Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ ba, 28/02/2012 21:30 (GMT+7)

Sản xuất lúa ở Đồng Tháp: Tiềm năng và cơ hội phát triển

Những thành tựu đạt được

Với diện tích tự nhiên 3.375 km 2đứng thứ 40 toàn quốc, dân số năm 2010 là 1.670 ngàn người, mật độ dân số đứng thứ 20 toàn quốc và đứng thứ 6/13 tỉnh của vùng đồng bằng sông Cửu Long, nằm ở cửa ngõ Tây Nam của Tổ quốc, có 48 km đường biên giới quốc gia với 2 cửa khẩu quốc tế Thường Phước và Dinh Bà, có 3 quốc lộ chạy qua là quốc lộ 30, quốc lộ 54 và quốc lộ 80 cùng với 2 cảng sông quốc tế là cảng Sa Đéc và cảng Đồng Tháp, thế nhưng Đồng Tháp lại được coi là tỉnh “khuất nẻo” vì vậy cho đến năm 2010, sản xuất nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu kinh tế của tỉnh và riêng cây lúa vẫn chiếm tới 66% trong cơ cấu giá trị sản xuất ngành nông nghiệp.

Chiếm gần trọn vùng thượng nguồn nơi dòng sông Mê Kông chảy vào Việt Nam-Đồng Tháp có được lợi thế về nguồn tài nguyên đất và nước ngọt, đặc biệt là đất trồng lúa. Nếu tính diện tích đất nông nghiệp bình quân 1 hộ có sử dụng đất nông nghiệp thì Đồng Tháp đứng thứ 20 toàn quốc, nhưng nếu chỉ tính diện tích đất trồng lúa bình quân 1 hộ có sử dụng đất trồng lúa thì Đồng Tháp đứng thứ 5 toàn quốc. Thấy được lợi thế trên, ngay từ sau ngày giải phóng, Đảng bộ và nhân dân Đồng Tháp đã xác định đúng vai trò, vị trí và hướng đi đó là tập trung đầu tư cho cây lúa. Đặc biệt là sau ngày cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt phát lệnh tiến công khai thác vùng Đồng Tháp Mười, những cánh đồng sình lầy, phèn chua, hoang hóa, chủ yếu là lúa một vụ, sản xuất bấp bênh đã nhanh chóng thay thế bằng những cánh đồng 2-3 vụ lúa năng suất cao, sản xuất chắc ăn. Nông nghiệp Đồng Tháp đã có được sự phát triển vượt bậc nhờ cây lúa mà ấn tượng nhất là sản lượng lúa năm 2010 đã gấp 6,6 lần so với năm 1976.

Tuy nhiên, để có được thành quả trên thì người dân Đồng Tháp đã trải qua những năm tháng đầy khó khăn và cứ qua từng giai đoạn, mồ hôi người trồng lúa đổ nhiều hơn thì hạt lúa Tháp Mười cũng nhiều hơn và chất lượng cũng cao hơn.

Có thể nói giai đoạn khó khăn nhất là từ sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng cho đến năm 1985, vừa bước ra khỏi chiến tranh, ruộng đất tuy nhiều nhưng hầu hết là sình lầy, chua phèn, trong khi kỹ thuật canh tác lạc hậu, vốn đầu tư thiếu, hệ thống thủy lợi hầu như chưa có, phần lớn diện tích chỉ trồng được 1 vụ bấp bênh. Ngoại trừ đồng ruộng, tất cả điều kiện khác hầu như bắt đầu từ số không. Nhà nước cùng người dân bắt tay vào xây dựng nông trường, hợp tác xã, khai hoang phục hóa, đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ sản xuất nông nghiệp, đó là các công trình thủy lợi, là máy móc thiết bị, v.v…Kết quả là năm 1985 sản lượng lúa đã đạt 697.981 tấn, gấp 1,6 lần so với năm 1976.

Giai đoạn 15 năm tiếp theo, từ 1986-2000, nông dân Đồng Tháp cùng với cả nước bước vào thời kỳ đổi mới và cũng là thời kỳ tiến quân vào khai thác Đồng Tháp Mười. Đây là thời kỳ không kém phần khó khăn so với giai đoạn 1976-1985 nhưng đều quyết tâm, phấn khởi. Hàng loạt công trình thủy lợi hình thành, nhiều vùng sâu, vùng trũng Đồng Tháp Mười đã được thau chua, rửa phèn đồng ruộng và những cánh đồng lúa thẳng cánh cò bay dần xuất hiện. Sản xuất lúa bước đầu được cơ giới hóa với hệ thống trạm bơm tưới tiêu, máy cày, máy xới v.v… và đặc biệt là hệ thống bờ bao để sản xuất lúa vụ 3 đã được hình thành. Đây chính là thời kỳ mà sản xuất lúa có được bước tiến nhanh nhất về mặt sản lượng, đến 1995 sản lượng lúa đã gấp 2,58 lần năm 1985 và đến năm 2000, mặc dù bị trận lũ lịch sử nhấn chìm gần 10 ngàn ha và 29 ngàn ha phải gặt chạy lũ làm năng suất lúa năm 2000 giảm mạnh, nhưng sản lượng lúa vẫn đạt 1.878 ngàn tấn, gấp 2,7 lần so với 15 năm trước đó.

Giai đoạn 2001-2010, trong bối cảnh đất nước tiếp tục công cuộc đổi mới, kinh tế Đồng Tháp nói chung và cây lúa nói riêng được tập trung đầu tư mạnh mẽ về chiều sâu. Đây là giai đoạn cây lúa được đầu tư toàn diện về cơ sở vật chất, kỹ thuật canh tác, giống lúa v.v… Về hạ tầng kỹ thuật, đến nay toàn tỉnh có gần 7.500 km bờ bao bảo vệ lúa, 702 hệ thống trạm bơm điện, 3.732 km kênh mương được xây dựng kết hợp với giao thông nông thôn. Hệ thống thủy lợi gồm 22 kênh trục chính; 1.857 km kênh cấp 1 và 1.587 km kênh cấp 2 cùng với 1.736 cống tưới tiêu phục vụ cho nhu cầu sản xuất. Về cơ giới hóa sản xuất, nhiều chương trình dự án đã được triển khai có hiệu quả bằng nhiều nguồn vốn, điển hình là các đề án, dự án cơ giới hóa sản xuất nông nghiệp giai đoạn 2006-2010, với các nguồn vốn từ ngân sách trung ương, địa phương, từ chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo v.v… đến nay toàn tỉnh có trên 6.000 máy cày máy xới, gần 14.000 dụng cụ xạ hàng; 693 máy gặt đập liên hợp, trên 1.000 máy gặt xếp dãy, 655 lò sấy v.v…đã đảm bảo 100% diện tích lúa được cơ giới hóa khâu làm đất, 51% diện tích lúa được thu hoạch bằng cơ giới, năng lực sấy đáp ứng 25% sản lượng lúa hè thu. Về chuyển giao kỹ thuật và đầu tư giống lúa mới, ngành nông nghiệp đẩy mạnh nhân rộng các mô hình sản xuất lúa chất lượng cao, mô hình sản xuất lúa theo hướng hiện đại, mô hình quản lý rầy nâu bằng thuốc sinh học v.v… để đến nay có trên 31% lao động khu vực nông thôn, nông nghiệp đã qua đào tạo và trên 60% diện tích lúa được sử dụng giống chất lượng cao, góp phần giảm giá thành, nâng cao chất lượng lúa hàng hóa. Sau 10 năm năng lực sản xuất lúa của tỉnh đã có bước tiến xa về chất mà minh chứng cụ thể nhất, rõ ràng nhất là năng suất lúa tính trên diện tích gieo trồng đã tăng từ 46 tạ/ha năm 2000 lên 55,73 tạ/ha năm 2005 và 60,36 tạ/ha năm 2010; sản lượng lúa năm 2010 đã đạt 2.807 ngàn tấn, trong đó gần 70% lúa chất lượng cao.

Những khó khăn, hạn chế

Với đặc điểm là ruộng đất nhỏ lẻ, mamh mún, đây là khó khăn và cũng là rào cản lớn nhất trong việc ứng dụng tiến bộ kỹ thuật cũng như đầu tư cơ giới hóa sản xuất để tạo được sản lượng hàng hóa lớn, chất lượng đồng nhất.

Hạ tầng kỹ thuật phục vụ sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất lúa nói riêng còn thiếu và yếu, trình độ có giới hóa còn thấp, mới chỉ có 51% diện tích được thu hoạch bằng cơ giới, 255 sản lượng lúa hè thu được sấy, vì vậy theo đánh giá chung vẫn còn 8-10% sản lượng lúa bị tổn thất trong và sau thu hoạch, làm giảm hiệu quả sản xuất.

Trình độ lao động thấp, việc ứng dụng, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật gặp nhiều khó khăn.

Chất lượng lúa hàng hóa chưa ổn định, thiếu đồng đều vì vậy sức cạnh tranh trên thị trường thế giới còn hạn chế. Sản xuất và tiêu thụ thiếu gắn kết, mô hình liên kết “4 nhà” chưa chặt chẽ do thiếu sự cam kết, ràng buộc, chính vì vậy mà giá lúa thiếu ổn định, việc quản bá thương hiệu của hạt lúa còn hạn chế.

Cơ hội, thách thức và giải pháp:

Nhu cầu lương thực trên thế giới ngày càng tăng là cơ hội lớn nhất để sản xuất lúa của Việt Nam nói chung và Đồng Tháp Mười nói riêng phát huy ưu thế.

Trong bối cảnh kinh tế hội nhập ngày càng nhanh, sản xuất lúa có nhiều cơ hội do thị trường xuất khẩu được mở rộng nhưng đó cũng là thách thức do sự cạnh tranh ngày càng gay gắt trong khi chất lượng lúa hàng hóa của ta còn hạn chế.

Sự phát triển nông nghiệp cùng với việc xây dựng đập thủy điện của các quốc gia vùng thượng nguồn sông Mê Kông gây ra tình trạng thiếu nước ngọt và nước ngọt nghèo phù sa sẽ là thách thức đối với sản xuất lúa của đồng bằng sông cửu Long nói chung và Đồng Tháp Mười nói riêng.

Trình độ lao động thấp là thách thức lớn nhất trong việc ứng dụng tiến bộ kỹ thuật để phòng chống dịch bệnh cây trồng, nâng cao năng suất, chất lượng lúa hàng hóa và bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm.

Để cây lúa Đồng Tháp tiếp tục phát triển và khẳng định vị trí của mình trong thời gian tới, cần tập trung một số giải pháp sau:

Đẩy mạnh chuyển giao kỹ thuật: Đây là giải pháp hàng đầu, mamg lại hiệu quả nhanh nhất vì nó có thể trang bị cho nông dân kiến thức cả về lý thuyết và thực hành.

Nâng cao nhận thức của người trồng lúa về vai trò trách nhiệm của mình trong điều kiện kinh tế hội nhập, người sản xuất phải tư duy theo hướng sản nông nghiệp sạch, tăng năng suất, chất lượng đi đôi với an toàn vệ sinh thực phẩm để tăng sức cạnh tranh của sản phẩm. Tăng quy mô đất trồng lúa bình quân 1 lao động để đẩy mạnh phát triển sản xuất lúa hàng hóa với sản lượng lớn bằng hai biện pháp chủ yếu: Thứ nhất là mở rộng mô hình hợp tác; thứ hai là tăng cường đào tạo nghề cho lao động nông nghiệp, khuyến khích những lao động ít đất hoặc sử dụng đất trồng lúa kém hiệu quả chuyển sang ngành nghề khác.

Tăng cường đầu tư cho giống lúa mới, đào tạo nghề, kỹ thuật canh tác, công nghệ sau thu hoạch, kết cấu hạ tầng sản xuất lúa. Trong đó vốn Nhà nước phải giữ vai trò chủ lực trong đào tạo nghề và đầu tư triển khai các giống lúa mới có chất lượng cao.

Tăng cường vai trò của Nhà nước về cơ chế, chính sách. Thứ nhất là phải thực hiện được vai trò cầu nối giữa người trồng lúa với doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu và thị trường tiêu thụ; Thứ hai là phải hoàn thiện cơ chế, chính sách theo hướng bảo vệ quyền lợi chính đáng của người trồng lúa như thực hiện bảo hiểm cho trồng lúa, xây dựng, quảng bá và bảo vệ thương hiệu của hạt lúa.

Sau 35 năm đầu tư phát triển, cây lúa Đồng Tháp đã thể hiện được vai trò, vị trí của mình đối với đất nước nói chung và kinh tế của tỉnh nói riêng. Trong thời gian tới, vai trò, vị trí đó tiếp tục được khẳng định tại Nghị quyết Đại hội đại biểu lần thứ IX Đảng bộ tỉnh Đồng Tháp nhiệm kỳ 2011-2015 đó là “Huy động các nguồn lực cho sản xuất nông nghiệp…”, “Rà soát, điều chỉnh quy hoạch vùng sản xuất lúa…” với mục tiêu sản lượng lúa đạt trên 2,5 triệu tấn/năm. Như vậy sau khi trừ phần tiêu dùng và sử dụng tại chỗ, hàng năm Đồng Tháp sẽ có 1,8 triệu tấn lúa hàng hóa để làm nhiệm vụ bảo đảm an ninh lương thực quốc gia và tham gia thị trường xuất khẩu gạo. Chặng đường trước mắt còn đó những khó khăn thách thức, tuy nhiên, các nghị quyết của Đảng về mục tiêu sản xuất lương thực, về nông nghiệp-nông dân-nông thôn, đã tạo ra luồng gió mới, động lực mới cho sản xuất, để người trồng lúa Đồng Tháp vững tâm, phấn khởi thực hiện vai trò bảo đảm lương thực quốc gia, đồng thời để cây lúa Tháp Mười ngày càng vươn cao, vươn xa, khẳng định được thương hiệu trên thị trường lương thực thế giới./.

Xem Thêm

Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

Thế hệ trẻ và bản lĩnh chính trị trên không gian số: Chủ động đối thoại, phản biện và “phủ xanh” thông tin tích cực
Trong kỷ nguyên số, không gian mạng tác động sâu sắc đến nhận thức, tư tưởng của xã hội, đặc biệt là thế hệ trẻ. Trước tin giả, thông tin xấu độc và các luận điệu sai trái, thù địch, tuổi trẻ Việt Nam thông qua các diễn đàn chính luận đã khẳng định bản lĩnh chính trị vững vàng, chủ động đối thoại, phản biện các luận điệu sai trái và góp phần “phủ xanh” không gian mạng bằng những giá trị tích cực.
Phản biện để hoàn thiện, không phải để phủ định
Hoạt động tư vấn, phản biện (TVPB) của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã trở thành một phương thức quan trọng để tập hợp trí tuệ đội ngũ trí thức, cung cấp luận cứ khoa học tin cậy cho Đảng, Nhà nước. Để hiểu rõ hơn về sự phát triển, phương pháp tổ chức và những bài học thực tiễn từ hoạt động này, phóng viên đã có cuộc trao đổi với ThS Bùi Kim Tuyến, Trưởng ban TVPB, VUSTA
Liên hiệp Hội Việt Nam hợp tác với doanh nghiệp công nghệ, hiện thực hóa các mục tiêu chuyển đổi số
Ngày 28/9, tại Hà Nội, Lãnh đạo Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã có buổi trao đổi, làm việc với Công ty CP Tập đoàn Truyền thông StarWorld (Starworld Group) về các giải pháp chuyển đổi số, hướng tới xây dựng nền tảng công nghệ khoa học phục vụ chiến lược phát triển của VUSTA trong giai đoạn 2026 - 2031.
Phó Chủ tịch Trương Xuân Lam: Đưa khoa học, công nghệ vào giải quyết những bài toán thực tiễn ngành hàng không
Ngày 26/9, tại Hà Nội, Hội Khoa học và Công nghệ Hàng không Việt Nam tổ chức Đại hội đại biểu lần thứ VII, nhiệm kỳ 2026-2031. Phát biểu tại Đại hội, GS.TS Trương Xuân Lam, Phó Chủ tịch LHHVN nhấn mạnh yêu cầu Hội tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, tập hợp và phát huy đội ngũ trí thức, đưa KHCN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vào giải quyết những vấn đề của ngành hàng không.
Ngày hội Đổi mới sáng tạo quốc gia 2026: Kết nối nguồn lực, thúc đẩy công nghệ
Theo Nghị định số 268/2025/NĐ-CP ngày 14/10/2025 của Chính phủ, ngày 1/10 hằng năm là Ngày hội Đổi mới sáng tạo quốc gia (INNOVATION DAY) do Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì. Quy định này nhằm tạo một dấu mốc thường niên để lan tỏa tinh thần đổi mới sáng tạo trong xã hội, đồng thời thúc đẩy ứng dụng, phát triển và thương mại hóa công nghệ.
Liên hiệp Hội Việt Nam tổ chức chương trình làm việc, khảo sát thực tế tại Trung tâm Đa dạng Sinh học Mê Linh
Ngày 25/9, Cơ quan Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã tổ chức chương trình thăm, làm việc và khảo sát thực tế tại Trung tâm Đa dạng Sinh học Mê Linh (thuộc Viện Sinh học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam). Chương trình diễn ra với chủ đề “Trí thức khoa học và công nghệ với bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển bền vững”.
Hội Tự động hóa Việt Nam và Đại học Công nghệ Quế Lâm hợp tác tạo cơ hội phát triển công nghệ và chuyển đổi số
Hội Tự động hóa Việt Nam (VAA) và Đại học Công nghệ Quế Lâm (Trung Quốc) ký biên bản ghi nhớ, hướng tới xây dựng phòng thí nghiệm trọng điểm chung về ứng dụng công nghệ và chuyển đổi số, đồng thời đưa kết quả nghiên cứu vào thử nghiệm, chuyển giao và ứng
Tuyên bố chung về quan hệ Đối tác Chiến lược giữa Việt Nam và Canada
Chuyến thăm cấp Nhà nước tới Canada của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm thể hiện cam kết mạnh mẽ của lãnh đạo hai nước trong việc đưa quan hệ song phương bước vào kỷ nguyên mới hợp tác sâu rộng, thực chất và bền vững hơn. Trân trọng giới thiệu toàn văn Tuyên bố chung về quan hệ Đối tác Chiến lược giữa Việt Nam và Canada:
Trung thu – Một miền ký ức
…Tôi cũng không nhớ đã bao lần đón trung thu nữa, thế nhưng mỗi lần tháng Tám về, dắt con đi qua những phố thị đầy ắp đèn hoa, bánh kẹo trong tôi lại ùa về những cảm xúc khỏ tả, một miền ký ức sâu thẳm thân thương biết bao giờ trở lại ….
Kết luận số 83-KL/TW: Chuyển từ lợi thế tài nguyên sang làm chủ công nghệ vật liệu
Ngày 24/9, Ban Tuyên giáo Trung ương và Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp tổ chức Hội thảo tuyên truyền, phổ biến, quán triệt Kết luận số 83-KL/TW của Bộ Chính trị về phát triển công nghiệp vật liệu Việt Nam. Hội thảo tập trung làm rõ định hướng phát triển ngành vật liệu theo hướng làm chủ công nghệ, nâng cao giá trị gia tăng, tăng năng lực tự chủ và sức cạnh tranh.
Đồng chí Nguyễn Phi Long: Các đồng chí được trao tặng Huy hiệu Đảng là tấm gương sáng cho đảng viên, nhà khoa học trẻ
Sáng ngày 24/9, Đảng ủy Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam) đã trang trọng tổ chức Lễ trao tặng Huy hiệu Đảng đợt 02/9/2026. Đồng chí Nguyễn Phi Long, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương đã đến dự và phát biểu chúc mừng 111 đồng chí được trao tặng Huy hiệu Đảng.
Tư vấn, phản biện Đề án tăng cường hợp tác công - tư và phát triển y tế tư nhân, hiện đại hóa hệ thống y tế Tp. Bắc Ninh
Ngày 23/9/2026, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật TP Bắc Ninh tổ chức Hội thảo tư vấn, phản biện: “Đề án tăng cường hợp tác công - tư và phát triển y tế tư nhân hiện đại hóa hệ thống y tế thành phố Bắc Ninh giai đoạn 2026 - 2030, tầm nhìn 2045”.
Hội nghị BCH Đảng bộ Liên hiệp Hội Việt Nam tháng 9/2026: Tập trung hoàn thành các nhiệm vụ trọng tâm cuối năm 2026
Chiều 23/9, Ban Chấp hành Đảng bộ Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam) tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ tháng 9/2026, nhằm đánh giá kết quả công tác 9 tháng đầu năm, xác định nhiệm vụ trọng tâm những tháng cuối năm; đồng thời triển khai một số nội dung quan trọng về công tác xây dựng Đảng, tổ chức cán bộ và thực hiện các nhiệm vụ sau Đại hội IX.
GS.VS Châu Văn Minh: Phát huy nguồn lực trí thức, đồng hành cùng Hà Tĩnh giải quyết những bài toán phát triển
Chiều 21/9, GS.VS Châu Văn Minh, Phó Chủ tịch không chuyên trách Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam) đã thăm, làm việc với Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Hà Tĩnh (Liên hiệp Hội tỉnh Hà Tĩnh).