Ra mắt dự thảo luật năng lượng nguyên tử: Văn hoá an toàn phải đặt lên hàng đầu
PV: Xin chào ông. Được biết, hiện nay ở Việt Nam, hiệu quả kinh tế xã hội mà NLNT đem lại ngày càng lớn. Vậy ông đánh giá như thế nào về tầm quan trọng của nguồn năng lượng mới này?
Ông Đoàn Năng : Như chúng ta đã biết, NLNT đang trở thành nguồn năng lượng quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của nhiều quốc gia. Những ứng dụng của NLNT ngày càng đa dạng, đóng góp hữu ích cho mọi mặt đời sống và sản xuất. Trong một số lĩnh vực, hiện chưa gì có thể thay thế được năng lượng hạt nhân. Nó trở thành công cụ, phương pháp hữu hiệu phục vụ công tác chẩn đoán và điều trị bệnh, thăm dò, khai thác tài nguyên và bảo quản lương thực, thực phẩm và góp phần nâng cao năng suất, chất lượng sản xuất công nghiệp.
Việc tăng cường ứng dụng NLNT vào nhiều lĩnh vực đời sống là yếu tố quan trọng nâng cao tiềm lực khoa học và công nghệ của đất nước và chất lượng cuộc sống của nhân dân. Tuy nhiên ở Việt nam công tác này còn những hạn chế nhất định, chưa tương xứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội. Hệ thống thiết bị công nghệ còn ở trình độ thấp, chủ yếu vẫn còn phụ thuộc vào việc nhập khẩu thiết bị và nguồn phóng xạ từ bên ngoài. Việc đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật và đào tạo đội ngũ cán bộ cũng chưa được chú ý.
Hiện nay, NLNT được ứng dụng rất rộng rãi, bao gồm hai mảng là năng lượng bức xạ và năng lượng hạt nhân. Năng lượng bức xạ được ứng dựng rất rộng rãi trong đời sống kinh tế xã hội và mang lại hiệu quả rất lớn. Năng lượng hạt nhân dùng chủ yếu để phát triển điện hạt nhân mà điện hạt nhân lại là một nguồn cung cấp năng lượng rất có hiệu quả bảo đảm an ninh cho năng lượng cho quốc gia. Những nguồn năng lượng khác như dầu hay khí đốt rồi sẽ cạn, giá cả thì hiện tại cũng rất bấp bênh. Những nguồn năng lượng khác như năng lượng mặt trời tuy sạch nhưng rất đắt nên sử dụng NLNT để phát triển điện là xu hướng mà các nước trên thế giới phát triển mạnh. Điển hình như Trung Quốc, họ đầu tư pháp triển mạnh nguồn điện từ NLNT để phục vụ nền sản xuất công nghiệp nặng đang phát triển ồ ạt và tiêu tốn rất nhiều năng lượng. Các nước Đông Nam Á cũng đang rất quan tâm đến lĩnh vực này. Dự tính đến năm 20020, Thái Lan sẽ có Nhà máy điện nguyên tử đầu tiên.
PV:Ông có thể cho biết từ thực tế nào mà chúng ta cần có sự ra đời của Luật NLNT?
Ông Đoàn Năng:Ngay từ những năm 90, Đảng và Nhà nước đã quan tâm chỉ đạo và ban hành các văn bản pháp luật về an toàn và kiểm soát bức xạ. Năm 1996, Pháp lệnh An toàn và kiểm soát bức xạ cũng được thông qua cùng một số nghị định, thông tư và Tiêu chuẩn Việt nam cũng được ban hành. Đây là những cơ sở tạo hành lang pháp lý cho hoạt động ứng dụng và phát triển NLNT ở Việt. Tuy nhiên, Pháp lệnh cũng như toàn bộ hệ thống pháp luật trong lĩnh vực này chưa có qui định nào về chính sách, biện pháp thúc đẩy phát triển ứng dụng bức xạ và đồng vị phóng xạ, phát triển điện hạt nhân. Nhiều qui định cũng đã bộc lộ rõ sự bất cập với yêu cầu phát triển, thủ tục hành chính chưa thông thoáng. Trong số các văn bản Luật hiện hành như Luật Khoáng sản, Luật Bảo vệ Môi trường cũng qui định một số nội dung liên quan đến chất phóng xạ và ngành công nghiệp hạt nhân nhưng chưa đủ bao quát hết các khía cạnh đặc thù của đối tượng này.
Việc xây dựng và ban hành một đạo luật chuyên ngành thống nhất về năng lượng nguyên tử là hết sức cần thiết trong hội nhập quốc tế, đáp ứng đòi hỏi mạnh mẽ về ứng dụng bức xạ và đồng vị phóng xạ cũng như phát triển điện hạt nhân phục vụ phát triển kinh tế xã hội.
Quan điểm chính được đưa ra là tạo dựng một môi trường pháp lý thuận lợi, đẩy mạnh việc ứng dụng kỹ thuật bức xạ, phát triển năng lượng nguyên tử vì mục đích hòa bình, đảm bảo thực hiện các cam kết quốc tế. Dự án Luật NLNT được xây dựng trên những nghiên cứu đánh giá về thực trạng hoạt động và công tác quản lý nhà nước về NLNT Việt Nam trong những năm qua, đồng thời, tham khảo tài liệu và những Điều ước quốc tế về NLNT Quốc tế.
Cần khẳng định rằng không có luật này thì khó thể có những bước tiếp theo để chuẩn bị cho việc xây dựng nhà máy điện nguyên tử đầu tiên ở Việt nam. Phải có luật đi trước để làm hạ tầng pháp lý và tổ chức năng lượng quốc tế cũng khuyến cáo chúng ta nên làm như vậy. Chúng ta không thể tùy tiện và chủ quan, được chăng hay chớ, mọi cái cần phải tuân thủ bài bản, có quy tắc.
PV:Nội dung cơ bản của Dự thảo Luật NLNT là gì, thưa ông?
Ông Đoàn Năng: Thông qua tài liệu hướng dẫn xây dựng luật Hạt nhân của cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA), Luật NLNT của một số nước như: Hàn Quốc, Nhật Pháp, Mỹ, Indonexia Malayxia, Úc, Ba Lan và một số điều ước quốc tế về năng lượng nguyên tử có liên quan, đồng thời tiến hành nghiên cứu, đánh giá thực trạng hoạt động và thực tiễn công tác quản lý nhà nước về năng lượng nguyên tử trong những năm qua. Bộ KH&CN đã xây dựng nội dung Dự án luật NLNT gồm 11 chương với 84 điều: quy định về phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng, giải thích từ ngữ, áp dụng pháp luật và điều ước quốc tế, nguyên tắc hoạt động và chính sách của nhà nước, nội dung quản lý nhà nước hợp tác quốc tế trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử và các hành vi bị cấm; quy hoạch và kế hoạch phát triển ứng dụng năng lượng nguyên tử như căn cứ và yêu cầu đối vối quy hoạch, nội dung quy hoạch, xây dựng, thẩm định, phê duyệt và điều chỉnh quy hoạch phát triển ứng dụng năng lượng nguyên tử; cùng nhiều quy định về các biện pháp đảm bảo an toàn đối với bức xạ cũng như trách nhiệm của các cá nhân và tổ chức trong vấn đề này.
PV:Xin ông cho biết những thuận lợi và khó khăn trong quá trình xây dựng dự án Luật NLNT?
Ông Đoàn Năng: Về thuận lợi, chúng ta cũng đã có một thực tiễn hàng chục năm nay trong việc ứng dụng năng lượng bức xạ vào đời sống kinh tế - xã hội. Ban soạn thảo cũng kế thừa, phát triển những nội dung còn phù hợp của Pháp lệnh An toàn và kiểm soát bức xạ năm 1996 và các văn bản khác có liên quan đã được thực tiễn kiểm nghiệm để hoàn thiện Dự án Luật NLNT. Bên cạnh đó, nhận thức của các cấp, các ngành cũng đã được nâng cao thêm một bước, chúng ta cũng đã có một thời gian tự ý thức trong khi thực hiện Pháp lệnh về an toàn bức xạ. Chúng ta cũng có trợ giúp quốc tế có hiệu quả trong việc này, ví dụ các tổ chức quốc tế giúp chúng ta đào tạo nhân lực chuyên ngành.
Phải công nhận, chúng ta cũng còn rất nhiều khó khăn gặp phải khi soạn thảo và ứng dụng luật này. Nhận thức của nhân dân và của cán bộ về pháp luật trong lĩnh vực này còn hạn chế do đây là một vấn đề rất mới trong xã hội ta. Chính vì thế, chúng ta sẽ phải rất nỗ lực trong việc làm công tác tuyên truyền, phổ biến hướng dẫn mọi người thực hiện việc này một cách đầy đủ và chính xác. Đây là một việc làm lâu dài chứ không phải chỉ một chốc một loáng vì nó liên quan đến nhận thức của con người. Tác phong của con người Việt trong điều kiện sản xuất vẫn chưa hoàn toàn công ngiệp. Chúng ta còn mang nặng dấu ấn của nền sản xuất nhỏ nên tác phong chư chính quy, chưa nền nếp, bản tính đó có thể nói chưa thích hợp với những lĩnh vực mang nhiều rủi ro như lĩnh vực này. Văn hoá an toàn của chúng ta cần phải đặc biệt chú trọng.
Cho đến thời điểm hiện nay Ban soạn thảo Dự án đã hoàn thành được cơ bản nôi dung, và đang tiến hành xin ý kiến các Bộ ngành liên quan. Dự thảo hiện nay đã đủ điều kiện để “tung” ra cho tất cả mọi người cùng góp ý, hoàn thiện. Sau khi các Bộ ngành đã có ý kiến chúng tôi sẽ tiến hành chỉnh sửa lại và trình lên Chính phủ cho ý kiến. Nếu Chính phủ chấp thuận thì sẽ tiếp tục trình Quốc hội để tiến hành thông qua.Theo dự kiến, đến cuối năm 2007 sẽ có thể trình Quốc hội. Từ nay cho đến khi trình Quốc hội, chúng tôi còn đủ thời gian để hoàn thiện nội dung Dự thảo. Đến khoảng giữa năm 2008 chắc chắn Luật NLNT sẽ chính thức có hiệu lực. Bộ KH&CN trong thời gian này sẽ Dự thảo luôn một số Nghị định kèm theo Dự thảo Luật để hướng dẫn thực hiện.
Văn bản này chúng tôi đã soạn thảo từ năm 2003, thời gian này chúng tôi gấp rút thực hiện để hoàn thiện, nhưng vì đây là nội dung luật phức tạp nên chúng tôi cũng cần có thời gian để nghiên cứu giải quyết những vấn đề lý luận, thực tiễn
Hy vọng, với những sự chuẩn bị kỹ lưỡng như thế này Luật NLNT sẽ được áp dụng vào thực tế một cách suôn sẻ và có hiệu quả.








