ thông qua áp dụng tiếp cận SXSH. Tuyển tập Công trình khoa học. ĐHBK Hà Nội. Hà Nội, 10 - 2001.
- Minh Viễn. Triển khai SXSH trong công nghiệp dệt nhuộm. Tạp chí Bảo vệ môi trường. Số 11 - 2002.








