Sản phẩm sinh thái – cơ hội để vượt qua các rào cản kỹ thuật trong thương mại
Tuy nhiên, đối với Việt Nam vấn đề này còn rất mới mẻ.
SPSTvà sự cần thiết để doanh nghiệp tiếp cận
Sản phẩm sinh thái được thiết kế dựa theo các khái niệm và nguyên tắc về thiết kế sinh thái để có được những tính năng thân thiện với môi trường. Các khái niệm về vòng đời và thiết kế kỹ thuật đóng vai trò rất quan trọng trong suốt giai đoạn phát triển của SPST. SPST có thể được sản xuất từ vật liệu tái chế hoặc nguyên vật liệu sinh khối. Thêm vào đó, trong quá trình sản xuất và sử dụng, SPST có thể giúp tiết kiệm nước, năng lượng, giảm thiểu khí thải, chất thải và những nhu cầu về xử lý chất thải sau đó. Sản phẩm sinh thái cũng được thiết kế nhằm bảo đảm khả năng tái chế, tái sử dụng và phục hồi.
Sản phẩm sinh thái thường đi kèm với nhãn hiệu sinh thái loại I, loại II hoặc loại III, theo bộ tiêu chuẩn ISO 14000. Bên cạnh đó, những sản phẩm đưa vào cơ sở dữ liệu của Mạng lưới thu mua Xanh cũng được coi là SPST. SPST thường phân theo nhóm sản phẩm như: Thiết bị điện, diện tử gia dụng, thiết bị văn phòng, công nghệ thông tin, phương tiện vận chuyển, máy móc, cơ khí, đồ nội thất và trang trí, vật liệu xây dựng và máy móc xây dựng, vật liệu bao gói bao bì, sản phẩm may mặc, các sản phẩm làng nghề, nông sản, thiết bị an ninh an toàn và y tế năng lượng, dịch vụ sinh thái, du lịch, các hoạt động nghiên cứu và phát triển về môi trường, công nghệ và thiết bị liên quan đến môi trường...
Với tính năng và vai trò như vậy, trong quá trình phát triển của nền kinh tế thị trường cùng với áp lực khi gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới đã đòi hỏi các nhà sản xuất và xuất khẩu của Việt Nam có nhận thức cao hơn về chất lượng hàng hóa, nâng cao năng suất kết hợp với bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường. Đồng thời, nhu cầu của thị trường trong nước cũng chuyển dần từ cung cấp đủ hàng hóa sang những yêu cầu cao hơn về chất lượng. Cùng với sự cạnh tranh toàn cầu ngày càng gay gắt, các yếu tố môi trường đang có nguy cơ bị lợi dụng trong thương mại quốc tế. Chính vì vậy, việc nâng cao hiểu biết về các SPST là vô cùng quan trọng đối với doanh nghiệp Việt Nam, bởi nó sẽ giúp cho doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp xuất khẩu nắm bắt được các thách thức về thương mại tại các thị trường nhập khẩu để có chiến lược kinh doanh thích hợp, khắc phục được các khó khăn tiềm tàng đan xảy ra trong tương lai có liên quan đến vấn đề môi trường. Ngoài ra, việc xóa bỏ các hàng rào thuế quan, tự do hóa thương mại làm cho các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển phải chú trọng đến các yếu tố môi trường. Mặc dù SPST không mang tính chất bắt buộc nhưng lại hướng đến mục tiêu rộng lớn, đó là thông qua nó sẽ làm biến đổi hành vi của toàn xã hội theo hướng thân thiện với môi trường.
Thực tế cho thấy, quá trình hội nhập đã, đang và sẽ dần loại bỏ các hàng rào thuế quan, và như thế các nước nhập khẩu hàng Việt Nam đã, đang và sẽ đưa ra hàng rào môi trường để khống chế hàng nhập khẩu. Ví dụ, đối với ngành dệt may nước ta, để xuất khẩu sang EU được 700 triệu USD/ năm đã phải vô cùng vất vả vượt qua rào cản ‘nhãn sinh thái’. Theo đó sợi, vải và quần áo thành phẩn xuất khẩu không được phép chứa những loại hóa chất (sử dụng trong công nghệ nhuộm sợi) mà EU cấm. Hay trong việc thực hiện Công ước CITES (Công ước về buôn bán quốc tế những loài động, thực vật có nguy cơ bị đe dọa) mà Việt Nam tham gia, ngành thủy sản không được khai thác những loài nằm trong “Sách đỏ” nếu muốn thâm nhập thị trường EU và Mỹ.
Ngoài ra, tình trạng ô nhiễm môi trường do sản xuất công nghiệp có nguy cơ gia tăng hàng năm về chất thải, nước thải và khí thải cũng ít nhiều tác động đến chất lượng sản phẩm, gây trở ngại cho doanh nghiệp khi tham gia xuất khẩu hàng hóa.
Cơ hội cho các doanh nghiệp
Cách tiếp cận mới trong quản lý môi trường hiện nay đang thu hút sự quan tâm của nhiều cơ quan, ban/ ngành và các cấp có liên quan. Một trong những nội dung quan trọng của cách tiếp cận này là chia sẻ thông tin môi trường với cộng đồng, xây dựng mối quan hệ hợp tác chặt chẽ giữa doanh nghiệp, cơ quan quản lý, cộng đồng trong việc bảo vệ môi trường, hướng tới phát triển bền vững.
Từ ngày 01 đến ngày 4/3/2008, Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng với sự giúp đỡ của Tổ chức Năng suất châu Á và sự bảo trợ của các Bộ: Khoa học và Công nghệ, Tài nguyên và Môi trường đã tổ chức Hội chợ triển lãm quốc tế về các SPST. Hội chợ tạo cơ hội cho các tập đoàn, công ty nước ngoài giới thiệu các sản phẩm và công nghệ sản xuất thân thiện với môi trường; thiết lập và phát triển quan hệ liên doanh, liên kết thúc đẩy đầu tư, xúc tiến thương mại và chuyển giao công nghệ mới; tạo diễn đàn mở rộng cho các doanh nghiệp Việt Nam và quốc tế cùng với cơ quan quản lý nhà nước, hiệp hội ngành hàng trao đổi kinh nghiệm, thảo luận nhằm tìm ra những nhân tố cho sự hợp tác, đầu tư và phát triển các SPST; tôn vinh và quảng bá các nhà sản xuất trong nước cùng với những sản phẩm mới mang thương hiệu Việt có chất lượng và uy tín cao trên thị trường. Thông qua đó, giúp người tiêu dùng tìm cho mình những sản phẩm chất lượng và các nhà cung cấp tin cậy.
Giải pháp chung đối với các doanh nghiệp
Do hạn chế về thông tin, về năng lực quản lý, công nghệ... nhiều doanh nghiệp Việt Nam vẫn chưa có sự chủ động đầu tư và phát triển các sản phẩm sinh thái, hơn nữa đây là một vấn đề hết sức mới mẻ nên cách thức cũng như khả năng tiếp cận còn nhiều hạn chế.
Về năng lực quản lý, để sản xuất ra các sản phẩm sinh thái yêu cầu các doanh nghiệp phải thay đổi phương thức quản lý môi trường theo cách tiếp cận hệ thống. Đây là một phương thức quản lý còn rất mới đối với các doanh nghiệp của ta, vì vậy, việc triển khai áp dụng sẽ gặp khó khăn, tron đó, việc nâng cao trình độ quản lý của các doanh nghiệp là điều rất cần thiết. Về kinh phí cho việc triển khai áp dụng nhãn sinh thái bao gồm các chi phí về hệ thống quản ý môi trường lẫn chi phí cho việc chứng nhận đăng ký nhãn sinh thái. Ngoài ra, còn một số chi phí khác nữa, vì vậy rất tốn kém, trong khi khả năng tài chính của các doanh nghiệp lại có hạn.
Một vấn đề khác là cơ sở pháp lý cũng như hệ thống các quy định đối với tiêu chuẩn môi trường và thương mại Việt Nam còn thiếu cập nhật, không đồng bộ và nhiều tiêu chuẩn quốc tế xây dựng vượt quá khả năng của doanh nghiệp. Vì vậy, vấn đề quan trọng hiện nay là việc các doanh nghiệp cùng phối hợp với các cơ quan nhà nước đi đầu trong việc xây dựng và thực hiện vấn đề này. Bên cạnh đó, nguồn nhân lực của Việt Nam còn trẻ, thiếu công nhân kỹ thuật có tay nghề cao, ý thức kỷ luật kém. Đây là vấn đề cần được quan tâm của các nhà doanh nghiệp để thường xuyên đào tạo, bồi dưỡng cập nhật các thông tin, khoa học, kỹ thuật tiên tiến trên thế giới, thực hiện các biện pháp nâng cao tay nghề công nhân, nâng cấp trình độ công nghệ.
Để doanh nghiệp Việt Nam có thể ổn định và phát triển mạnh mẽ hoạt động xuất nhập khẩu và nâng cao chất lượng hàng hóa sản xuất trong nước bên cạnh nỗ lực, hỗ trợ của các bộ ngành, sự cố gắng của Nhà nước trong việc hoàn thiện môi trường pháp lý thì hơn hết các doanh nghiệp Việt Nam cần chủ động hơn trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.








