Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ ba, 28/02/2012 21:30 (GMT+7)

Sản xuất lúa ở Đồng Tháp: Tiềm năng và cơ hội phát triển

Những thành tựu đạt được

Với diện tích tự nhiên 3.375 km 2đứng thứ 40 toàn quốc, dân số năm 2010 là 1.670 ngàn người, mật độ dân số đứng thứ 20 toàn quốc và đứng thứ 6/13 tỉnh của vùng đồng bằng sông Cửu Long, nằm ở cửa ngõ Tây Nam của Tổ quốc, có 48 km đường biên giới quốc gia với 2 cửa khẩu quốc tế Thường Phước và Dinh Bà, có 3 quốc lộ chạy qua là quốc lộ 30, quốc lộ 54 và quốc lộ 80 cùng với 2 cảng sông quốc tế là cảng Sa Đéc và cảng Đồng Tháp, thế nhưng Đồng Tháp lại được coi là tỉnh “khuất nẻo” vì vậy cho đến năm 2010, sản xuất nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu kinh tế của tỉnh và riêng cây lúa vẫn chiếm tới 66% trong cơ cấu giá trị sản xuất ngành nông nghiệp.

Chiếm gần trọn vùng thượng nguồn nơi dòng sông Mê Kông chảy vào Việt Nam-Đồng Tháp có được lợi thế về nguồn tài nguyên đất và nước ngọt, đặc biệt là đất trồng lúa. Nếu tính diện tích đất nông nghiệp bình quân 1 hộ có sử dụng đất nông nghiệp thì Đồng Tháp đứng thứ 20 toàn quốc, nhưng nếu chỉ tính diện tích đất trồng lúa bình quân 1 hộ có sử dụng đất trồng lúa thì Đồng Tháp đứng thứ 5 toàn quốc. Thấy được lợi thế trên, ngay từ sau ngày giải phóng, Đảng bộ và nhân dân Đồng Tháp đã xác định đúng vai trò, vị trí và hướng đi đó là tập trung đầu tư cho cây lúa. Đặc biệt là sau ngày cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt phát lệnh tiến công khai thác vùng Đồng Tháp Mười, những cánh đồng sình lầy, phèn chua, hoang hóa, chủ yếu là lúa một vụ, sản xuất bấp bênh đã nhanh chóng thay thế bằng những cánh đồng 2-3 vụ lúa năng suất cao, sản xuất chắc ăn. Nông nghiệp Đồng Tháp đã có được sự phát triển vượt bậc nhờ cây lúa mà ấn tượng nhất là sản lượng lúa năm 2010 đã gấp 6,6 lần so với năm 1976.

Tuy nhiên, để có được thành quả trên thì người dân Đồng Tháp đã trải qua những năm tháng đầy khó khăn và cứ qua từng giai đoạn, mồ hôi người trồng lúa đổ nhiều hơn thì hạt lúa Tháp Mười cũng nhiều hơn và chất lượng cũng cao hơn.

Có thể nói giai đoạn khó khăn nhất là từ sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng cho đến năm 1985, vừa bước ra khỏi chiến tranh, ruộng đất tuy nhiều nhưng hầu hết là sình lầy, chua phèn, trong khi kỹ thuật canh tác lạc hậu, vốn đầu tư thiếu, hệ thống thủy lợi hầu như chưa có, phần lớn diện tích chỉ trồng được 1 vụ bấp bênh. Ngoại trừ đồng ruộng, tất cả điều kiện khác hầu như bắt đầu từ số không. Nhà nước cùng người dân bắt tay vào xây dựng nông trường, hợp tác xã, khai hoang phục hóa, đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ sản xuất nông nghiệp, đó là các công trình thủy lợi, là máy móc thiết bị, v.v…Kết quả là năm 1985 sản lượng lúa đã đạt 697.981 tấn, gấp 1,6 lần so với năm 1976.

Giai đoạn 15 năm tiếp theo, từ 1986-2000, nông dân Đồng Tháp cùng với cả nước bước vào thời kỳ đổi mới và cũng là thời kỳ tiến quân vào khai thác Đồng Tháp Mười. Đây là thời kỳ không kém phần khó khăn so với giai đoạn 1976-1985 nhưng đều quyết tâm, phấn khởi. Hàng loạt công trình thủy lợi hình thành, nhiều vùng sâu, vùng trũng Đồng Tháp Mười đã được thau chua, rửa phèn đồng ruộng và những cánh đồng lúa thẳng cánh cò bay dần xuất hiện. Sản xuất lúa bước đầu được cơ giới hóa với hệ thống trạm bơm tưới tiêu, máy cày, máy xới v.v… và đặc biệt là hệ thống bờ bao để sản xuất lúa vụ 3 đã được hình thành. Đây chính là thời kỳ mà sản xuất lúa có được bước tiến nhanh nhất về mặt sản lượng, đến 1995 sản lượng lúa đã gấp 2,58 lần năm 1985 và đến năm 2000, mặc dù bị trận lũ lịch sử nhấn chìm gần 10 ngàn ha và 29 ngàn ha phải gặt chạy lũ làm năng suất lúa năm 2000 giảm mạnh, nhưng sản lượng lúa vẫn đạt 1.878 ngàn tấn, gấp 2,7 lần so với 15 năm trước đó.

Giai đoạn 2001-2010, trong bối cảnh đất nước tiếp tục công cuộc đổi mới, kinh tế Đồng Tháp nói chung và cây lúa nói riêng được tập trung đầu tư mạnh mẽ về chiều sâu. Đây là giai đoạn cây lúa được đầu tư toàn diện về cơ sở vật chất, kỹ thuật canh tác, giống lúa v.v… Về hạ tầng kỹ thuật, đến nay toàn tỉnh có gần 7.500 km bờ bao bảo vệ lúa, 702 hệ thống trạm bơm điện, 3.732 km kênh mương được xây dựng kết hợp với giao thông nông thôn. Hệ thống thủy lợi gồm 22 kênh trục chính; 1.857 km kênh cấp 1 và 1.587 km kênh cấp 2 cùng với 1.736 cống tưới tiêu phục vụ cho nhu cầu sản xuất. Về cơ giới hóa sản xuất, nhiều chương trình dự án đã được triển khai có hiệu quả bằng nhiều nguồn vốn, điển hình là các đề án, dự án cơ giới hóa sản xuất nông nghiệp giai đoạn 2006-2010, với các nguồn vốn từ ngân sách trung ương, địa phương, từ chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo v.v… đến nay toàn tỉnh có trên 6.000 máy cày máy xới, gần 14.000 dụng cụ xạ hàng; 693 máy gặt đập liên hợp, trên 1.000 máy gặt xếp dãy, 655 lò sấy v.v…đã đảm bảo 100% diện tích lúa được cơ giới hóa khâu làm đất, 51% diện tích lúa được thu hoạch bằng cơ giới, năng lực sấy đáp ứng 25% sản lượng lúa hè thu. Về chuyển giao kỹ thuật và đầu tư giống lúa mới, ngành nông nghiệp đẩy mạnh nhân rộng các mô hình sản xuất lúa chất lượng cao, mô hình sản xuất lúa theo hướng hiện đại, mô hình quản lý rầy nâu bằng thuốc sinh học v.v… để đến nay có trên 31% lao động khu vực nông thôn, nông nghiệp đã qua đào tạo và trên 60% diện tích lúa được sử dụng giống chất lượng cao, góp phần giảm giá thành, nâng cao chất lượng lúa hàng hóa. Sau 10 năm năng lực sản xuất lúa của tỉnh đã có bước tiến xa về chất mà minh chứng cụ thể nhất, rõ ràng nhất là năng suất lúa tính trên diện tích gieo trồng đã tăng từ 46 tạ/ha năm 2000 lên 55,73 tạ/ha năm 2005 và 60,36 tạ/ha năm 2010; sản lượng lúa năm 2010 đã đạt 2.807 ngàn tấn, trong đó gần 70% lúa chất lượng cao.

Những khó khăn, hạn chế

Với đặc điểm là ruộng đất nhỏ lẻ, mamh mún, đây là khó khăn và cũng là rào cản lớn nhất trong việc ứng dụng tiến bộ kỹ thuật cũng như đầu tư cơ giới hóa sản xuất để tạo được sản lượng hàng hóa lớn, chất lượng đồng nhất.

Hạ tầng kỹ thuật phục vụ sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất lúa nói riêng còn thiếu và yếu, trình độ có giới hóa còn thấp, mới chỉ có 51% diện tích được thu hoạch bằng cơ giới, 255 sản lượng lúa hè thu được sấy, vì vậy theo đánh giá chung vẫn còn 8-10% sản lượng lúa bị tổn thất trong và sau thu hoạch, làm giảm hiệu quả sản xuất.

Trình độ lao động thấp, việc ứng dụng, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật gặp nhiều khó khăn.

Chất lượng lúa hàng hóa chưa ổn định, thiếu đồng đều vì vậy sức cạnh tranh trên thị trường thế giới còn hạn chế. Sản xuất và tiêu thụ thiếu gắn kết, mô hình liên kết “4 nhà” chưa chặt chẽ do thiếu sự cam kết, ràng buộc, chính vì vậy mà giá lúa thiếu ổn định, việc quản bá thương hiệu của hạt lúa còn hạn chế.

Cơ hội, thách thức và giải pháp:

Nhu cầu lương thực trên thế giới ngày càng tăng là cơ hội lớn nhất để sản xuất lúa của Việt Nam nói chung và Đồng Tháp Mười nói riêng phát huy ưu thế.

Trong bối cảnh kinh tế hội nhập ngày càng nhanh, sản xuất lúa có nhiều cơ hội do thị trường xuất khẩu được mở rộng nhưng đó cũng là thách thức do sự cạnh tranh ngày càng gay gắt trong khi chất lượng lúa hàng hóa của ta còn hạn chế.

Sự phát triển nông nghiệp cùng với việc xây dựng đập thủy điện của các quốc gia vùng thượng nguồn sông Mê Kông gây ra tình trạng thiếu nước ngọt và nước ngọt nghèo phù sa sẽ là thách thức đối với sản xuất lúa của đồng bằng sông cửu Long nói chung và Đồng Tháp Mười nói riêng.

Trình độ lao động thấp là thách thức lớn nhất trong việc ứng dụng tiến bộ kỹ thuật để phòng chống dịch bệnh cây trồng, nâng cao năng suất, chất lượng lúa hàng hóa và bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm.

Để cây lúa Đồng Tháp tiếp tục phát triển và khẳng định vị trí của mình trong thời gian tới, cần tập trung một số giải pháp sau:

Đẩy mạnh chuyển giao kỹ thuật: Đây là giải pháp hàng đầu, mamg lại hiệu quả nhanh nhất vì nó có thể trang bị cho nông dân kiến thức cả về lý thuyết và thực hành.

Nâng cao nhận thức của người trồng lúa về vai trò trách nhiệm của mình trong điều kiện kinh tế hội nhập, người sản xuất phải tư duy theo hướng sản nông nghiệp sạch, tăng năng suất, chất lượng đi đôi với an toàn vệ sinh thực phẩm để tăng sức cạnh tranh của sản phẩm. Tăng quy mô đất trồng lúa bình quân 1 lao động để đẩy mạnh phát triển sản xuất lúa hàng hóa với sản lượng lớn bằng hai biện pháp chủ yếu: Thứ nhất là mở rộng mô hình hợp tác; thứ hai là tăng cường đào tạo nghề cho lao động nông nghiệp, khuyến khích những lao động ít đất hoặc sử dụng đất trồng lúa kém hiệu quả chuyển sang ngành nghề khác.

Tăng cường đầu tư cho giống lúa mới, đào tạo nghề, kỹ thuật canh tác, công nghệ sau thu hoạch, kết cấu hạ tầng sản xuất lúa. Trong đó vốn Nhà nước phải giữ vai trò chủ lực trong đào tạo nghề và đầu tư triển khai các giống lúa mới có chất lượng cao.

Tăng cường vai trò của Nhà nước về cơ chế, chính sách. Thứ nhất là phải thực hiện được vai trò cầu nối giữa người trồng lúa với doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu và thị trường tiêu thụ; Thứ hai là phải hoàn thiện cơ chế, chính sách theo hướng bảo vệ quyền lợi chính đáng của người trồng lúa như thực hiện bảo hiểm cho trồng lúa, xây dựng, quảng bá và bảo vệ thương hiệu của hạt lúa.

Sau 35 năm đầu tư phát triển, cây lúa Đồng Tháp đã thể hiện được vai trò, vị trí của mình đối với đất nước nói chung và kinh tế của tỉnh nói riêng. Trong thời gian tới, vai trò, vị trí đó tiếp tục được khẳng định tại Nghị quyết Đại hội đại biểu lần thứ IX Đảng bộ tỉnh Đồng Tháp nhiệm kỳ 2011-2015 đó là “Huy động các nguồn lực cho sản xuất nông nghiệp…”, “Rà soát, điều chỉnh quy hoạch vùng sản xuất lúa…” với mục tiêu sản lượng lúa đạt trên 2,5 triệu tấn/năm. Như vậy sau khi trừ phần tiêu dùng và sử dụng tại chỗ, hàng năm Đồng Tháp sẽ có 1,8 triệu tấn lúa hàng hóa để làm nhiệm vụ bảo đảm an ninh lương thực quốc gia và tham gia thị trường xuất khẩu gạo. Chặng đường trước mắt còn đó những khó khăn thách thức, tuy nhiên, các nghị quyết của Đảng về mục tiêu sản xuất lương thực, về nông nghiệp-nông dân-nông thôn, đã tạo ra luồng gió mới, động lực mới cho sản xuất, để người trồng lúa Đồng Tháp vững tâm, phấn khởi thực hiện vai trò bảo đảm lương thực quốc gia, đồng thời để cây lúa Tháp Mười ngày càng vươn cao, vươn xa, khẳng định được thương hiệu trên thị trường lương thực thế giới./.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

51 năm thống nhất đất nước: Khơi thông nguồn lực tri thức trong kỷ nguyên mới
Thông tấn xã Việt Nam giới thiệu bài phỏng vấn với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) về vai trò của lực lượng trí thức và những giải pháp đột phá để hiện thực hóa khát vọng hùng cường vào năm 2030 và 2045.
Phát huy vai trò nòng cốt của trí thức KH&CN tỉnh Cà Mau
Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Cà Mau lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031 tổ chức thành công thực sự đã mở ra một không gian mới để hội tụ sức mạnh, tâm huyết và trí tuệ của đội ngũ trí thức tỉnh nhà, định hình con đường kiến tạo và phát triển trong kỷ nguyên mới của đất nước.
Công bố Quyết định bổ nhiệm Giám đốc, Tổng biên tập Nhà xuất bản Tri thức
Ngày 28/4, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức Hội nghị Công bố quyết định về công tác cán bộ. Tại hội nghị, TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã trao Quyết định bổ nhiệm bà Bùi Thị Thu Hằng, Phó Giám đốc phụ trách, Phó Tổng biên tập NXB Tri thức giữ chức vụ Giám đốc, Tổng biên tập NXB Tri thức.
Đảng bộ Liên hiệp Hội Việt Nam tổ chức Hội nghị Ban Thường vụ - Ban Chấp hành tháng 4/2026
Ngày 28/4, tại Hà Nội, Đảng bộ Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (LHHVN) tổ chức Hội nghị Ban Thường vụ - Ban Chấp hành nhằm đánh giá kết quả công tác, đồng thời triển khai các nhiệm vụ trọng tâm, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong công tác xây dựng Đảng và chuẩn bị cho Đại hội LHHVN nhiệm kỳ mới.
Nâng tầm sức mạnh văn hóa vùng Đất Tổ - Động lực quan trọng cho phát triển bền vững
Phát triển văn hóa và con người là nền tảng tinh thần, nguồn lực nội sinh, động lực cho phát triển nhanh bền vững. Quan điểm đó tiếp tục được khẳng định mạnh mẽ trong Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị. Nghị quyết nhấn mạnh văn hóa phải thấm sâu vào đời sống xã hội, gắn kết hài hòa với chính trị, kinh tế, môi trường, quốc phòng, an ninh, đối ngoại; thực sự trở thành sức mạnh mềm của quốc gia.
Chủ tịch Phan Xuân Dũng dự Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cà Mau lần thứ I
Ngày 23/4, Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cà Mau lần thứ I, nhiệm kỳ 2026-2031 đã thành công tốt đẹp. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng chúc mừng, đánh giá cao những nỗ lực rất lớn của Liên hiệp Hội tỉnh, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu đẩy mạnh TVPB, ĐMST&CĐS, lan tỏa tri thức KH&CN, phục vụ trực tiếp đời sống người dân địa phương.
Tuyên Quang: Thúc đẩy năng lực triển khai năng lực hoạt động KHCN, ĐMST và CĐS trong sinh viên
Ngày 21/4, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (KH&KT) tỉnh Tuyên Quang phối hợp với Trường Cao đẳng Tuyên Quang tổ chức Hội thảo tập huấn, phổ biến kiến thức “Thúc đẩy năng lực triển khai hoạt động khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong sinh viên” bằng hình thức trực tiếp và trực tuyến.